Tải bản đầy đủ (.docx) (29 trang)

Câu 1 trình bày những quan điểm về CÔNG NGHIỆP hóa HIỆN đại hóa của đảng trong thời kì đổi mới quan điểm nào là quan trọng nhất tại sao

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (138.2 KB, 29 trang )

NHÓM 3

PHỤ LỤC

Câu 1: Trình bày những quan điểm về CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA
của Đảng trong thời kì đổi mới. Quan điểm nào là quan trọng nhất? Tại sao?

Câu 2: Trình bày hiểu biết của nhóm về những nhân tố để thành công trong tương
lai của sinh viên Ngoại Ngữ khi ra trường. Nhân tố nào là quan trọng nhất? Tại
sao?


Câu 1: Trình bày những quan điểm về CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI
HÓA của Đảng trong thời kì đổi mới. Quan điểm nào là quan trọng nhất? Tại
sao?
I. QUAN ĐIỂM CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA.
1.Công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa và công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn
với phát triển kinh tế tri thức.
Từ thế kỷ XVII, XVIII, các nước Tây Âu đã tiến hành công nghiệp hóa. Khi đó,
công nghiệp hóa được hiểu là quá trình thay thế lao động thủ công bằng lao động
sử dụng máy móc. Nhưng trong thời đại ngày nay, Đại hội X của Đảng nhận định:
" Khoa học và công nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt và những đột phá lớn". Kinh tế
tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản
xuất.Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại tác động sâu rộng tới mọi
lĩnh vực của đời sống xã hội.Bên cạnh đó, xu thế hội nhập và tác động của quá
trình toàn cầu hóa đã tạo ra nhiều cơ hội cũng như thách thức đối với đất nước.
Trong bối cánh đó, nước ta cần phải và có thể tiến hành công nghiệp hóa theo kiểu
rút ngắn thời gian khi biết lựa chọn con đường phát triển kết hợp công nghiệp hóa
với hiện đại hóa.
Nước ta thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa khi trên thế giới kinh tế tri thức đã
phát triển.Chúng ta có thể và cần thiết không trải qua các bước phát triển tuần tự từ


kinh tế nông nghiệp lên kinh tế công nghiệp rồi mới phát triển kinh tế tri thức.Đó
là lợi thế của các nước đi sau, không phải là nóng vội duy ý chí. Vì vậy, Đại hội X
của Đảng chỉ rõ: đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế
tri thức, coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và của công nghiệp
hóa, hiện đại hóa.
Đại hội XI của Đảng nhấn mạnh thêm: "Thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức và bảo vệ tài nguyên, môi trường, xây
dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, hiện đại, có hiệu quả và bền vững, gắn chặt chẽ công
nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ".
Kinh tế tri thức là gì? Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đưa ra định
nghĩa: Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri
thức giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng
cao chất lượng cuộc sống. Trong nền kinh tế tri thức, những ngành kinh tế có tác


động to lớn tới sự phát triển là những ngành dựa nhiều vào tri thức, dựa vào các
thành tựu mới của khoa học, công nghệ. Đó là những ngành kinh tế mới dựa trên
công nghệ cao như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học và cả những ngành
kinh tế truyền thống như nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ được ứng dụng khoa
học, công nghệ cao.
2. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế thị trường, định
hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế .
Kinh tế thị trường là 1 kiểu tổ chức kinh tế xã hội trong đó quá trình sản xuất phân
phối trao đổi tiêu dùng đều được thực hiện thông qua thị trường.
Kinh tế thị trường định hướng XHCN thực chất là kiểu tổ chức nền kinh tế XHCN
vừa dựa trên những nguyên tắc và quy luật của kinh tế thị trường vừa dựa trên
những nguyên tắc và bản chất của CNXH.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được thể hiện qua 3 luận điểm.Thứ
nhất là chế độ đa sở hữu đa thành phần kinh tế. Thứ hai, kết hợp nhiều hình thức
phân phối trong đó phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chính.

Ba là, Nhà nước XHCN là nhà nước của dân do dân vì dân thực hiện chức năng
quản lí nền kinh tế thị trường dưới sự lãnh đạo của ĐCS Việt Nam.
Quan điểm công nghiệp hóa , hiện đại hóa gắn với phát triển nền kinh tếthị trường
định hướng XHCN & hội nhập kinh tế quốc tế:Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập tựchủ, đưa nước ta trở thành một nước công
nghiệp.Nhiệm vụ trung tâm của cách mạng nước ta trong suốt thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội, không qua chế độ tư bản chủ nghĩa là phải xây dựng cơ sở vật
chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, trong đó có công nghiệp và nông nghiệp
hiện đại, văn hoá và khoa học tiên tiến. Muốn thực hiện thành công nhiệm vụquan
trọng đó, nhất thiết phải tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tức làchuyển nền
kinh tế nông nghiệp lạc hậu thành nền kinh tế công nghiệp vănminh.Thực chất của
công nghiệp hoá, hiện đại hoá là chuyển toàn bộ nền sảnxuất xã hội từ lao động thủ
công là chính sang lao động với phương tiện vàphương pháp tiên tiến có năng suất
cao.Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân trong bối cảnh toàncầu
hoá kinh tế, chúng ta phải xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ. Nền kinh tế độc
lập, tự chủ, trước hết là độc lập, tự chủ về đường lối, chủ trương, chínhsách phát


triển kinh tế - xã hội, không lệ thuộc vào những điều kiện kinh tế -chính trị do
người khác áp đặt, đồng thời có tiềm lực kinh tế đủ mạnh, có mứctích luỹ ngày
càng cao từ nội bộ nền kinh tế…có năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ,
bảo đảm an ninh lương thực, an toàn năng lượng, tài chính, môitrường…Xây dựng
nền kinh tế độc lập, tự chủ đi đôi với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu
vực, từ đó phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp
theo hướng hiện đại.Ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng
quan hệ sảnxuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa.Theo quy luật chung
nhất về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tínhchất và trình độ của lực lượng sản
xuất thì bất cứ sự thay đổi nào của quan hệsản xuất, cũng đều là kết quả tất yếu sự
phát triển của lực lượng sản xuất.Trong suốt cả quá trình thực hiện công cuộc đổi
mới, Đảng và Nhà nước ta rất chú trọng ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất,

nhiều ngành kinh tế được đầu tư, từng bước hiện đại. Mặt khác, chúng ta cũng
không coi nhẹ việc xâydựng và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới phù hợp.Thực tế
những năm vừa qua,trong nông nghiệp, nông thôn, sự thích ứng giữa trình độ phát
triển của lựclượng sản xuất với quan hệ sản xuất mới đã tạo ra những bước phát
triển quantrọng trong khu vực kinh tế này.Phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh
thủ nguồn ngoại lực và chủ độnghội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có
hiệu quả và bền vững.Trong bối cảnh khu vực hoá và toàn cầu hoá kinh tế, Đảng ta
chỉ rõ phải pháthuy cao độ nội lực, coi nội lực là quyết định, nhưng không được
coi nhẹ nguồnngoại lực, tranh thủ nguồn vốn, khoa học và công nghệ, kinh nghiệm
quản lý…được xem là nguồn bổ sung quan trọng cho sự phát triển của đất
nước.Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế giúp chúng ta rút ngắn khoảng cáchchênh
lệch với các nước trong khu vực và trên thế giới, thuận lợi trong việc mởrộng thị
trường tiêu thụ hàng hoá trong nước (những mặt hàng có lợi thế).
Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền
vững,điều này cần phải được quán triệt trong tất cả các ngành, các lĩnh vực của nền
kinh tế quốc tế và khu vực, từ đó phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bảntrở
thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.Ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất,
đồng thời xây dựng quan hệ sảnxuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ
nghĩa.Theo quy luật chung nhất về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tínhchất và
trình độ của lực lượng sản xuất thì bất cứ sự thay đổi nào của quan hệ sản xuất,
cũng đều là kết quả tất yếu sự phát triển của lực lượng sản xuất.


Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn liền với hội nhập kinh tế quốc tế bảo đảm kết
hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ vững chắc độc lập tự chủ của đất nước. Kết hợp
sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại và phù hợp với đặc điểm thời đại, phối
hợp với xu hướng quốc tế hóa, khu vực hóa kinh tế,khai thác những ưu thế về vốn
công nghiệp thị trường của thế giới, đẩy nhanh sự tăng trưởng kinh tế, hiện đại hóa
đất nước.
3. Lấy phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh

và bền vững.
Thời kì phát triển mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa,bên cạnh các yếu tố như vốn,khoa học và công nghệ, cơ
cấu kinh tế, chúng ta phải lấy việc phát huy nguồn lực con người Việt Nam hiện
đại làm yếu tố cơ bản cho việc phát triển nhanh và bền vững.
Nguồn lực con người là tổng thể những yếu tố thuộc về thể chất, tinh thần, đạo
đức,trình độ tri thức,…tạo nên năng lực của con người,của cộng đồng người có thể
sử dụng, phát huy trong quá trình phát triển kinh tế -xã hội của đất nước và trong
những hoạt động xã hội. Con người trở thành yếu tố cơ bản và quyết định bởi các
nguồn lực khác không có khả năng tự thân mà phải thông qua con người mới phát
huy được tác dụng. Bên cạnh đó các nguồn lực khác dùng thì hết, còn nguồn lực
con người càng dùng càng phát triển. Chính bởi vậy,việc phát huy nguồn lực con
người cần được đặc biệt chú ý, đặc biệt được thể hiện rõ qua quan điểm của Đảng
và nhà nước trong việc phát huy nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa :
+ Để phát huy được nguồn lực con người thì trong sự nghiệp đổi mới đất nước
hiện nay thì phải xây dựng nguồn lực con người trên 4 nội dung cơ bản sau: xây
dựng con người về mặt thể chất, về mặt trình độ chuyên môn nghề nghiệp, tri thức
khoa học, về bản lĩnh chính trị, về mặt đạo đức lối sống.
+ Để phát huy được nguồn lực con người thì phải có chính sách giải quyết đứng
đắn các quan hệ lợi ích cho con người và phải kết hợp hài hòa các lợi ích giữa lợi
ích xã hội và lợi ích tập thể và lợi ích chính đáng của cá nhân người lao động.
Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay thì lợi ích chính đáng của người lao


động phải được đặt ra và giải quyết trực tiếp, nhằm mang lại sự công bằng hơn về
cơ hội phát triển cũng như việc hưởng thụ các lợi ích của sự phát triển.
+Bên cạnh đó về mặt xã hội phải thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, xóa đói
giảm nghèo, lấy chỉ số phát triển con người làm mục tiêu cao nhất của sự phát triển
xã hội. Ở đây, vị trí trung tâm của con người nổi lên với tư cách là mục tiêu cao

nhất của sự phát triển xã hội. Mục tiêu của phát triển bền vững không phải là tạo ra
nhiều hàng hóa, của cải mà nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống con người, không
phân biệt tầng lớp, chủng tộc, giới tính, vùng miền . Để phát triển con người một
cách bền vững, hay làm tăng năng lực và phạm vi lựa chọn của con người để họ có
một cuộc sống đầy đủ và hạnh phúc.
Sự công nghiệp hóa hiện đại hóa nước ta đòi hỏi phải có nguồn nhân lực, vốn và
tài nguyên. Đối với Việt Nam cả hai nguồn lực tài chính và tài nguyên thiên nhiên
đều rất hạn chế nên nguồn lực con người đóng vai trọng . Nguồn nhân lực Việt
Nam đang phát triển dồi dào. Trong đó số người trong độ tuổi lao động tăng nhanh
và chiếm tỉ lệ khá cao khoảng 79% dân số cả nước, đang ở thời kì dân số vàng. Rõ
ràng Việt Nam đang có cơ hội “ vàng” khi sử dụng một lực lượng trẻ trong giai
đoạn tăng trưởng kinh tế như hiện nay.
Hiện nay ở Việt Nam có thể thấy nguồn nhân lực có những đặc điểm sau:
- Nguồn nhân lực khá dồi dào, nhưng chưa được quan tâm đúng mức, chưa được
quy hoạch, khai thác, đào tạo hiệu quả, đúng cách.
- Tỷ trọng lao động trong nông nghiệp còn cao, lao động thiếu việc làm và không
làm còn nhiều .
- Chất lượng nguồn nhân lực chưa cao, dẫn đến tình trạng mâu thuẫn giữa chất và
lượng.
- Cơ cấu phân bố lao động theo ngành nghề và vùng miền mất cân đối.
- Sự kết hợp và bổ sung , đan xen giữa nguồn nhân lực từ nông dân ,công nhân, trí
thức …chưa tốt, còn chia cắt, thiếu sự cộng lực để cùng phối hợp thực hiện sự
nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.


Trước thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam như vậy, ta cần có những biện pháp cụ
thể và nhanh chóng để phát triển nguồn lực, góp phần thúc đẩy sự nghiệp hiện đại
hóa, công nghiệp hóa đất nước. Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực ở nước
ta như sau :
- Phải xác định rõ nguồn nhân lực là tài nguyên quý giá nhất của Việt Nam trong

công cuộc đổi mới và phát triển đất nước. Điều này đã được làm rõ qua câu nói “
Hiền tài là nguyên khí quốc gia” hay như lời dạy của chủ tịch Hồ Chí Minh “ Vì
lợi ích mười năm trồng cây , vì lợi ích trăm năm trồng người”.
- Không ngừng nâng cao chính sách chăm sóc sức khỏe người dân, chính sách
lương thưởng, bảo đảm an sinh xã hội. Chất lượng con người trước hết phải tính
đến chất lượng sinh đẻ. Không thể nói đến việc phát triển nguồn nhân lực khi sinh
ra những đứa trẻ còi cọc, ốm yếu. Khi có chất lượng con người, phải tính đến chất
lượng cuộc sống, có nghĩa là phải nuôi dưỡng về vật chất và tinh thần con người
sinh ra, bảo đảm cho họ có thể lực dồi dào, có trí tuệ minh mẫn.
- Phát triển giáo dục, đào tạo, không ngừng nâng cao trình độ học vấn, tay nghề
hiểu biết pháp luật. Nhà nước phải có kế hoạch phối hợp tạo nguồn nhân lực từ ác
dụng các nguồn nhân lực phù hợp, giảm thiểu thất nghiệp cũng như các chi phí
phát sinh khác.
- Đặc biệt cần đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương pháp giáo dục, đào tạo.Đổi
mới công tác quản lí giáo dục, đào tạo một cách cơ bản và toàn diện cả về tư duy
lẫn phương thức quản lí.Đầu tư hợp lí và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực cho
giáo dục và đào tạo, đưa ngành giáo dục thoát khỏi tình trạng chậm phát triển so
với khu vực và thế giới.
- Xây dựng chiến lược nguồn nhân lực gắn với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội,
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế, xác định rõ xây
dựng nguồn nhân lực là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị.
- Nhà nước có kế hoạch phối hợp đào tạo nguồn nhân lực từ công nhân , nông dân,
trí thức, có kế hoạch khai thác, đào tạo và bồi dưỡng, sử dụng các nguồn nhân lực
cho đúng.


- Đảng và nhà nước có chính sách rõ ràng, đúng đắn đối với việc sử dụng và bồi
dưỡng nhân tài, trọng dụng nhân tài, đặc biệt là các nhà khoa học và các nhà
chuyên gia thật sự có tài năng, cống hiến.
- Chính phủ cần có những quyết định đúng đắn về việc được phép đầu tư vào cái gì

trong nguồn nhân lực, cải thiện chính sách tiền tệ và tài chính, phát triển cơ sở hạ
tầng, hiện đại hóa giáo dục.
- Cải thiện thông tin về nguồn nhân lực theo hướng rộng rãi và dân chủ, làm cho
mọi người thấy được tầm quan trọng của phát triển nguồn nhân lực của nước ta và
trên thế giới. Mở những đợt tuyên truyền rộng rãi về nguồn nhân lực, chất lượng
sinh sống, thông tin về học tập, giáo dục ngành nghề cho các tầng lớp nhân dân,
nhất là thanh niên, học sinh.
- Mỗi cá nhân cũng phải tự nhận thức được giá trị của bản thân, tự mình đánh giá
năng lực của bản thân, tìm ra được điểm mạnh điểm yếu của bản thân để từ đó
khắc phục điểm yếu và phát huy những điểm mạnh.
Bên cạnh đó, là một con người của thời đại mới, chúng ta nên chủ động hơn trong
việc học hỏi những điều mới từ mọi người, tham gia vào các hoạt động xã hội
nhằm tăng vốn hiểu biết và các mối quan hệ.Ngoài ra, trong khi nguồn lực đất
nước ta còn nhiều hạn chế, sự cạnh tranh từ các quốc gia trong thời kỳ hội nhập
ngày càng gay gắt và khốc liệt, nếu chúng ta không có tinh thần sẻ chia, đoàn kết,
giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, thì sớm muộn gì nền kinh tế nước nhà cũng bị lệ thuộc
vào các nước lớn. Bởi vậy mỗi cá nhân cần cố gắng tự hoàn thiện mình, góp phần
vào việc thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Bước sang thế kỉ 21, xã hội đã chú trọng hơn nhiều về vấn đề văn hóa, con người,
các vấn đề kinh tế - xã hội và các vấn đề mang tính toàn cầu. Tất cả đều tập trung
vào mục tiêu phát triển con người bền vững. Con người có phát triển tốt thì mới có
thể toàn lực xây dựng một xã hội văn minh, hiện đại, một đất nước giàu đẹp và bền
vững.
4. Khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực của công nghiệp hoá, hiện
đại hoá


Thế giới đã bước vào thế kỷ 21 với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học -công
nghệ( KHCN). Ngày nay khoa học công nghệ được ứng dụng rất nhiều vào cuộc
sống của con người. Ứng dụng tri thức KHCN trong phát triển kinh tế là một

hướng đi đúng bởi hầu hết các nước phát triển hiện nay đều có nền kinh tế phát
triển nhờ việc ứng dụng KHCN. Đối với Việt Nam đang trong quá trình phát triển
nền kinh tế theo định hướng XHCN, mặc dù đã đạt được những thành tựu to lớn
trong 15 năm đổi mới vừa qua, song nền kinh tế vẫn còn kém phát triển so với các
nước khu vực và thế giới, đồng thời đang gặp phải những thách thức không nhỏ:
đó là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực do xuất
phát của Việt Nam quá thấp, lại phải phát triển trong môi trường cạnh tranh quyết
liệt. Vậy làm thế nào để kinh tế việt nam có thể bắt kịp với sự phát triển kinh tế ở
các nước bạn?
Có thể nói, cuộc chạy đua phát triển kinh tế - xã hội trên thế giới hiện nay thực
chất là cuộc chạy đua về khoa học, công nghệ, chạy đua nâng cao chất lượng và
hiệu quả lao động trên cơ sở hiện đại hóa nguồn nhân lực.Cương lĩnh xây dựng đất
nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) cũng đã
xác định: “KHCN giữ vai trò then chốt trong việc phát triển lực lượng sản xuất
hiện đại, bảo vệ tài nguyên và môi trường, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu
quả, tốc độ phát triển và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Phát triển KHCN nhằm
mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước”.
KHCN có vai trò quyết định đến tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất,
nâng cao lợi thế cạnh tranh và tốc độ phát triển kinh tế nói chung.
Tương tự như nhiều nước khác, quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá ở nước ta
cũng có mục đích và nhiệm vụ trước tiên là phải phát triển sản xuất. Tuy nhiên từ
một nước công nghiệp còn nghèo nàn, lạc hậu để có thể đi vào nền sản xuất hiện
đại, chúng ta cần tiến hành một quá trình chuyển đổi căn bản và toàn diện tất cả
các hoạt động xã hội, trước hết là hoạt động sản xuất – từ chủ yếu là lao động thủ
công, sang chủ yếu là lao động có kỹ thuật – nhằm nâng cao năng suất lao động xã
hội. Điều này đã được khẳng định tại Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung
ương khoá VII, khi Đảng ta chủ trương gắn quá trình công nghiệp hoá với hiện đại
hoá “ Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các
hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ sử dụng lao



động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với
công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển
của công nghiệp và tiến bộ KHCN, tạo ra năng suất lao động xã hội cao. Như vậy,
CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản và toàn diện nền sản xuất xã hội từ sử
dụng lao động thủ công là chính với năng suất, chất lượng và hiệu quả thấp sang sử
dụng lao động được đào tạo ngày càng nhiều hơn cho năng suất chất lượng và hiệu
quả cao hơn dựa trên phương pháp sản xuất công nghiệp, vận dụng những thành
tựu mới của KHCN tiên tiến.
Tiếp theo, KHCN có vai trò quyết định trong việc trang bị máy móc, trang bị kỹ
thuật, công nghệ hiện đại, tiên tiến cho nền sản xuất xã hội nói riêng, cho tất cả các
ngành kinh tế quốc dân nói chung nhằm tăng cường sức cạnh tranh của các sản
phẩm hàng hoá Việt Nam trên thị trường thế giới,..v.v… với mục tiêu không ngừng
cải thiện và nâng cao mức sống của người dân, sự phồn vinh và sức mạnh của xã
hội Việt Nam.Trên thực tế, nước ta đã tiến hành công nghiệp hoá từ đầu những
năm 60 của thế kỷ XX.Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân chủ quan và khác quan,
đặc biệt là chưa gắn kết được với công nghiệp hoá, hiện đại hoá, mà cho đến nay
lực lượng sản xuất của nước ta vẫn chủ yếu ở trong tình trạng lạc hậu, các trang
thiết bị chủ yếu là thủ công, thủ công bán cơ giới. Nhìn chung trình độ phát triển
công nghệ ở nước ta chỉ mới đạt ở giai đoạn 1 và 2 trong 7 giai đoạn phát triển
công nghệ mà các nước công nghiệp phát triển đã phải trải qua – đó là nhập công
nghệ để thoả mãn nhu cầu tối thiểu ( nhập toàn bộ hoặc nhập phụ tùng các trang
thiết bị và cả rây chuyền lắp ráp), và mới chỉ có tổ chức hạ tầng kinh tế ở mức tối
thiểu để tiếp thu công nghệ nhập. Do vậy, cả năng suất lao động và chất lượng sản
phẩm do nền sản xuất xã hội tạo ra vẫn còn rất thấp so với mặt bằng chung của thế
giới, không đủ sức cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.
CNH, HĐH cũng là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh
các ngành sản xuất có hàm lượng KHCN cao, giá trị gia tăng cao. Thực chất và nội
dung cơ bản của CNH, HĐH là sáng tạo và ứng dụng tri thức do giáo dục - đào tạo
và KHCN tạo ra vào phát triển kinh tế - xã hội, tạo nên sự phát triển nhanh và bền

vững của đất nước.
Vì vậy, với tư cách là một thành tố cơ bản của nền văn hóa dân tộc, KHCN có một
vị trí trọng yếu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phát triển giáo dục -


đào tạo cùng với phát triển KHCN là quốc sách hàng đầu, không chỉ có ý nghĩa lớn
lao trong lĩnh vực sản xuất vật chất, mà còn là cơ sở để xây dựng nền văn hóa tinh
thần của chế độ xã hội chủ nghĩa.
Theo quan điểm của Đảng thì KHCN là quốc sách hàng đầu có nghĩa là chủ
trương, chính sách phát triển đất nước, kinh tế - xã hội cũng như bảo vệ Tổ quốc
đều phải dựa vào KHCN và thực hiện bằng KHCN. Chỉ có phát triển KHCN,
chúng ta mới phát triển được kinh tế - xã hội, giữ vững được độc lập dân tộc, xây
dựng thành công chủ nghĩa xã hội.Để KHCN nhanh chóng phát huy được vai trò là
nền tảng và động lực đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, Đảng, Nhà nước luôn có
những chính sách quan tâm đặc biệt đến phát triển KHCN.
KHCN là nội dung then chốt trong mọi hoạt động của tất cả các ngành, các cấp, là
nhân tố chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và củng cố quốc phòng an ninh. Hoạt
động KHCN không chỉ là nhiệm vụ của các nhà KHCN, các nhà quản lý khoa học
mà là công việc của mọi ngành, mọi cấp, mọi người... Mọi hoạt động kinh tế - xã
hội đều đòi hỏi phải có nội dung KHCN để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu
quả.Mọi hành động phải xác định cơ sở khoa học của nó, phải điều tra, nghiên cứu,
tìm ra quy luật, dự báo sự phát triển, đề xuất các giải pháp phù hợp với quy luật
khách quan.
Các chủ trương, quyết định, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội quan
trọng phải có luận cứ xác đáng về KHCN. Các nhiệm vụ KHCN phải hướng vào
giải quyết có hiệu quả các mục tiêu kinh tế - xã hội. Mọi ngành, mọi cấp phải đẩy
mạnh việc triển khai nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi thành tựu KHCN vào hoạt
động kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, từ việc định hướng chiến lược phát
triển, hoạch định chính sách, xây dựng quy hoạch, kế hoạch đến việc tổ chức thực
hiện.

Đặc biệt, trong sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn, cần phải làm thay
đổi tư duy, cách nghĩ, cách làm, nhanh chóng ứng dụng khoa học kỹ thuật, tạo ra
các ngành nghề mới, các sản phẩm mới, tạo nên sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Bên cạnh đó, phải đẩy mạnh việc chọn lọc nhập
công nghệ, mua sáng chế kết hợp với phát triển công nghệ nội sinh để nhanh chóng
đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ, nhất là công nghệ thông tin, công nghệ
sinh học và công nghệ vật liệu mới.


Phát triển KHCN không phải chỉ nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà còn nhằm
bảo vệ môi trường sinh thái, giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với
phát triển văn hóa, bảo vệ môi trường ngay trong từng bước đi và từng chính sách
phát triển.
5. Phát triển nhanh và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn
hoá, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.
5.1. Phát triển kinh tế phải nhanh và bền vững
Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta thực chất là nhằm thực hiện mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Để thực hiện mục tiêu đó, trước
hết kinh tế phải phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững.
Thế giới ngày nay, sau sự sụp đổ của nhiều mô hình quản lý kinh tế với những
cuộc khủng hoảng mang tính toàn cầu, với hàng loạt sự trả giá của con người do
phát triển kinh tế không được đặt trong tổng thể gắn với văn hóa – môi trường
sống, đã đặt ra cho nhân loại một bài toán mới: phát triển bền vững.
Khái niệm phát triển bền vững và quan điểm về phát triển bền vững đến nay còn có
nhiều cách tiếp cận khác nhau tùy thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội ở mỗi quốc
gia, khu vực. Nhưng, hiểu một cách chung nhất thì phát triển bền vững là một khái
niệm nhằm định nghĩa một sự phát triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn bảo đảm
sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa. Phát triển bền vững phải bảo đảm có sự
phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ.
Đối với Việt Nam, phát triển bền vững hiểu khái quát là sự cân bằng giữa 3 vấn đề:

tăng trưởng - bảo vệ môi trường - bảo đảm an sinh xã hội.
Văn kiện Đại hội XI đã nêu quan điểm của Đảng về phát triển bền vững là:
- Coi chất lượng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh là yêu cầu ưu tiên hàng đầu,
chú trọng phát triển theo chiều sâu, phát triển kinh tế tri thức.
- Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ
và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống.


- Phát triển kinh tế - xã hội phải luôn coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường, chủ
động ứng phó với biến đổi khí hậu.
Như vậy, phát triển bền vững là một tiêu chí không thể thiếu trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Chỉ có như vậy mới có khả năng
xoá đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, phát triển
văn hoá, giáo dục, y tế, rút ngắn khoảng cách chênh lệch giữa các vùng…
5.2. Phát triển kinh tế hài hòa với phát triển văn hóa, gắn với tiến bộ và công bằng
xã hội là yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Ngay tại Đề cương văn hóa Việt Nam năm 1943, Đảng ta đã nhận định: “văn hóa là
một trong ba mặt trận mà người cộng sản phải quan tâm”. Chủ tịch Hồ Chí Minh,
vị lãnh tụ - nhà văn hóa vĩ đại của dân tộc, cũng từng nhấn mạnh: “Văn hóa soi
đường cho quốc dân đi”. Đến Hội nghị Trung ương 5, Khóa VIII, Đảng ta khẳng
định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội, vừa là động lực vừa là mục tiêu thúc
đẩy phát triển kinh tế - xã hội”. Hội nghị Trung ương 10, Khóa IX tiếp tục phát
triển: “Đảm bảo sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng,
chỉnh đốn đảng là then chốt với không ngừng nâng cao văn hoá - nền tảng tinh thần
của xã hội; tạo nên sự phát triển đồng bộ cả ba lĩnh vực trên chính là điều kiện
quyết định để bảo đảm cho sự phát triển toàn diện bền vững của đất nước”. Cương
lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát
triển năm 2011) đã chỉ rõ: “Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần
nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn

bộ đời sống xã hội, trở thành sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển”.
Như vậy, xuyên suốt các quan điểm của Đảng về vị trí, vai trò của văn hóa trong sự
nghiệp cách mạng có thể khái quát mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với phát
triển văn hóa là:
- Văn hóa là động lực của phát triển. Văn hóa với tư cách là sức mạnh mềm - sức
mạnh nội sinh, nền tảng tinh thần của một dân tộc, đóng vai trò to lớn thúc đẩy sự
phát triển của cả dân tộc nói chung và của nền kinh tế nói riêng.


- Văn hóa là mục tiêu của phát triển kinh tế - xã hội. Đối với Việt Nam, mục đích
tối cao của phát triển kinh tế - xã hội là nhằm phục vụ công cuộc cách mạng xã hội
chủ nghĩa, công cuộc cách mạng giải phóng con người.Mục tiêu của cách mạng xã
hội chủ nghĩa, xét cho cùng, chính là để giải phóng những giá trị văn hóa tích cực
nhất cho loài người.Mặt khác, phát triển kinh tế đồng thời giúp cho con người có
nhiều cơ hội, khả năng tiếp nhận các giá trị văn hóa.Phát triển kinh tế nhằm mục
tiêu văn hóa chính là “đặc sắc” của cách mạng xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Mục tiêu cụ thể của cách mạng xã hội chủ nghĩa Việt Nam là: xã hội dân chủ, công
bằng, văn minh - những kết quả, giá trị to lớn nhất của văn hóa. Cách mạng để giải
phóng con người, để con người có thể tồn tại trong một xã hội ngày càng dân chủ,
công bằng văn minh hơn. Đối với cách mạng nước ta, các giá trị kinh tế trước hết
và tối cao nhất là để phục vụ cho con người đạt được các giá trị văn hóa, nhằm
thực hiện tiến bộ và công bằng.
Công bằng xã hội là một khái niệm rộng bao gồm cả yếu tố kinh tế, chính trị, văn
hóa, xã hội và phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội sẽ có những định nghĩa
riêng. Xét chung nhất, công bằng xã hội là sự công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ
của công dân, công bằng trong phân phối thu nhập, cơ hội phát triển... Một số công
cụ để “đo” công bằng xã hội là: Chỉ số phát triển con người (HDI); Hệ số GINI;
mức độ nghèo khổ; Mức độ thỏa mãn nhu cầu cơ bản của con người...
Tiến bộ xã hội là sự vận động phát triển của xã hội con người từ thấp lên cao; là sự
phát triển của trình độ sản xuất, lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất.

Mọi quan điểm của Đảng đều khẳng định phát triển kinh tế phải gắn liền với tiến
bộ và công bằng xã hội... Đại hội X của Đảng đã nêu: “Thực hiện tiến bộ và công
bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh
tế đi đôi với phát triển văn hóa, y tế, giáo dục..., giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì
mục tiêu phát triển con người. Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả
lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực
khác và thông qua phúc lợi xã hội”. Đảng luôn khẳng định, giữa tăng trưởng kinh
tế và tiến bộ, công bằng xã hội có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại, làm
tiền đề cho nhau cùng phát triển: Tăng trưởng kinh tế là điều kiện tiền đề để thực
hiện công bằng xã hội thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội là động lực, điều kiện
quan trọng có tác dụng thúc đẩy, bảo đảm tăng trưởng kinh tế cao, bền vững.


Sau 25 năm đổi mới, với những chứng minh trong thực tiễn về sự đúng đắn của
con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam, chúng ta cũng đã tổng kết và
làm rõ đặc điểm của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong đó,
thành tố định hướng xã hội chủ nghĩa được thể hiện rõ nét bởi đặc điểm lớn: phát
triển kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã
hội.
II. QUAN ĐIỂM QUAN TRỌNG NHẤT
Trong số 5 quan điểm trên của Đảng về sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước trong thời kì đổi mới, quan điểm quan trọng nhất là quan điểm 3 “ Phát
huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển CNH, HĐH một cách
bền vững”
Vì: Quan điểm này đã quyết định yếu tố cơ bản, quyết định nhất. Các nguồn lực
khác không có khả năng tự thân mà phải thông qua nguồn lực con người mới phát
huy được tác dụng.Các nguồn lực khác dùng thì hết, trái lại nguồn lực con người
càng dùng càng phát triển.Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là sự nghiệp của toàn
dân, của mọi thành phần kinh tế, trong đó lực lượng cán bộ khoa học và công nghệ,
khoa học quản lí, và đội ngũ công nhân lành nghề giữ vai trò đặc biệt quan trọng.

Nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi phải đủ số lượng, cân
đối về cơ cấu và trình độ, có khả năng nắm bắt và sử dụng các thành tựu khoa học
và công nghệ mới.
Câu 2: Trình bày hiểu biết của nhóm về những nhân tố để thành công trong
tương lai của sinh viên Ngoại Ngữ khi ra trường. Nhân tố nào là quan trọng
nhất? Tại sao?

A. Những nhân tố để thành công trong tương lai của sinh viên Ngoại Ngữ khi
ra trường
Hàng ngàn sinh viên trên khắp đất nước Việt Nam đã dành những tháng ngày học
cấp 1, 2,3 rồi tiếp tục chinh phục sự nghiệp học hành trong 4 năm đại học. Điều họ
mong đợi sau những năm tháng đó là có một công việc tốt và có thể trở thành một
con người thành công trong cuộc sống. Cần trang bị cho bản thân những gì để có


thể thành công sau khi ra trường? Đây là một câu hỏi có lẽ mọi sinh viên đã từng
nghe, đọc hay tự vấn chính bản thân mình. Vậy, một sinh viên nói chung và sinh
viên Ngoại ngữ nói riêng cần có những nhân tố gì để thành công trong tương lai
sau khi tốt nghiệp đại học?
Trong Di chúc để lại cho toàn Đảng và nhân dân ta, Hồ Chí Minh có căn dặn:
"Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong,
không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức
cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã
hội vừa " hồng" vừa "chuyên". Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một
việc rất quan trọng và rất cần thiết.

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh,trong sự nghiệp đào tạo
nguồn nhân lực cho công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, đưa đất
nước phát triển sánh vai với các cường quốc năm châu thì tư tưởng của Người về
đào tạo đoàn viên thanh niên, đặc biệt đoàn viên thanh niên là sinh viên thành

những người vừa “hồng” vừa “chuyên” có ý nghĩa thiết thực vô cùng to lớn.

I. HỒNG
1.Khái niệm “ hồng” là gì?
Theo tư tưởng của Bác " hồng" là chỉ người sống có lý tưởng Cách Mạng có phẩm
chất chính trị, đạo đức, lối sống trong sạch, không ngại khó khăn gian khổ phấn
đấu sẵn sàng hi sinh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; là quyết tâm suốt đời
đấu tranh cho Đảng cho CM.
Nói cách khác, " hồng" ở đây chính là đạo đức, tư tưởng, nhân cách, lối sống của
con người.
2. Tại sao hồng lại là nhân tố quan trọng ?
Trong mọi thời đại, “hồng” hay chính là đạo đức luôn đóng vai trò quan trọng, nó
có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của một đất nước. Sự ý thức về lương


tâm , danh dự,lòng tự trọng phản ánh khả năng tự chủ của con người là sức mạnh
đặc biệt của đạo đức, là nét cơ bản qui định gương mặt đạo đức của mỗi con người.
Với ý nghĩa đó, sự phát triển của ý thức đạo đức là nhân tố biểu hiện tiến bộ của
con người và xã hội.Bởi vậy vai trò của ý thức đạo đức là vô cùng to lớn.được thể
hiện rõ nhất qua con người , gia đình và xã hội.
a. Đối với cá nhân
Đạo đức góp phần hoàn thiện nhân cách con người, giúp con người sống thiện và
sống có ích.Mỗi người khi sinh ra không phải ai cũng hoàn hảo ngay từ đầu, phải
trải qua nhiều nỗ lực cố gắng mới có thể hoàn thiện bản thân. Đạo đức chính là
nhân tố thiết yếu để con người hoàn thiện mình .Bên cạnh đóđạo đức giúp cho con
người luôn giữ được nhân cách, bản lĩnh làm ngườitrong mọi hoàn cảnh, không dễ
bị thay đổi trước những biến thiên của thời cuộc“Giàu sang không thể quyến rũ,
nghèo khó không thể lay chuyển, sức mạnh không thể khuất phục.”. Mặt khác, đạo
đức còn giáo dục lòng nhân ái, vị tha của mỗi con người, giúp cá nhân tự điều
chỉnh hànhvi sao cho phù hợp với chuẩn mực xã hội. Một con người tốt mới có thể

tạo nên được một xã hội tốt, văn minh và tiến bộ.
b. Đối với gia đình
Đạo đức là nền tảng của gia đình.Gia đình là cái nôi nuôi dưỡng con người ngay từ
khi con nhỏ,bản thân con người chính là cái gương phản ánh một gia đình có hạnh
phúc hay không.Hạnh phúc gia đình có được là nhờ đạo đức vì có đạo đức mới
giáo dục con cái đúng quy tắc, chuẩn mực.Nhờ những quy tắc , chuẩn mực đó mà
con cái ngoan ngoãn, trưởng thành,tạo nên sự ổn định, phát triển vững chắc của gia
đình, xây dựng gia đình hạnh phúc. Gia đình có hạnh phúc thì xã hội mới bình yên
và phát triển được.
c.Đối với xã hội
Xã hội sẽ phát triển bền vững nếu xã hội đó thực hiện đúng các quy tắc, chuẩn mực
xã hội.Bê cạnh đó, giá trị đạo đức được thể hiện thông qua việc thực hiện các chức
năng của đạo đức.Song, ở giai đoạn nào của sự phát triển xã hội thì đạo đức, cũng
có những chức năng cơ bản sau:
- Chức năng điều chỉnh hành vi: Sự điều chỉnh hành vi được thực hiện bằng hai
hình thức chủ yếu. Một là, thông qua dư luận xã hội, ca ngợi, khuyến khích cái
thiện, cái tốt, lên án, phê phán cái ác, cái xấu.Trong trường hợp này, giá trị đạo đức


phụ thuộc vào sức mạnh và tính đúng đắn của dư luận.Một khi dư luận xã hội được
củng cố và phát triển, được mọi người đồng tình ủng hộ, nó sẽ trở thành sức mạnh
to lớn trong việc điều chỉnh đạo đức. Hai là, bản thân chủ thể đạo đức tự giác điều
chỉnh hành vi của mình theo những chuẩn mực đạo đức xã hội. Cách thức điều
chỉnh này phụ thuộc vào việc giáo dục, giác ngộ của chủ thể đạo đức.Bởi lẽ, trong
quan hệ đạo đức chủ thể đạo đức vừa tham gia vào hành vi ứng xử, vừa là người
phán xét hành vi ứng xử của chính mình. Như vậy, với cách thức điều chỉnh này,
giá trị đạo đức phụ thuộc vào các chuẩn mực đạo đức được hình thành trong mỗi
chủ thể đạo đức đó là cơ sở cho hành vi đạo đức của mỗi cá nhân phù hợp với lợi
ích và sự tiến bộ xã hội.
- Chức năng giáo dục :Chức năng giáo dục được thực hiện thông qua sự giáo dục

của xã hội. Giáo dục đạo đức là quá trình tuyên truyền những tư tưởng, những
chuẩn mực đạo đức xã hội, biến nó thành thước đo đánh giá, điều chình hành vi
của mỗi cá nhân nhằm đạt tới một sự phù hợp giữa hành vi cá nhân với lợi ích xã
hội.
- Chức năng nhận thức: Những tư tưởng đạo đức và chuẩn mực đạo đức xã hội
có trở thành các quan hệ đạo đức trong đời sống xã hội hay không, điều đó phụ
thuộc vào tính đúng đắn, tư tưởng đạo đức, của các chuẩn đạo đức, vào việc tuyên
truyền, giáo dục trong xã hội.
Mặt khác, đạo đức còn thể hiện bản sắc dân tộc trong quan hệ quốc tế, là cơ sở để
mở rộng giao lưu giữa các giá trị văn hóa của dân tộc, quốc gia với các dân tộc,
quốc gia khác. Đạo đức cũng góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, qua đó
thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.
Từ những điều trên, có thể thấy đạo đức là điều không thể thiếu trong quá trình
phát triển của mỗi cá nhân hay xã hội. Mỗi cá nhân cần nhận thức đúng đắn vai trò
của đạo đức để từ đó góp phần phát triển xã hội, xây dựng đắt nước giàu mạnh.
3. Những biểu hiện của con người có đạo đức
Người việt nam ta từ xưa đã coi trọng đạo đức. Và người xưa coi những biểu hiện
sau đây làm chuẩn mực đạo đức: trung với nước, hiếu với dân; cần kiệm liêm
chính chí công vô tư; yêu thương con người. Xã hội ngày nay vẫn đề cao đạo đức
tốt đẹp của một con người, một vài quy chuẩn đạo đức trước đây vẫn được bảo tồn,
song cùng với sự đổi thay của xã hội, nhiều chuẩn mực đạo đức trước kia cũng
thay đổi và những chuẩn mực mới được sinh ra.


a) Hiếu thảo với ông bà cha mẹ, biết ơn thầy cô Nếu như trước kia, người xưa coi
trọng chữ " hiếu" trong việc yêu thương và tôn trọng nhân dân thì trong chuẩn mực
đạo đức ngày nay, " hiếu" được hiểu là việc biết ơn, hiếu thảo với ông bac cha mẹ.
Ông bà cha mẹ là những đấng sinh thành cao quý nhất, là cái nôi nuôi dưỡng tâm
hồn và thể chất con người. Chúng ta tồn tại trên đời là nhờ mẹ cha, và cũng nhờ
những năm tháng cực nhọc vất vả kiếm cơm ăn áo mặc chăm con mà ta lớn khôn

trưởng thành. Tình yêu của mẹ cha dành cho ta la vô bờ bến vào tình yêu đó trao đi
vô điều kiện, không đòi hỏi nhận lại điều gì. Là một người con, phải nhận thức
được tình cảm thiêng liêng mà mình được nhận, từ đó, phải biết ơn và yêu thương
bố mẹ nhiều hơn, thể hiện bằng hành động báo hiếu bố mẹ đơn giản như chăm sóc
bố mẹ khi về già. Là một sinh viên ngoại ngữ, chúng ta được bố mẹ tạo điều kiện
tốt nhất để tiếp xúc với nền văn hoá nước ngoài, cốt cho chúng ta có một tương lai
tươi sáng. Vì vậy, chúng ta không được quên công ơn mẹ cha và luôn giữ chữ hiếu
trong lòng, thể hiện bằng hành động. Thầy cô dẫu không chung dòng máu nhưng là
những người sát cánh bên ta từ khi ta còn ậm ờ đánh vần cho đến khi ta có kiến
thức sâu rộng. Thầy cô luôn bên ta, truyền đạt cho ta những kiến thức quý báu để
ta có tri thức khi bước vào đời.Vậy nên, thầy cô cũng đóng một phần quan trọng
trong cuộc đời mỗi chúng ta và chúng ta cần phải trân trọng, biết ơn những người
chở đò ấy. Đừng bao giờ quên một lời chúc nhỏ bé hay một điểm tốt, một bông hoa
tươi dành tặng thầy cô vào ngày nhà giáo việt nam. Và hãy luôn nhớ thành công
của mình in bóng dáng thầy cô.
b) Lòng nhân ái, yêu thương con người. Ông cha ta đã có câu: " lá lành đùm lá
rách" " thương người như thể thương thân" " bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng
khác giống nhưng chung một giàn". Những câu ca dao tục ngữ này đều mang nội
dung về tình yêu thương, đùm bọc lẫn nhau của con người. Từ đó, ta nhận thấy
rằng, từ xưa, ông cha ta đã rất coi trọng lòng nhân ái. Trong cuộc sống, luôn có
những người may mắn và những người kém may mắn hơn. Những người kém may
mắn này luôn cảm thấy tự ti, thiếu thốn về mặt tình cảm và điều họ cần chính là
lòng người. Chỉ cần một chút yêu thương, một chút sẻ chia bằng những hành động
thiện nguyện như hiến máu tình nguyện, quyên góp quần áo, sách vở,..là những
người khốn khó về sức khoẻ, những đứa trẻ nghèo vùng sâu vùng xa đã thấy ấm
lòng rồi. Thương yêu con người không nhất thiết là cứ phải làm thiện nguyện mà
nó chỉ đơn giản là những biểu hiện quan tâm, biết yêu thương những người thân,
bè bạn xung quanh mình. Đôi khi chỉ là những lời hỏi han khi thấy bố mẹ mệt,



động viên khi bạn được điểm kém hah một cái nắm tay, vỗ vai đầy thành ý cũng
thể hiện được tình yêu của mình đến những người thân yêu. Là sinh viên ngoại
ngữ, chúng ta hay học cách yêu thương. Cho đi tình yêu thương cũng chính là nhận
lại.Biết đâu một ngày nào đó, những người được mình giúp đỡ sẽ giúp đỡ lại mình
và nhờ đó ta sẽ đạt được thành công?
c) Tôn trọng những người xung quanh. Chúng ta là những cá nhân sống trong một
tập thể, một xã hội. Một tập thể chỉ có thể vững mạnh khi từng cá nhân biết trung
hoà cá tính của mình, biết nhường nhìn và tôn trọng nhau.Tôn trọng ở đây vừa là
tôn trọng về không gian, thời gian riêng tư của mỗi cá nhân đồng thời là tôn trọng
quan điểm của mỗi cá nhân. Mỗi người đều có một không gian riêng tư để nghỉ
ngơi, làm điều mình thích,... gây rối và phá hoại không gian riêng tư của người
khác là không được. Đặc biệt, mỗi chúng ta, ai cũg có ý kiến, quan điểm của riêng
mình và ai cũng được lên tiếng nói ra ý kiến, quan điểm đó.Không ai được cho
rằng mình là nhất, quan điểm của mình đúng nhất nên người khác không được cho
ý kiến mà hãy tôn trọng ý kiến của người khác như chính điều chúng ta muốn là
người khác cũng tôn trọng ý kiến của mình.
d. Sống vị tha, bao dung. Sống trên đời không có gì là tuyệt đối cả, kể cả tốt xấu
phải trái đúng sai. Không ai là luôn đúng, không mắc một lỗi lầm nào hết.Và bản
thân ta cũng vậy, trong suốt cuộc đời mình, có ai khẳng định rằng mình chưa bao
giờ làm điều gì sai?Chính vì vậy, hãy cho rằng những người mắc lỗi lầm với chúng
ta, dù lớn hay nhỏ thì cũng không hoàn hảo giống như chúng ta thoi.Lỗi lầm cũng
là một phần của cuộc đời họ và cũng là một phần của cuộc đời chúng ta.nếu chúng
ta cứ mãi lưu giữ lỗi lầm của họ trong tim ta thì họ cũng không tốt lên được ,mà
bản thân ta cũng đang tự chất thêm gánh nặng muộn phiền trong tim. Cứ như thế,
lỗi làm của họ sẽ khiến tim ta là nơi chứa đựng sự ghét bỏ, thù hận và không chỉ
khiến cho tim ta nặng trĩu, mối quan hệ giữa họ và ta xấu đi. Ngược lại, khi ta bao
dung, tha thứ những lỗi lầm của họ, ta vừa thoat một gánh nặng trong tim, vừa ban
cho người khác một cơ hội để nhận ra lỗi lầm của bản thân và sửa đổi, vừa bảo vệ
được mối quan hệ của 2 người.
e, Có đạo đức nghề nghiệp. Là sinh viên ngoại ngữ, sau này khi ra trường chúng ta

thường chọn nghề giáo viên hay biên phiên dịch viên, hướng dẫn viên du lịch. Bạn
có nghĩ để hoàn thành trọn vẹn một công việc chỉ cần có chuyên môn kiến thức là


đủ? Gần đây, vô số các vụ việc liên quan đến bạo lực học đường, giáo viên thiếu
lương tâm ngập tràn trên mặt báo: giáo viên mắng chửi học sinh vì không làm
được bài, giáo viên dùng roi đánh học sinh mẫu giáo, giáo viên lái xe ô tô trong sân
trường đâm vào học sinh rồi nói dối là học sinh tự ngã,... Những vụ việc trên bắt
nguồn từ ý thức nghề nghiệp của một số giáo viên còn quá kém. Do ngay từ đầu
chỉ chú trọng chuyên môn mà không coi trọng việc trau dồi đạo đức của nghề giáo
mà hành xử thiếu văn hoá, thiếu tình người. Không chỉ riêng nghề giáo viên mà bất
cứ nghề nào cũng cần những con người có lương tâm. Vậy nên, hãy tìm hiều về
công việc trong tương lai của bạn cần những đạo đức nghề nghiệp nào để học hỏi,
để không ảnh hưởng xấu đến cả cái tên của nghề nghiệp đó.Thành công trong công
việc không phải ở việc bạn đảm đương công việc ấy một cách xấu xí.
4.Sinh viên Ngoại ngữ cần rèn luyện đạo đức như thế nào?
a.Từ phía sinh viên:
Thực hiện và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, noi theo những lời dạy
của Bác về thanh niên, rèn luyện những phẩm chất đao đức mà Bác đòi hỏi ở thế
hệ tương lai nước nhà. Đó là: trung với nước, hiếu với dân, cần, kiệm, liêm, chính,
chí công vô tư, lòng yêu thương con người. Việc học tập Bác không ở đâu xa mà
thể hiện ngay ở những hành động cụ thể trong cuộc sống hàng ngày và trong quá
trình học tập. Đặc biệt đối với sinh viên Ngoại Ngữ, một phần không nhỏ trong số
các sinh viên học ngành này tương lai sẽ trở thành giáo viên, trở thành tấm gương
cho các thế hệ học sinh tương lai, chính vì vậy ngay từ bây giờ ý việc rèn luyện ý
thức học tập, đạo đức xã hội là vô cùng quan trọng để sau này khi ra trường có thể
trở thành những con người vừa “hồng” vừa “chuyên” như mong muốn của Bác,
góp phần vào công cuộc xây dựng đất nước
Học tập và làm theo tấm gương của Bác từ chính những công việc, hoạt độn g liên
quan đến sinh viên, thể hiện cụ thể ở hai mặt học tập và tu dưỡng đạo đức. Trước

hết, sinh viên cần có ý thức học tốt: không đi học muộn, trốn giờ bỏ tiết, làm bài
tập đầy đủ, tham gia phát biểu ý kiến và chuẩn bị trước ở nhà những bài tập mà
giảng viên yêu cầu, rèn luyện các kĩ năng cứng của mình ( các kiến thức về ngôn
ngữ mình đang học) và kĩ năng mềm tiêu biểu như kĩ năng thuyết trình, kĩ năng
làm việc nhóm… đã và đang được trường đại học Ngoại Ngữ chú trọng trong công
tác giảng dạy. Đồng thời sinh viên cần rèn luyện và tu dưỡng đạo đức, sống đẹp,
sống lành mạnh, biết yêu thương mọi người.


Tham gia các phong trào, các trương trình thanh niên tình nguyện, mùa hè xanh…
để giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn, rèn luyện được khả năng làm việc
nhóm, thích ứng với các môi trường khác nhau. Tham gia những hoạt động đó se
giúp ta sống đẹp hơn, có ý nghĩa hơn cho bản thân và sống có ích cho cộng đồng.
b.Từ gia đình, nhà trường và xã hội
Thường xuyên chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng, lối sống trong sạch, lành
mạnh cho sinh viên theo tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh Cuộc vận
động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” thực sự đã lan toả
sâu rộng trong toàn xã hội, có tác động rất tích cực đến sinh viên Học viện Nông
nghiệp Việt Nam. Chúng ta cần phải tiếp tục tuyên truyền sâu rộng hơn nữa về hoạt
động này. Cần đẩy mạnh tuyên truyền thông qua website, thông qua phát thanh,
qua bản tin nội bộ... Tăng cường giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh trong các hoạt
động ngoại khoá. Kết hợp giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh với giáo dục truyền
thống, bản sắc văn hoá Việt Nam tới sinh viên. Có thể thông qua Hội sinh viên,
Liên chi đoàn các khoa để xây dựng các câu lạc bộ, đội, nhóm, diễn đàn để trao
đổi, giải đáp thắc mắc các vấn đề về tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh. Cần kết hợp
giữa giáo dục những phẩm chất truyền thống như yêu nước, lòng nhân ái, vị tha,
trung hiếu, cần, kiệm... với các giá trị đạo đức mới như chủ động, sáng tạo, tự lập,
tự chủ, vượt khó.
Phối kết hợp giữa gia đình – nhà trường – xã hội, phát huy truyền thống gia đình,
xã hội để giáo dục đạo đức, văn hóa lối sống cho sinh viên. Gia đình là nơi nuôi

dưỡng hình thành nhân cách đầu tiên cho mỗi con người, là môi trường đầu tiên
hình thành đạo đức cho sinh viên. Gia đình là nơi hội tụ của truyền thống dân tộc,
tình yêu quê hương, đất nước, yêu thương con người được truyền từ thế hệ này
sang thế hệ khác. Do đó trong gia đình, thế hệ ông bà, cha mẹ phải làm gương về
đạo đức, giữ gìn nề nếp gia phong, có lối sống mẫu mực cho con cái noi theo. Nhà
trường được xem như là gia đình thứ hai của mỗi con người, là cầu nối giữa gia
đình và xã hội trong quá trình rèn luyện cá nhân. Nhà trường không chỉ dạy kiến
thức, dạy nghề mà còn là nơi dạy làm người. Bên cạnh việc trang bị kiến thức
chuyên môn, tay nghề nhà trường cần quan tâm giáo dục đạo đức, lối sống khơi
gợi cho sinh viên những lí tưởng cao đẹp, khát khao cuộc sống. Bên cạnh gia đình,
nhà trường, sinh viên cũng ảnh hưởng cả mặt tích cực và mặt tiêu cực từ môi


trường xã hội bên ngoài.Vì vậy các tổ chức, đoàn thể, các ban ngành trong nhà
trường và xã hội cần quan tâm định hướng tạo môi trường thuận lợi để sinh viên
phấn đấu, rèn luyện, trưởng thành.
Tăng cường các hoạt động giáo dục ngoại khóa, các hoạt động ngoài giờ lên lớp
cho sinh viên Cùng với việc giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh thông qua các
môn học chính khóa, việc tăng cường các hoạt động giáo dục ngoại khóa, ngoài
giờ lên lớp cũng được tích cực triển khai ở Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
Thông qua các hoạt động sinh hoạt câu lạc bộ dưới nhiều hình thức sẽ giúp sinh
viên hình thành kĩ năng sống và mạnh dạn hơn trong giao tiếp. Nên tập hợp, thu
hút sinh viên vào các hoạt động bổ ích, thiết thực như câu lạc bộ nghiên cứu khoa
học, hội thi nữ sinh thanh lịch, các hội thi khoa học như Hành trình vì khát vọng
Việt, Khởi nghiệp…, các cuộc thi tìm hiểu về truyền thống dân tộc và các mạng,
hoạt động văn hóa thể thao, như cuộc thi Rung chuông vàng, các hoạt động từ
thiện … Qua các hoạt động đó có thể xã hội hóa giáo dục, cá thể hóa nhân cách lối
sống của sinh viên. Kêu gọi sinh viên tham gia các phong trào tình nguyện như:
“Thanh niên lập nghiệp và tuổi trẻ giữ nước”, “Thanh niên tình nguyện”, “Chiến
dịch mùa hè xanh”… Kết thúc các hoạt động cần nêu gương, biểu dương các tấm

gương xuất sắc, điển hình để khuyến khích sinh viên có lối sống tích cực. _
Khuyến khích, biểu dương hoạt động tự học tập, tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức,
lối sống của sinh viên Sinh viên là những người đầy sự nhiệt tình hăng say, hứng
thú với cái mới. Vì vậy, khuyến khích hoạt động tự học tập, tự tu dưỡng đạo đức
lối sống sẽ giúp sinh viên nhanh chóng tiến bộ, trưởng thành.Trước hết mỗi sinh
viên cần phải tự hình thành cho mình nhu cầu, động cơ phấn đấu, rèn luyện, có ý
thức học hỏi, cầu tiến, vươn lên tự khẳng định mình. Nhà trường cần điều kiện
thuận lợi để sinh viên phấn đấu, rèn luyện; các tổ chức Đoàn, Hội sinh viên cần
thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đánh giá kết quả, định hướng phấn đấu cho sinh
viên. Nếu nhà trường và khoa quan tâm đáp ứng những nhu cầu chính đáng của
sinh viên về vật chất, tinh thần; giao nhiệm vụ phù hợp với sở trường, năng lực đặc
điểm tâm, sinh lý của sinh viên, đây sẽ là điều kiện tốt để sinh viên rèn luyện đạo
đức, lối sống. Bên cạnh đó, sinh viên cần phải tự ý thức, tự xây dựng lý tưởng, hoài
bão, khát khao vươn tới cái mới, cái tiến bộ.Bản thân mỗi người biết vượt qua
những cám dỗ lôi kéo và tiêu cực xã hội, loại bỏ những biểu hiện của chủ nghĩa cá
nhân, ích kỷ, thực dụng. Những tấm gương sáng trong học tập, rèn luyện và hoạt
động phong trào của sinh viên được nêu gương, khen thưởng kịp thời sẽ khuyến


khích, giúp sinh viên có thêm động lực để tiếp tục học tập, tu dưỡng, rèn luyện bản
thân.
II. CHUYÊN
1.Khái niệm “chuyên” là gì?
“Chuyên” là sự thể hiện trí tuệ, tài năng, năng lực của cá nhân con người gắn liền
với sự khổ công học tập, rèn luyện để có tri thức, nâng cao tri thức và dùng chính
những tri thức mình có được mà phục vụ cho sự phát triển của cộng đồng, của
CNXH.
Nói cách khác, “Chuyên” là chuyên môn, vốn sống, là tri thức, nghiệp vụ,…
Người có "chuyên", như đã nói ở trên, là những người có đầy đủ các kiến thức, kĩ
năng để phục vụ cho cuộc sống, cho xã hội. Người có tài sẽ mang lại lợi ích tốt đẹp

cho bản thân, cho gia đình và cho xã hội. Thế giới đang phát triển với tốc độ nhanh
trên từng giây, từng phút. Nếu không phải là người có tài thì sẽ không thể nào bắt
kịp được với thời cuộc. Hơn thế nữa, những người tài giỏi và có ý chí cầu tiến,
ham học hỏi, chính là những người nắm giữ chìa khóa thành công cho xã hội, cho
đất nước. Họ cũng sẽ là những người đi đầu xu hướng, nắm bắt được sự chuyển
động, thay đổi không ngừng của thế giới. Từ đó, họ sẽ chính là người tiên phong,
dẫn dắt mọi người đi theo những con đường mới. Những người có tài luôn là
những người nổi bật trong xã hội. Họ sẵn sàng trở thành người đứng mũi chịu sào,
chấp nhận những chỉ trích từ phe đối lập. Tuy nhiên, học cũng biết cách để biến ý
kiến, hành động của mình thành ý kiến, hành động đúng, khiến người khác phải
tâm phục, khẩu phục.
Có câu: " Hiền tài là nguyên khí quốc gia" vì vậy xã hội, đất nước luôn luôn cần
những người có tài như vậy. Thế hệ sinh viên chính là lớp người mà xã hội, đất
nước luôn đặt trọn niềm tin. Sinh viên cần làm tròn nghĩa vụ học tập cao cả của
mình để trở thành người có tài, chung tay xây dựng Tổ quốc. Một đất nước cần
được phát triển toàn diện mới có thể trở nên hùng cường và bền vững. Bất cứ sinh
viên học ngành nghề nào cũng có thể góp sức mình kiến thiết đất nước.
Đối với sinh viên Ngoại ngữ, có tài là sử dụng thành thạo được ngoại ngữ, biết
cách biến thứ ngôn ngữ đó thành công cụ hữu ích cho những công việc trong tương
lai. Nếu trở thành giáo viên, một giáo viên giỏi có thể đào tạo ra những thế hệ học


sinh tiềm năng, trở thành những chủ nhân tương lai tài giỏi cho nước nhà. Là biên
phiên dịch viên có tài, bạn sẽ truyền tải những kiến thức về nhiều khía cạnh của đất
nước mình đến với bạn bè quốc tế. Và ngược lại, bạn cũng sẽ mang những tinh hoa
từ các nước bạn để giúp cho nước nhà có thể bắt kịp được với xu thế của thế giới.

2. Một người có “chuyên” là người như thế nào?
Một người có tài, trí người có khả năng lĩnh hội tri thức cao và có thể vận dụng
những kiến thức đó để hoàn thành tốt mọi công việc được giao. Người đó là con

người có kiến thức chuyên môn và xã hội sâu rộng, toàn diện. Không những thế óc
phán đoán, phân tích và tổng hợp sự việc, hiện tượng của người đó cũng vô cùng
nhạy bén. Sau khi tổng hợp được những vấn đề đó họ có thể có những lập luận
logic, trên cơ sở nảy sinh ra nhiều ý tưởng và dự đoán nhiều mặt của vấn đề. Hơn
nữa người có tài là còn là người có trí nhớ tốt và khả năng tập trung lâu. Chính vì
vậy họ là người luôn có hiệu suất làm việc cao nhất trong thời gian ngắn nhất.
Ví dụ một bác thợ mộc được cho là có tài khi chạm trổ được một tác phẩm có hồn
và tuyệt đẹp. Một cô giáo khi truyền đạt được cho học sinh toàn bộ tri thức của
mình bằng những bài giảng vừa mới mẻ lại đầy hấp dẫn và có hiệu quả sẽ được coi
là một cô giáo có tài. Hay một ví dụ gần nhất, chúng ta có thể dễ dàng gặp những
biểu hiện này ở một sinh viên có tài. Đó là một sinh viên luôn tích cực tư duy và
học hỏi; với mọi vấn đề sinh viên đó sẽ luôn đặt câu hỏi; khi được giao bài tập sẽ
hoàn thành một cách đầy đủ và xuất sắc nhất. Những người có tài hầu hết sẽ được
biểu hiện như vậy.
Cũng có nhiều người có thể có nhiều cái “tài” cùng một lúc, họ được cho là những
người đa tài. Bác Hồ vĩ đại của của chúng ta được coi là một ví dụ vô cùng điển
hình cho hình mẫu của một người đa tài như vậy khi Bác có thể giỏi rất nhiều lĩnh
vực khác nhau từ chính trị, lịch sử đến ngoại ngữ và văn học...
3. Làm thế nào để trở thành một người có “ chuyên”
Chuyên ở đây là nói đến "tài, trí" của con người
Trí theo tư tưởng Hồ Chí Minh là hiểu biết, khả năng nhận thức đúng quy luật của
tự nhiên cũng như của xã hội. Trí là sự mưu trí và sáng tạo trong việc giải quyết


×