Tải bản đầy đủ (.doc) (15 trang)

Giải pháp cơ bản phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (156.51 KB, 15 trang )

MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU.....................................................................................1
NỘI DUNG
I. Sự cần thiết khách quan phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam.......2
1. Quan niệm về kinh tế thị trường..........................................................2
2.Kinh tế thị trường không những tồn tại khách quan mà cịn cần thiết
cho cơng cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa................................................3
II. Đặc trưng, bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam............................................................................................4
III. Thực trạng, mục tiêu và các giải pháp để phát triển kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam........................................6
1.Thực trạng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
hiện nay ...................................................................................................6
1.1. Một số thành tựu đạt được sau gần hai mươi năm thực hiện công
cuộc đổi mới...........................................................................................6
1.2. Thực trạng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam........................................................................................................8
2. Mục tiêu phấn đấu trong xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam. 10
3. Giải pháp cơ bản phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam....................................................................................10

KẾT LUẬN........................................................................................13

1


LỜI MỞ ĐẦU
Công cuộc đổi mới của Việt Nam kể từ khi đại hội VI của Đảng (12/1986) đề
ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước đến nay đã trải qua gần hai mươi năm.
Một trong những nội dung đổi mới then chốt là chuyển nền kinh tế từ kế hoạch


hoá tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận
động theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hay nói cách khác là
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Kể từ sau đại hội VI, mơ
hình kinh tế mới đề ra đã phát huy hiệu quả trong phát triển kinh tế –xã hội, đem
lại những thành tựu rất quan trọng góp phần tích cực đưa đất nước thốt khỏi
tình trạng khủng hoảng gay gắt và tạo ra những điều kiện tiền đề cho thời kì phát
triển mới. Hiện nay cơng cuộc đổi mới tồn diện đất nước ngày càng đi vào
chiều sâu, đồng thời quan niệm về con đường phát triển của nước ta cũng được
định hình ngày càng rõ nét. Đảng ta khẳng định: “Mục đích của nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển lực lượng sản xuất, phát triển
kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời
sống nhân dân. Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng
quan hệ sản xuất mới phù hợp trên cả ba mặt sở hữu, quản lý và phân phối”.
Trong xu thế phát triển kinh tế nhanh, bền vững và hội nhập kinh tế quốc tế,
nước ta càng cần có những chính sách, biện pháp phát huy mặt tích cực của kinh
tế thị trưịng, khắc phục những khó khăn yếu kém của thực trạng nền kinh tế để
đến năm 2020 thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta
hoàn thiện về căn bản.
Trước tình hình kinh tế –xã hội mang tính thời sự trong giai đoạn then chốt
như hiện nay, em đã chọn vấn đề “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam” để làm đề tài cho đề án mơn kinh tế chính trị của mình.
Với kiến thức trang bị có tính chất khái qt, khơng tránh khỏi những thiếu
sót, em rất mong nhận đươc sự góp ý của thầy cô.
Em xin chân thành cảm ơn.

2


NỘI DUNG
I-Sự cần thiết khách quan phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam:

1.Quan niệm về kinh tế thị trường :
Kinh tế thị trường là thành tựu chung của văn minh nhân loại. Nó là kết quả
của sự phát triển lực lượng sản xuất đến một trình độ nhất định, là kết quả của
q trình phân cơng lao động xã hội, đa dạng hố các hình thức sở hữu, đồng
thời nó là động lực mạnh mẽ thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.
Lịch sử phát triển của loài người đã chứng kiến rất nhiều hình thức tổ chức
kinh tế xã hội rất khác nhau; đó là kinh tế tự nhiên tự cấp tự túc, kinh tế hàng
hoá, đầu tiên là kinh tế hàng hoá giản đơn, lạc hậu, sau đó đến kinh tế hàng hố
tư bản chủ nghĩa và tiếp đến là kinh tế thị trường khi hệ thống thị trưòng được
mở rộng và phát triển đồng bộ.
Kinh tế thị trường là mơ hình kinh tế mà ở đó các quan hệ kinh tế đều được
thực hiện trên thị trường, thơng qua q trình trao đổi mua bán. Kinh tế thị
trường là hình thức phát triển cao của kinh tế hàng hoá dựa trên sự phát triển rất
cao của lực lượng sản xuất, trong đó từ sản xuất đến tiêu dùng đều thông qua thị
trường –nghĩa là trong kinh tế thị trường , các yếu tố “đầu vào” (những hàng hoá
dịch vụ cần cho sản xuất) và “đầu ra” (những hàng hoá, dịch vụ cần cho tiêu
dùng) đều thông qua thị trường. Đồng thời trong kinh tế thị trường, các quan hệ
kinh tế đều được tiền tệ hoá. Chính V.I.LêNin đã dùng khái niệm kinh tế tiền tệ
để nói đến trình độ phát triển cao của kinh tế hàng hoá dưới chủ nghĩa tư bản.
Kinh tế thị trường là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường. Cơ chế thị
trường là tổng thể các nhân tố, các mối quan hệ, môi trường, động lưc và các
quy luật chi phối sự vận động của thị trường. Kinh tế hàng hố và kinh tế thị
trường có cùng nguồn gốc và bản chất với nhau nhưng khác nhau về trình độ
phát triển.
Trong những điều kiện kinh tế xã hội khác nhau, sự phát triển của kinh tế
hàng hoá, kinh tế thị trường chịu sự tác động của những quan hệ xã hội nhất
định hình thành nên các chế độ kinh tế – xã hội khác nhau. Tuy nhiên dù tồn tại
dưới chế độ xã hội nào, kinh tế thị trường vẫn mang những đặc trưng cơ bản
sau:
-Kinh tế thị trường vận động theo những quy luật vốn có :quy luật giá trị,

quy luật cung – cầu, quy luật lưu thông tiền tệ, quy luật cạnh tranh...
-Các chủ thể kinh tế có tính tự chủ cao trong sản xuất kinh doanh.
-Giá cả được hình thành chủ yếu do thị trường tự quyết định, do đó nền
kinh tế có khả năng tự điều chỉnh cao.

3


-Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là tất yếu địi hỏi các chủ doanh
nghiệp phải có tính năng động cao, luôn cải tiến, đổi mới sản phẩm hàng hoá để
tăng lợi thế cạnh tranh trên thị trường.
-Kinh tế thị truờng khơng phải là một nền kinh tế “đóng” mà là một nền
kinh tế “mở”.
-Kinh tế thị trường ngày nay đều có sự quản lý vĩ mơ của nhà nước. Mức
độ can thiệp của nhà nước ở mỗi nước là rất khác nhau tuỳ thuộc vào hoàn cảnh
của từng nước.
2.Kinh tế thị trường khơng những tồn tại mà cịn cần thiết cho công cuộc xây
dựng xã hội chủ nghĩa:
Kinh tế thị trường đã phát triển dưới chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa tư bản đã
biết dùng kinh tế thị trường để thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển.
Nhưng kinh tế thị trường là thành tựu chung của nền văn minh nhân loại, đó là
sản phẩm của quá trình phát triển lực lượng sản xuất xã hội lồi người, nó xuất
hiện và tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất. Ngày nay tất cả các nước đều
phải xây dựng kinh tế thị trường, tuy nhiên trong chế độ xã hội khác nhau thì
kinh tế thị trường đươc sử dụng với mục đích khác nhau. Do đó xây dựng và
phát triển kinh tế thị trường là phù hợp với xu hướng phát triển chung của nhân
loại.
Kinh tế thị trường là một kiểu tổ chức xã hội, càng không phải là một chế độ
xã hội, một phương thức sản xuất, do đó nó khơng đối lập với chủ nghĩa xã hội
mà có đủ điều kiện tồn tại dưới chủ nghĩa xã hội ở nước ta:

Thứ nhất, phân công lao động xã hội là cơ sở tất yếu của nền sản xuất hàng
hố chẳng những khơng mất đi mà còn ngày càng phát triển cả về chiều rộng lẫn
chiều sâu. Ở nước ta hiện nay, sự phát triển phân công lao động xã hội ở nước ta
thể hiện ở chỗ các ngành nghề ở nước ta ngày càng đa dạng và phong phú,
chun mơn hố sâu trong từng đơn vị kinh tế, từng địa phương trong cả nước
đồng thời chất lượng hàng hoá ngày càng cao trên thị trường.
Thứ hai, sự tách biệt về kinh tế biểu hiện ở nước ta đó là sự tồn tại và phát
triển của nhiều hình sở hữu tạo nên sự tách biệt kinh tế giữa các chủ thể, đơn vị
kinh tế. Do đó các chủ thể kinh tế khi cần sản phẩm của nhau cũng tất yếu phải
thông qua con đường thoả thiận, trao đổi, mua bán- tức là vẫn sử dụng quan hệ
hàng hố-tiền tệ tính tốn hiệu quả kinh tế. Quan hệ hàng hố-tiền tệ cịn cần
thiết trong quan hệ kinh tế quốc tế, đặc biệt phân công lao động quốc tế đang
phát triển ngày càng sâu.
Kinh tế thị trường không chỉ tồn tại khách quan mà còn cần thiết cho công
cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.Sau khi miền Nam được hồn tồn
giải phóng (năm 1975), mơ hình kế hoạch hố tập trung quan liêu bao cấp ở
miền Bắc được áp dụng trên phạm vi cả nước. Đặc trưng của cơ chế này là nhà
nước giao kế hoạch cho các doanh nghiệp với một hệ thống chỉ tiêu mang tính
pháp lệnh, nhà nước cung cấp vật tư tiền vốn cho các doanh nghiệp sản xuát
kinh doanh. Xí nghiệp sản xuất theo kế hoạch rồi giao nộp sản phẩm cho nhà
4


nước, lãi nhà nước thu, lỗ nhà nước bù, làm triệt tiêu mất vai trò động lực của
lợi nhuận. Nhà nước đã đầu tư khá lớn, nhưng trong năm 5 đầu (1976-1980) tốc
độ tăng trưởng kinh tế chậm chạp, thậm chí có xu hướng giảm sút và bắt đầu rơi
vào giai đoạn khủng hoảng. Nguyên nhân là do việc phân phối bình quân làm
cho nền kinh tế bị hiện vật hố, các quan hệ hàng hố tiền tệ khơng cịn được sử
dụng.Trước những khó khăn đó Nhà nước đã tìm kiếm các giải pháp cải tiến mà
mốc lịch sử đánh dấu quá trình đổi mới kinh tế đất nước là đại hội VI của Đảng

năm 1986. Đảng ta chủ trương xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp,
chuyển nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa. Đây là con đường đúng đắn để phát triển lực lượng sản xuất, khai thác
hiệu quả tiềm năng đất nước.Thực tiễn những năm đổi mới đã chứng minh rằng
việc đổi mới chính sách đó là hoàn toàn phù hợp.
Phát triển kinh tế thị trường là cách tốt nhất để xoá bỏ dấu ấn của nền kinh tế
tự nhiên tự cấp tự túc ở nước ta. Kinh tế tự nhiên, do bản chất của nó chỉ duy trì
sản xuất giản đơn trong kinh tế cũ, vì coi thường quy luật giá trị, cạnh tranh,
cung cầu nên các cơ sở kinh tế cũng thiếu động lực phát triển sản xuất. Sử dụng
kinh tế thị trường là sử dụng quy luật giá trị, cạnh tranh, cung cầu, buộc mỗi chủ
thể kinh tế tự chịu trách nhiệm về hàng hố do mình làm ra. Chính vì thế nền
kinh tế trở nên sống động. Mỗi người sản xuất đều chịu sự ép buộc phải quan
tâm tới sự tiêu thụ trên thị trường, sao cho sản phẩm của mình được xã hội thừa
nhận và cũng từ đó lại diễn ra một mơi trường cạnh tranh địi hỏi các chủ thể
kinh tế năng động sáng tạo, phản ứng nhanh nhậy, hơp lí hoá sản xuất, cải tiến
kĩ thuật, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả, thúc đẩy tập trung sản xuất
với quy mô ngày càng lớn.
Phát triển kinh tế thị trường là phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản
xuất xã hội, làm cho nền sản xuất được xã hội hố cao, sự phân cơng lao động
ngày càng chi tiết địi hỏi có sự hợp tác hố giữa các ngành các lĩnh vực.
Phân công lao động vốn là cơ sở của nền kinh tế thị trường, đến lượt nó kinh
tế thị trường sẽ thúc đẩy phân cơng lao động phát triển.
Như vậy, phát triển kinh tế thị trường là một nhiệm vụ kinh tế cấp bách để
chuyển nền kinh tế từ lạc hậu thành nền kinh tế hiện đại, hội nhập vào sự phân
công lao động quốc tế. Phát triển kinh tế thị trường không đối lập với các nhiệm
vụ kinh tế-xã hội của thời kì quá độ mà trái lại thúc đẩy các nhiệm vụ đó phát
triển mạnh mẽ hơn.
II- Đặc trưng, bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam:
Ngày nay, tất cả các nước đều phải xây dựng và phát triển kinh tế thị trường.

Trong các nước tư bản đó là kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Ở nước ta đó là
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đại hội VII của Đảng (6/1991)
lần đầu tiên đưa ra công thức: “Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý
5


của Nhà nước”. Công thức này về sau được Đại hội VIII của Đảng (6/1996) điều
chỉnh thành: “Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo
cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa”. Tiến lên một bước, Đại hội IX của Đảng (4/2001) đã điều chỉnh thành:
“Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” và xem đây là
mơ hình kinh tế tổng qt của thời kì q độ ở Việt Nam. Mơ hình này nó vừa
mang những đặc tính chung của kinh tế thị trường, vừa bao hàm những nguyên
tắc của chủ nghĩa xã hội. Trong mơ hình này, chúng ta sử dụng kinh tế thị
trường với tư cách là thành quả của nền văn minh nhân loại làm phương tiện để
năng động hoá đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống vật chất
và văn hoá của nhân dân. Đồng thời chúng ta đề cao vai trò quản lý của Nhà
nước đối với nền kinh tế nhằm thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh”.
Nước ta đang trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội nên mơ hình kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không phải là kinh tế thị trường tự do
theo lối tư bản, cũng chưa phải là kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đã phát
triển. Mục đích xây dựng mơ hình này đó là:
-Phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật
chất-kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân lao động và tất
cả các thành viên trong xã hội. Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền
với xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp trên cả ba mặt:sở hữu, quản lý,và
phân phối.
Về sở hữu sẽ phát triển theo hướng cịn tồn tại các hình thức sở hữu khác

nhau, ở nước ta cơ bản có ba loại đó là sở hữu tồn dân, sở hữu tập thể, sở hữu
tư nhân (gồm sở hữu cá thể, sở hữu tiểu chủ, sở hữu tư nhân tư nhân tư bản)
trong đó sở hữu tồn dân, sở hữu tập thể đóng vai trị là nền tảng (đây cũng là
điểm khác biệt với kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa). Từ ba loại sở hữu cơ
bản đó hình thành nhiều thành phần kinh tế, nhiều tổ chức kinh doanh. Các
thành phần kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể tiểu chủ, kinh tế tư
bản tư nhân, kinh tế tư bản Nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Quan
điểm của Đảng ta về xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần là xuất phát từ thực
trạng kinh tế-xã hội Việt Nam. Nó cho phép có nhiều hình thức sản xuất kinh
doanh theo quy mơ thích hợp với từng khâu của q trình tái sản xuất và lưu
thông, nhằm khai thác mọi khả năng của các thành phần kinh tế. Đảng coi đây là
giải pháp có ý nghĩa chiến lược để giải phóng sức sản xuất và xây dựng cơ cấu
kinh tế hợp lý.
Về quản lý, trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phải có sự
quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Nhà nước ta sẽ quản lý nền kinh tế bằng
pháp luật, chiến lược, kế hoạch,chúnh sách, đồng thời sử dụng cơ chế thị trường,
các hình thức kinh tế và phương pháp quản lý kinh tế thị trường để kích thích
sản xuất, giải phóng sức sản xuất, phát huy tính tích cực và hạn chế những
khuyết tật của cơ chế thị trường (độc quyền trong kinh doanh, ô nhiễm mơi
trường, phân hố giàu nghèo, khủng hoảng có tính chu kỳ...)
6


Về phân phối, thực hiện nhiều hình thức phân phối thu nhập :phân phối
theo lao động ,phân phối theo vốn hay tài sản đóng góp, phân phối theo giá trị
sức lao động hay thông qua các quỹ phúc lợi tập thể; trong đó phân phối theo lao
động là chủ yếu (khác biệt với kinh tế thị trường tư bản lấy phân phối theo giá
trị –phân phối theo tư bản và giá trị sức lao động). Cơ chế phân phối này vừa tạo
động lực kích thích các chủ thể kinh tế nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh, đồng thời hạn chế những bất cơng trong xã hội.

-Tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường nước ta còn
thể hiện ở chỗ phát triển tăng trưởng kinh tế đi đơi với phát triển văn hố giáo
dục, vừa xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc vừa tiếp thu
những thành tựu văn minh văn hoá nhân loại, làm cho chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trị chủ đạo trong đời sống tinh thần của nhân dân,
nâng cao dân trí, giáo dục và đào tạo con người, xây dựng và phát triển nguồn
nhân lực cho đất nước toàn diện về trí tuệ, đạo đức,sức khoẻ.
-Nền kinh tế thị trường phát triển theo cơ cấu kinh tế “mở”. Nước ta chủ
trương đa phương hoá, đa dạng hoá kinh tế với mọi quốc gia, mọi tổ chức kinh
tế không phân biệt chế độ chính trị trên ngun tắc tơn trọng độc lập, chủ quyền,
bình đẳng và cùng có lợi. Đồng thời tăng cường hội nhập vào nền kinh tế thế
giới, phát huy ý chí tự lực tự cường, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh
thời đại, dựa vào nguồn lực trong nước là chính đi đơi với tranh thủ tối đa nguồn
lực bên ngoài.
-Kinh tế thị trường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa với sự quản
lý vĩ mô của Nhà nước. Đây cũng là đặc điểm cơ bản nhất của nền kinh tế thị
trường ở nước ta khác biệt hẳn với nền sản xuất hàng hoá giản đơn trước đây
cũng như với nền kinh tế thị trường ở các nước khác. Trong điều kiện hiện nay,
hầu như tất cả nền kinh tế của các nước trên thế giới đều có sự quản lý của Nhà
nước để sửa chữa một mức độ nào đó “những thất bại của thị trường”. Nhưng
điều khác biệt trong cơ chế vận hành nền kinh tế của nước ta là ở chỗ Nhà nước
quản lý nền kinh tế không phải là nhà nước tư sản, mà là Nhà nước xã hội chủ
nghĩa, nhà nước của dân, do dân, vì dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng
sản Việt Nam. Sự quản lý vĩ mơ của Nhà nước địi hỏi phải tơn trọng tính khách
quan của kinh tế thị trường, phải phát huy những mặt tích cực, vai trị to lớn của
kinh tế thị trường, hạn chế những khuyết tật của kinh tế thị trường; là nhân tố
đảm bảo cho định hướng xã hội chủ nghĩa của thị trường.
III-Thực trạng, mục tiêu và các giải pháp để phát triển kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam:
1- Thực trạng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

hiện nay:
1.1. Một số thành tựu đạt được sau gần hai mươi năm thực hiện công cuộc
đổi mới:

7


Trong suốt thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến nay, nền kinh tế Việt Nam ln
có nhip độ tăng trưởng dương, đặc biệt đã đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh và
liên tục trong suốt thời gian 1986-1997.Trong 5 năm đầu đổi mới (1986-1990),
khi chế độ bao cấp bị xoá bỏ dần nước ta mới chỉ đạt tăng trưởng bình qn
3,9%/năm, vẫn cịn lạm phát. Nhưng đầu thập kỷ 90, nền kinh tế nước ta liên tục
tăng trưởng ổn định và đạt đến đỉnh cao là 9,5%năm 1995. Đại hội VIII của
Đảng năm 1996 đã nhận định: “Nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội,
nhưng một số mặt còn chưa vững chắc. Nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu
của thời kỳ quá độ là chuẩn bị tiền đề cho cơng nghiệp hố đã cơ bản hồn
thành, cho phép chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước.” Tất cả các mục tiêu kinh tế-xã hội của kế hoạch 5 năm 1996-2000 và
chiến lược 10 năm 1991-2000 đều đạt và vượt kế hoạch :GDP trong 10 năm này
tăng bình quân hằng năm 7,56%, nhờ vậy GDP năm 2000 đã gấp 2,07 lần năm
1990 (vựơt so với mục tiêu tăng 2 lần mà Đại hội VII đã đề ra trong “chiến lược
ổn định và phát triển kinh tế-xã hội 1991-2000”). Từ năm 1991 đến nay, sản
xuất không chỉ đáp ứng được tiêu dùng mà cịn dành một phần để tích luỹ (năm
1991: 10,1%; năm 1995:20%; năm 2000:27% GDP).
Cơ cấu ngành kinh tế đã có sự chuyển dịch theo hướng khu vực I (gồm nông
nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản ) tuy vẫn đạt tốc độ tăng trưởng cao liên tục,
nhưng tỷ trọng giảm xuống, trong khi đó tỷ trọng của khu vực II (gồm công
nghiệp và xây dựng cơ bản) và khu vực III (gồm các ngành dịch vụ ) đã tăng
lên. Cơ cấu các thành phần kinh tế trong GDP cũng đã có sự chuyển dịch từ chủ
yếu là quốc doanh, hợp tác xã sang đa thành phần, nhưng vai trò chủ đạo của

kinh tế quốc doanh vẫn được tăng cường. Sự phát triển của khu vực kinh tế
ngồi quốc doanh có ý nghĩa quan trọng trong việc tận dụng nguồn vốn và lao
động, tự tạo việc làm, tăng thu nhập dân cư và đóng góp vào sự tăng trưởng
chung của nền kinh tế.
Các cân đối chủ yếu trong nền kinh tế đã được điều chỉnh thích hợp, các
chính sách tiền tệ, tín dụng tiếp tục được đổi mới, việc điều hành các cân đối
tiền tệ theo tín hiệu thị trường bước đầu đạt các kết quả tích cực cơ chế quản lý
và điều hành lãi suất ngoại hối, tỷ giá từng bước được đổi mới theo nguyên tắc
của thị trường. Hệ thống ngân hàng bước đầu được chấn chỉnh và đổi mới, các
tổ chức tín dụng phát triển, chất lượng và hiệu quả tín dụng được nâng lên, đã
hình thành thị trường tiền tệ liên ngân hàng, bắt đầu áp dụng công cụ thị trường
mở và thành lập các trung tâm chứng khốn.
Nước ta đã có nhiều cố gắng trong việc huy động các nguồn vốn đầu tư phát
triển, nhất là nguồn vốn trong nước. Tổng nguồn vốn đầu tư xã hội trong 5 năm
(2001-2005) khoảng 440 nghìn tỷ đồng, tốc độ tăng bình qn 8,6%/năm; trong
đó : vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước chiếm 22,7%; vốn tín dụng đầu tư
chiếm 14,2%; vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước chiếm 17,8%; vốn đầu tư
tư nhân và dân cư chiếm 21,3%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 24%.
Kinh tế đối ngoại được phát triển nhanh, mở rộng về quy mơ, đa dạng hố
hình thức và đa phương hố thị trường. Hoạt động xuất nhập khẩu tiếp tục phát
8


triển khá. Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 51,6 tỷ USD trong 5 năm 2001-2005,
tăng bình quân hằng năm trên 21%, gấp ba lần mức tăng GDP. Khối lượng các
mặt hàng xuất khẩu chủ lực đều tăng khá. Cơ cấu hàng xuất khẩu có sự thay đổi
một bước. Thị trường xuất, nhập khẩu được củng cố và mở rộng hơn. Hoạt động
đầu tư nước ngoài bắt đầu từ năm 1988 đến nay vẫn tiếp tục gia tăng. Tỷ lệ vốn
đầu tư (FDI) thu hút vào lĩnh vực sản xuất vật chất, kết cấu hạ tầng kinh tế tăng
từ 62%năm 1995 lên 85%năm 2000. Nước ta phát triển quan hệ với các trung

tâm và cường quốc kinh tế trên thế giới. Sau nhiều năm bị bao vây cấm vận,
ngày 11/7/1995 Mỹ tun bố bình thường hố quan hệ với Việt Nam mở ra một
số thay đổi trong quan hệ hai nước, các nhà đầu tư kinh doanh mới thực sự có
mối quan hệ thực tế và hiệu quả. Một số hàng hoá Việt Nam như cà phê, gạo,
bia... cũng thâm nhập vào thị trường Mỹ. Ngày 17/7/1995, nước ta và Liên minh
châu Âu (EU) đã ký Hiệp định chung về hợp tác kinh tế, thương mại và khoa
học kỹ thuật. EU phần nào đã giúp ta cải thiên môi trường đầu tư, trợ giúp về kỹ
thuật, tăng hạn ngạch xuất khẩu hàng may mặc Việt Nam vào EU, tăng ODA
cho Việt Nam, nhờ đó một số ngành cơng nghiệp như may mặc, da giầy,
giấycủa nước ta đã phát triển một phần đáng kể. Đồng thời chúng ta cũng thành
công bước đầu trong liên kết kinh tế khu vực. Ngày 28/7/1995, nước ta gia nhập
ASEAN. Năm 1998, ta tham gia Diễn đàn các nước châu Á-Thái Bình Dương
(APEC). Tháng 7/2000, nước ta ký hiệp định thương mại với 61 nước, trong đó
có Mỹ, đưa tổng số nước có quan hệ thương mại với Việt Nam từ 50 nước năm
1990 lên 150 nước năm 2000.
Cơ chế quản lý kinh tế đang được đồng bộ hóa và hồn thiện bước đầu.Trong
5 năm qua nhiều đạo luật về kinh tế, xã hội được ban hành đã thể chế, cụ thể hố
đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, hình thành về cơ bản khn khổ
pháp lý cho nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành trong cơ chế thị
trường, có sự quản lý của Nhà nước theo hướng xã hội chủ nghĩa.
1.2. Thực trạng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam:
Nước ta đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đứng trước những
khó khăn thách thức lớn. Những thành tựu kinh tế-xã hội đã đạt được trong
những năm qua là những dấu hiệu khả quan cho thấy mơ hình phát triển nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng ta là hoàn toàn đúng
đắn.
Hiện nay thực trạng nền kinh tế thị trường ở nước ta còn đang ở giai đoạn sơ
khai, kém phát triển.
a)Các yếu tố cho một nền sản xuất phát triển chưa đầy đủ:
-Sự phân công lao động xã hội - cơ sở của kinh tế thị trường chưa phát

triển.
Nền kinh tế nước ta vẫn chủ yếu là nơng nghiệp (sử dụng70% lực lượng lao
động); cơng nghiệp cịn nhỏ bé. Theo LêNin nhìn vào một nước mà đa số dân cư
sống trong nơng nghiệp chứng tỏ ở đó kinh tế kém phát triển. Trong nông
nghiệp, kỹ thuật và phương thức canh tác tiên tiến chậm đưa vào thực hiện trên
9


diện rộng; chưa chú trọng đầu tư phát triển công nghệ sau thu hoạch, công
nghiệp chế biến; chậm mở rộng các ngành, nghề và thị trường ở nông thôn...Một
số ngành cơng nghiệp sản xuất cịn khó khăn, tốc độ đổi mới cơng nghệ chậm.
-Cơ sở vật chất kỹ thuật cịn ở trình độ thấp, trong nhiều ngành kinh tế,
máy móc cũ kỹ, công nghệ lạc hậu.
Theo UNDP, Việt Nam đang ở trình độ cơng nghệ lạc hậu 2/7 của thế giới,
thiết bị máy móc lạc hậu 2-3 thế hệ (có lĩnh vực 4-5 thế hệ). Lao động thủ công
vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong xã hội. Tỷ lệ lao động qua đào tạo mới ở mức 20%
(so với 50% trở lên ở nhiều nước và chưa đạt mục tiêu 22-25%) làm cho khả
năng tiếp thu kỹ thuật công nghệ gặp nhiều khó khăn. Do đó, năng suất, chất
lượng hiệu quả sản xuất của nước ta còn rất thấp so với khu vực và thế giới (chỉ
bằng 30% mức trung bình của thế giới).
-Kết cấu hạ tầng như hệ thống đường giao thơng, bến cảng, hệ thống thơng
tin liên lạc... cịn lạc hậu, kém phát triển.
Trong 5 năm từ 2001 đến 2005 nước ta đã xây dựng 1200 km đường và
nâng cấp 3790 km đường quốc, làm mới 11,5 km cầu, sửa chữa và nâng cấp 200
km đường sắt, mở rộng và hiện đại hoá một số cảng biển quan trọng.Tuy nhiên
mật độ đường giao thông/km chỉ bằng 1%với mức trung bình tồn thế giới. Hệ
thống giao thơng kém phát triển làm cho các địa phương, vùng bị chia cắt, tách
biệt nhau, nhiều tiềm năng của các địa phương không được khai thác.
b)Trong kinh tế thị trường cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong đó sản xuất
nhỏ phân tán vẫn còn phổ biến:

Nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ
nghĩa nên nước ta thiếu cái “cốt vật chất” của một nền kinh tế phát triển. Xuất
phát điểm là một nền nông nghiệp lạc hậu, kém phát triển, mang nặng tính tự
cung tự cấp, tự túc mang nặng tính bảo thủ trì trệ, đang trong quá trình phát triển
sang nền kinh tế thị trường nên nước ta hiện nay sản xuất còn phân tán, nhỏ lẻ.
c) Thị trường dân tộc thống đang trong q trình hình thành nhưng chưa
đồng bộ:
Do giao thơng vận tải kém phát triển nên chưa lôi cuốn được tất cả các
vùng miền trong nước vào một mạng lưới lưu thơng hàng hố thống nhất.
-Thị trường hàng hố-dịch vụ đã hình thành nhưng cịn hạn hẹp và cịn
nhiều hiện tượng tiêu cực (hàng giả, hàng nhập lậu, hàng nhái nhãn hiệu vẫn làm
rối loạn thị trường).
-Thị trường hàng hoá sức lao động mới hình thành, một số trung tâm giới
thiệu việc làm và xuất khẩu lao động mới xuất hiện nhưng đã nảy sinh hiện
tượng khủng hoảng. Nét nổi bật của thị trường này ở nước ta là hiện tượng sức
cung về lao động lành nghề nhỏ hơn nhiều cầu, trong khi đó cung về lao động
giản đơn lại vượt q xa cầu, nhiều lao động khơng tìm được việc làm.
-Thị trường tiền tệ, thị trường tài chính, thị trường vốn đã có nhiều tiến bộ
nhưng vẫn cịn nhiều trắc trở. Thị trường liên ngân hàng là thị truờng tiền tệ
khởi đầu, sau đó mới hình thành các loại thị trường khác như thị trường mở, thị
trường đấu thầu tín phiếu kho bạc, đối với thị trường tài chính thì thị trường liên
10


ngân hàng là thị trường cơ sở và quan trọng nhất,hiện nay mới thực hiện trong
giai đoạn bước đầu. Thị trường vốn là thị trường cung cấp vốn đầu tư dài hạn
cho các doanh nghiệp, cá nhân và chính phủ. Hình thức giao dịch tương đối đơn
giản nhưng lại cần đến khuôn khổ pháp lý, hạ tầng kỹ thuật khá phức tạp mà ở
nước ta chưa hoàn thiện được. Cho tới nay thị trường chứng khoán nước ta đã đi
vào hoạt động chính thức được gần bốn năm nhưng nguồn vốn huy động qua thị

trường chứng khốn vẫn cịn nhỏ bé so với quy mô nền kinh tế, mức độ phát
triển còn thấp. Cho đến nay nước ta mới chỉ có 11 cơng ty chứng khốn, vẫn
chưa đóng vai trị của các nhà tạo lập thị trường, còn nhiều hạn chế trong tư vấn
tài chính. Trong kinh tế thị trường, trình độ phát triển được biểu hiện qua thị
trường chính khoán nhưng trên thực tế Việt Nam dường như lại diễn biến trái
chiều so với kết quả kinh tế. Tính đến 31/12/2003 tổng giá trị niêm yết trên toàn
thị trường là 13025 tỷ đồng, chiếm khoảng 2,15% GDP. Nguồn cung ứng chứng
khốn cịn nhiều hạn chế.
-Thị trường khoa học cơng nghệ những năm gần đây một số văn kiện
chính thức quan trọng của Đảng và Nhà nước có đề cập đến việc tạo lập. Được
đánh giá một cách khái quát là một bộ phận của kinh tế thị trường nhưng thị
trường khoa học công nghệ ở Việt Nam chỉ mới ở giai đoạn manh nha.
Như vậy, hiện nay nước ta chưa có thị trường theo đúng nghĩa của nó. Thị
trường của nước ta những năm qua đang trong quá trình hình thành và phát
triển, trình độ cịn thấp cơ cấu thị trường chưa đầy đủ, dung lượng thị trường cịn
ít và có phần rối loạn, các yếu tố kinh tế thị trường hình thành chưa đầy đủ.
d)Trong quan hệ kinh tế quốc tế, sức cạnh tranh của hàng Việt Nam còn yếu:
Do cơ sở vật chất-kỹ thuật nước ta hiện nay vẫn cịn ở trình độ thấp, lạc hậu
nên năng suất lao động thấp; nền sản xuất nhỏ,phân tán tạo ra khối lượng hàng
hố nhỏ bé, chủng loại cịn nghèo nàn, chất lượng hàng hố thấp, giá cả cao vì
thế sức cạnh tranh cịn yếu.
e)Sự quản lý vĩ mơ của Nhà nước còn hạn chế:
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng ta nhận định về
vấn đề này như sau: “Cơ chế chính sách khơng đồng bộ và chưa tạo động lực
mạnh để phát triển. Một số cơ chế chính sách cịn thiếu, chưa nhất quán, chưa
sát với cuộc sống, thiếu khả thi. Nhiều cấp, nhiều ngành chưa thay thế sửa đổi
những quy định về quản lý nhà nước không phù hợp”. Đảng ta cũng nhận định
cơng tác cải cách hành chính tiến hành cịn chậm, thiếu kiên quyết cả về xây
dựng và hoàn thiện thể chế, kiện toàn bộ máy, nâng cao năng lực. Hiện nay công
tác tư tưởng, công tác lý luận, công tác tổ chức cán bộ có nhiều yếu kém, bất

cập.Tổ chức bộ máy cồng kềnh, chồng chéo và kém hiệu quả, thủ tục hành chính
cịn rườm rà.
2- Mục tiêu phấn đấu trong xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam:
Văn kiện đại hội IX của Đảng ta nêu rõ mục tiêu tổng quát của kế hoạch 5
năm 2001-2005: “Tăng trưởng kinh tế nhanh bền vững; ổn định và cải thiện đời
sống nhân dân. Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế, cấu lao động theo hướng công
11


nghiệp hoá, hiện đại hoá.” “Tiếp tục tăng cường kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội;
hình thành một bước quan trọng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa.”
Mục tiêu phát triển của nước ta đến năm 2010 đó là: “Đưa nước ta ra khỏi
tình trạng kém phát triển”, “tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành
một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”, “thể chế kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản”(theo văn kiện đại hội Đảng
IX).
3- Giải pháp cơ bản phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam:
Để phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,nước ta cần thực
hiện đồng bộ nhiều giải pháp. Sau đây là một số giải pháp cơ bản sau:
Thứ nhất, đẩy mạnh phân công lao động xã hội .
Phân công lao động xã hội là cơ sở chung của sản xuất và trao đổi hàng
hoá, của nền kinh tế thị trường. Để đẩy mạnh phân công lao động xã hội cần
chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng tăng tỷ lao động trong các ngành công
nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng lao động trong nông nghiệp. Định hướng của
nước ta là đến năm 2010 công nghiệp, xây dựng sử dụng khoảng 23-24% lao
động; các ngành dịch vụ sử dụng khoảng 26-27% tổng số lao động.
Thứ hai,thực hiện đa dạng hoá quan hệ sở hữu, tạo ra sự tách biệt nhất định
về kinh tế-cơ sở của kinh tế thị trường. Trên cơ sở đó chúng ta sử dụng một cơ

chế kinh tế hàng hoá nhiều thành phần để khai thác mọi tiềm năng của các thành
phần kinh tế.
Nền kinh tế nước ta thực hiện nhất quán lâu dài chính sách phát triển nền
kinh tế hàng hố nhiều thành phần, lấy việc phát triển sức sản xuất, nâng cao
hiệu quả kinh tế xã hội, cải thiện đời sống nhân dân làm mục tiêu quan trọng để
khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển. Theo tinh thần đó các thành
phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật.Trong những năm tới cầc phát huy
vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Muốn vậy cần tập trung nguồn lực trong
những lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế, sắp xếp lại khu vực doanh nghiệp nhà
nước, thực hiện tốt chủ trương cổ phần hoá và đa dạng hoá sở hữu đối với những
doanh nghiệp mà nhà nước không cần nắm 100% vốn. Đẩy mạnh việc đổi mới
kỹ thuật, công nghệ trong các doanh nghiệp nhà nước. Hỗ trợ, tạo điều kiện phát
triển hiệu quả hơn kinh tế tập thể; tổng kết nhân tố mới,các mơ hình kinh tế tập
thể làm ăn có hiệu quảđể phổ biến nhân rộng phù hợp với điều kiện từng ngành
nghề, từng địa phương. Phát huy cao độ các nguồn lực ở trong dân, phát triển
mạnh và có hiệu quả hơn nữa kinh tế tư nhân. Khuyến khích kinh tế cá thể, tiểu
chủ phát triển ở cả thành thị và nơng thơn. Khuyến khích kinh tế tư bản tư nhân
phát triển trong những ngành nghề pháp luật không cấm. Phát triển kinh tế tư
bản nhà nước dưới các hình thức liên doanh liên kết, tạo điều kiện kinh tế có
vốn đầu tư nước ngồi hướng vào mục tiêu phát triển các sản phẩm xuất khẩu,
tăng khả năng cạnh tranh, gắn thu hút vốn với thu hút công nghệ hiện đại. Tiếp
12


tục đổi mới và hồn thiện chính sách phân phối và phân phối lại, nhất là chính
sách tiền lương, tiền cơng và chính sách thuế nhằm tạo động lực mạnh mẽ phát
triển sản xuất, khuyến khích người lao động.
Thứ ba, đẩy mạnh cơng nghiệp hố hiện đại hố đất nước để trang bị kỹ
thuật công nghệ cho kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đảng ta coi công nghiệp hoá hiện đại hoá là nhiệm vụ trung tâm xuyên suốt

thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Con đường cơng nghiệp hố của nước ta
vừa có bước đi tuần tự, vừa có bước nhảy vọt tranh thủ ứng dụng ngày càng
nhiều hơn những thành tựu khoa học công nghệ của các nước đi trước, từng
bước phát triển kinh tế tri thức. Cần đặc biệt coi trọng phát triển tồn diện nơng,
lâm, ngư nghiệp gần với cơng nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản nhằm khai
thác hiệu quả tiềm năng đa dạng, chú trọng các vấn đề thuỷ lợi hoấ, áp dụng
công nghệ tiến bộ, nhất là công nghệ sinh học, cơ giới hố, điện khí hố. Đồng
thời ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm,
sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu,công nghiệp điện tử và công nghiệp
thông tin. Cải tạo, mở rộng, nâng cấp và xây dựng có trọng điểm kết cấu vật
chất hạ tầng của nền kinh tế.
Thứ tư, đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng tạo điều kiện phát triển nền kinh tế.
Theo Lênin : “giao thông phát triển đến đâu thì thị trường phát triển đến
đó”.Nhận thức được điều đó, Đảng ta chủ trương xây dựng thêm nhiều tuyến
đường giao thông đến tận những vùng sâu vùng xa nhằm mở rộng địa bàn cho
phát triển kinh tế tới mọi vùng miền trong cả nước, giao lưu buôn bán phát triển
mạnh.
Thứ năm, tạo lập và phát triển đồng bộ các loại thị trường.
Phát triển thị trường vốn và các kênh đa dạng huy động vốn cho đầu tư là
một nhân tố có ý nghĩa hết sức quan trọng. Nước ta cần hoàn thiện và mở rộng
nhanh hoạt động của thị trường chứng khoán, sớm lành mạnh tài chính của các
tổ chức tín dụng thương mại nhà nước. Cần phân định rõ giữa tín dụng chính
sách với tín dụng thương mại, ngân hàng chính sách với ngân hàng thương mại.
Khẩn trương thể chế hoá Luật Đất đai để hình thành đồng bộ khn khổ pháp lý,
cơ chế chính sách phát triển để quản ký có hiệu qủa thị trường bất động sản. Đa
dạng hố các hình thức tìm việc làm, giới thiệu việc làm, tuyển chọn và đào tạo
lao động có chất lượng nhằm phát triển mạnh thị trường lao động. Đồng thời đổi
mới cơ chế tài chính để đầu tư có hiệu quả cho khoa học cơng nghệ, có cơ chế
để sản phẩm khoa học trở thành hàng hoá, tạo điều kiện phát triển mạnh thị
trường khoa học, công nghệ.

Thứ sáu, tiếp tục mở cửa để nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, thực hiện
đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ đối ngoại.
Trong điều kiện hiện nay, chỉ có mở cửa kinh tế, hội nhập vào kinh tế khu
vực và thế giới, mới thu hút được vốn, kỹ thuật và côngnghệ hiện đại để khai
thác tiềm năng và thế mạnh của đất nước. Đảng ta xác định nhiệm vụ cần khẩn
trương xây dựng chiến lược tổng thể hội nhập kinh tế ở tất cả các cấp độ : toàn
cầu, khu vực và song phương trên ngun tắc bình đẳng và cùng có lợi,bảo đảm
13


độc lập chủ quyền dân tộc, an ninh quốc gia. Triển khai đồng bộ việc chuẩn bị
các mặt để giành thế chủ động trong hội nhập. Giảm dần theo lộ trình việc bảo
hộ bằng thuế nhập khẩu, xây dựng hệ thống các biện pháp bảo hộ phi thuế phù
hợp với thông lệ và điều ước quốc tế nhằm đẩy mạnh xuất khẩu, coi xuất khẩu là
trọng điểm của kinh tế đối ngoại. Giảm dần nhập siêu, ưu tiên nhập khẩu tư liệu
sản xuất để phục vụ sản xuất. Chủ động tham gia tổ chức thương mại quốc tế,
các tổ chức, các diễn đàn, các định chế quốc tế một cách có chọn lọc với bước đi
thích hợp.
Thứ bảy, cải cách và đổi mới thủ tục hành chính.
Chủ trương đi sâu cải cách, đơn giản hố các thủ tục hành chính và thực
hiện tốt cơ chế “một cửa” . Tạo lập đồng bộ cơ chế, chính sách thực hiện triệt để
việc tách quản lý hành chính nhà nước với quản lý sản xuất kinh doanh và hoạt
động của tổ chức sự nghiệp dịch vụ cơng, để tạo mơi trường thơng thống, thuận
lợi phat triển các thành phần kinh tế.
Thứ tám, nâng cao vai trị quản lý kinh tế vĩ mơ của Nhà nước.
Nhà nước thực hiện tốt các chức năng: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nhà
nước định hướng sự phát triển kinh tế qua hệ thống luật pháp, các chính sách
nhất qn để tạo mơi trường ổn định và thuận lợi cho hoạt động kinh tế, hạn chế
những mặt tiêu cực của cơ chế thị trường. Nhà nước tập trung vào thực hiện
chức năng định hướng phát triển, trực tiếp đầu tư vào một số lĩnh vực để dẫn

dắt, hỗ trợ thị trường, tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp có quyền
tự chủ trong sản xuất kinh doanh, phát huy khả năng năng động sáng tạo trong
sản xuất.

KẾT LUẬN
Sau gần 20 năm xây dựng mơ hình kinh tế mới trên phạm vi cả nước, đến nay
Đảng và Nhà nước ta đã tích luỹ được những kinh nghiệm quý báu. Quá trình
lãnh đạo và quản lý kinh tế trong gần 20 năm qua là q trình tìm tịi, tự nhận
thức và đổi mới. Nhìn tổng qt, cơng cuộc đổi mới thời gian quađã thu được
những thành tựu to lớn, có ý nghĩa quan trọng. Tuy nhiên nước ta cịn nghèo và
kém phát triển.
Trong q trình tìm kiếm mơ hình phát triển kinh tế cho đất nước, Đảng và
Nhà nước ta đã nghiên cứu, tiếp thu những kinh nghiệm quốc tế; luôn đặt vấn đề
phát triển kinh tế nước nhà trong những nhân tố, xu thế chung của thời đại.
Ngày nay, tất cả các nước đều phải xây dựng và phát triển kinh tế thị trường.
Xây dựng và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vừa phù
14


hợp với xu hướng phát triển chung của nhân loại, vừa phù hợp với yêu cầu phát
triển lực lượng sản xuất ở nước ta. Để hoàn thiện các yếu tố của nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một q trình lâu dài địi hỏi tồn Đảng,
toàn quân, toàn dân ta cùng thực hiện.

15



×