Tải bản đầy đủ (.pdf) (104 trang)

Giám sát của cơ quan dân cử đối với hoạt động tố tụng hình sự (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh phú thọ)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.05 MB, 104 trang )

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

H TH PHNG BC

GIáM SáT CủA CƠ QUAN DÂN Cử
ĐốI VớI HOạT ĐộNG Tố TụNG HìNH Sự
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2017


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

H TH PHNG BC

GIáM SáT CủA CƠ QUAN DÂN Cử
ĐốI VớI HOạT ĐộNG Tố TụNG HìNH Sự
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04

LUN VN THC S LUT HC

Ngi hng dn khoa hc: PGS.TS NGUYN NGC CH

H NI - 2017



LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu khoa
học của riêng tôi. Các kết quả trong luận văn chưa được công bố
trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn
trong khóa luận tốt nghiệp đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung
thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả
các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật- Đại học Quốc
gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN

Hà Thị Phƣơng Bắc


MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục bảng
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁM SÁ T CỦ A CƠ
QUAN DÂN CƢ̉ ĐỐI VỚI HOA ̣T ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH .......
SƢ̣ 6
1.1.


Khái niệm , đặc điểm giám sát của cơ quan dân cƣ̉ đố i với
hoạt động tố tụng hình sự.................................................................. 6

1.1.1. Khái niệm giám sát của cơ quan dân cử đối với hoạt động tố
tụng hình sự .......................................................................................... 6
1.1.2. Đặc điểm giám sát của cơ quan dân cử đối với hoạt động tố tụng.......... 14
1.2.

Vai trò, ý nghĩa của giám sát của cơ quan dân cử đối với hoạt
đô ̣ng tố tu ̣ng hin
17
̣
̀ h sƣ.........................................................................

1.2.1. Vai trò của giám sát của cơ quan dân cử đối với hoạt động tố
tụng hình sự ........................................................................................ 17
1.2.2. Ý nghĩa của giám sát của cơ quan dân cử đố i với hoa ̣t đô ̣ng tố
tụng hình sự ........................................................................................ 21
1.3.

Giám sát của cơ quan dân cử đối với hoạt động tố tụ ng hin
̀ h
sƣ̣ ở một số nƣớc trên thế giới ......................................................... 24

Chƣơng 2: PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦ A CƠ
QUAN DÂN CƢ̉ ĐỐI VỚI HOA ̣T ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH .......
SƢ̣28
2.1.

Pháp luật Việt Nam từ 1945 đến trƣớc 2003 về hoạt động

giám sát đối với hoạt động tố tụng hình sự .................................... 28


2.1.1. Pháp luật Việt Nam từ 1945 đến trước 1988 về hoạt động giám
sát đối với hoạt động tố tụng hình sự ................................................. 28
2.1.2. Pháp luật Việt Nam từ 1988 đến trước 2003 về hoạt động giám
sát đối với hoạt động tố tụng hình sự ................................................. 32
2.1.3. Pháp luật Việt Nam từ 2003 đến trước nay về hoạt động giám sát
đối với hoạt động tố tụng hình sự ...................................................... 34
2.2.

Quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về hoạt động giám
sát đối với hoạt động tố tụng hình sự ............................................. 37

2.2.1. Về chủ thể giám sát ............................................................................ 37
2.2.2. Về đố i tươ ̣ng giám sát ........................................................................ 39
2.2.3. Về nội dung hoa ̣t đô ̣ng giám sát......................................................... 44
2.2.4. Về hin
̀ h thức giám sát của các cơ quan dân cử đố i với hoa ̣t đô ̣ng
tố tu ̣ng hình sự.................................................................................... 50
Chƣơng 3: THƢ̣C TIỄN VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
GIÁM SÁT CỦA CƠ QUAN DÂN CỬ ĐỐI VỚI HOẠT
ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SƢ̣ TẠI TỈ NH PHÚ THỌ.................... 57
3.1.

Thực tiễn giám sát của cơ quan dân cử đối với hoạt động tố
tụng hình sự tại tỉnh Phú Thọ ......................................................... 57

3.1.1. Một vài đặc điểm chủ yếu của tỉnh Phú Tho......................................
57

̣
3.1.2. Hoạt động giám sát của cơ quan dân cử đối trong tố tụng hình.........
sự 57
3.2.

Yêu cầ u về năng cƣờng giám sát của cơ quan dân cƣ̉ đố i với
hoạt động tố tụng hình sự................................................................ 71

3.3.

Các giải pháp nâng cao hiệu quả giám sát của cơ

quan dân

cử đối với hoạt động tố tụng hình sự .............................................. 74
3.3.1. Giải pháp về hoàn thiện pháp luật ...................................................... 74
3.3.2. Giải pháp về tổ chức thực hiê ̣n........................................................... 79
KẾT LUẬN .................................................................................................... 91
DANH MỤC TÀ I LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 93


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS:

Bộ luật hình sự

BLTTHS:

Bộ luật tố tụng hình sự


CQĐT:

Bộ luật hình sự

CTTP:

Cấu thành tội phạm

HĐND:

Hội đồng nhân dân

HĐXX:

Hội đồng xét xử

TANDTC:

Tòa án nhân dân tối cao

TNHS:

Trách nhiệm hình sự

VKS:

Viện kiểm sát

VKSNDTC:


Viện kiểm sát nhân dân tối cao

XHCN:

Xã hội chủ nghĩa

XXST:

Xét xử sơ thẩm


DANH MỤC BẢNG

Số hiệu

Tên bảng

Trang

Bảng 3.1. Số liệu thụ lý án hình sự trên địa bàn tỉnh Phú Thọ từ
năm 2011 đến 2015

58

Bảng 3.2. Kết quả điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự trên
địa bàn tỉnh Phú Thọ

59



MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Xu hướng lạm quyền trong thực hiện quyền lực nhà nước mang tính tất
yếu và để hạn chế, khắc phục nó, các quốc gia thường đặt ra các cơ chế để
kiểm soát quyền lực. Cách thức được nhiều quốc gia sử dụng là cơ chế đối
trọng, kiểm soát giữa quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Do vậy, hoạt
động tư pháp, trong đó có hoạt động TTHS được đặt trong mối quan hệ đối
trọng, kiểm soát đó và hướng tới việc giải quyết quyết vụ án khách quan,
công bằng, công khai, dân chủ bảo đảm quyền con người và trật tự pháp luật.
Trong Nhà nước pháp quyền, các cơ quan quyền lực nhà
nước không chỉ phải hoạt động trong khuôn khổ pháp luật mà còn
bị giới hạn bởi pháp luật. Pháp luật không chỉ là cái mà các cơ quan
quyền lực nhà nước phải tuân thủ mà còn là phương tiện để hạn chế
chính quyền. Do đó, Nhà nước pháp quyền là Nhà nước mà quyền
lực của nó được giới hạn để tránh việc xâm phạm các quyền và tự
do của công dân [10, tr.41].
Ở nước ta quyền lực nhà nước là thống nhất trên cơ sở phân công, kiểm
soát giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp do đó trách nhiệm giám sát hoạt
động tư pháp nói chung và hoạt động TTHS nói riêng được đặt ra cho cơ quan
dân cử, trong đó vai trò đặc biệt qua trọng thuộc về Quốc hội – Cơ quan
quyền lực nhà nước cao nhất. Trên tinh thần đó, BLTTHS qui định nguyên
tắc cơ bản giám sát trong TTHS (Điều 32 BLTTHS 2003) cùng với các qui
định khác của pháp luật TTHS và các văn bản pháp luật khác đã hình thành
nên cơ chế giám sát của cơ quan dân cử đối với hoạt động TTHS. Với cơ chế
giám sát này, Quốc hội, Hội đồng Nhân dân các cấp và các đại biểu dân cử đã
phát huy tích cực vai trò giám sát của mình đối với hoạt động TTHS, đã hạn
chế được sự lạm quyền trong hoạt động TTHS của các cơ quan có thẩm
1



quyền, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, phát hiện vi phạm, kịp thời
yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan khắc phục. Thông qua giám
sát của cơ quan dân cử đã bảo đảm quyề n con người , quyề n công dân ; bảo
đảm được lợi ích của nhà nước và trật tự pháp luật, hạn chế oan sai và bỏ lọt
tô ̣i pha ̣m trong tố tu ̣ng hin
̀ h sự.
Tuy nhiên, trên thực tế hoạt động giám sát của cơ quan dân cử đối với
hoạt động tố tụ ng hin
̀ h sự cho thấ y còn nhiề u bấ t câ ̣p , hạn chế . Chấ t lươ ̣ng
giám sát còn chưa tương xứng với yêu cầu . Các quy định về giám sát của cơ
quan dân cử trong hoa ̣t đô ̣ng tố tu ̣ng còn chưa

cụ thể, chưa rõ ràng , khó áp

dụng; Hoạt động giám sát của cơ cơ quan dân cử chưa được thường xuyên,
chưa bán sát vào những vấn đề phức tạp, nổi cộm trong hoạt động tố tụng ở
từng đại phương và trên toàn quốc… Năng lực của đại biểu dân cử chưa đáp
ứng được yêu cầu thực hiện chức năng giám sát, trong đó có giám sát hoạt
động tố tụng hình sự - lĩnh vực đòi hỏi sự am hiểu pháp luật sâu, rộng, đòi hỏi
có chuyên môn cao và bản lĩnh chính trị vững vàng.Những hạn chế này của
hoạt động giám sát, của cơ quan dân cử dẫn đến để lọt tội phạm, làm oan
người vô tội; dẫn đến những vi phạm của các cơ quan tiến hành tố tụng, người
có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự
không được phát hiện, uốn nắn kịp thời. Do đó, những sai lầm,thiếu xót
không bị xử lý làm cho chất lượng tố tụng chưa đạt được hiệu quả như mong
muốn, quyền con người, quyền công dân còn bị xâm phạm, lợi ích nhà nước
và trật tự pháp luật chưa được bảo đảm, công lý chưa được tôn trọng.
Thực tế này đòi hỏi, cần phải được khắc phục bằng các giải pháp có
tính khả thi phù hợp các điều kiện kinh tế xã hội của đất nước. Phú Thọ là
một tỉnh trung du miền núi có những đặc điểm riêng về điều kiện tự nhiên,

kinh tế, văn hóa xã hội, nhất là đặc điểm về tình hình tội phạm, tình hình đấu
tranh xử lý tội phạm của các cơ quan hữu quan và đặc điểm về hoạt đọng

2


giám sát của cơ quan dân cử trên địa bàn tỉnh. Vì vậy, học viên lựa chọn đề tài
“Giám sát của cơ quan dân cử đối với hoạt động tố tụng hình sự (trên cơ sở
thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)” làm luận văn thạc sĩ luật học của mình để
góp phần khắc phục những hạn chế nêu trên.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến đề
tài thể hiện ở đề tài nghiên cứu các cấp, giáo trình, sách chuyên khảo, bài
viết trên các tạp chí khoa học chuyên ngành. Có thể kể đến một số công
trình tiêu biểu sau:
Sách chuyên khảo của GS .TSKH Đào Trí Ú c : “Mô hình tổ chức và
hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam ” [53] đã đề
cập đến chức năng giám sát của nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam,
trong đó có giám sát hoạt động TTHS của cơ quan dân cử. Tác giả đã chỉ ra
những đặc thù của hoạt động giám sát tư pháp ở Việt Nam so với các nước,
đồng thời nêu ra các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giám sát cũng như các
giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động này.
Hoạt động tố tụng hình sự nói chung và giám sát của cơ quan dân cử
đố i với hoa ̣t đô ̣ng tố tu ̣ng có ý nghiã rấ t quan tro ̣ng đố i với viê ̣c đảm bảo
quyề n con người, quyề n công dân trong tố tu ̣ng hiǹ h sự và là một nguyên tắc
cơ bản của TTHS nên trong tất cả giáo trình luật tố hình sự của các cơ sở đào
tạo luật ở Việt Nam đều đề cập đến “nguyên tắc giám sát trong tố tụng hình
sự” [28, tr.48]. Với tư cách là nguyên tắc cơ bản của TTHS, các giáo trình
phân tích các định hướng của nguyên tắc đối với việc xây dựng và thực thi
pháp luật TTHS, đảm bảo mọi hoạt động của cơ quan có thẩm quyền tiến

hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều được giám sát trong
quá trình giải quyết vụ án.
Công trình đề cập khá đầy đủ về cơ chế giám sát trong TTHS của
PGS.TS. Nguyễn Ngo ̣c Chí được đăng ở Ta ̣p chí Khoa ho ̣c Đa ̣i ho ̣c Quố c gia
3


Hà Nội “ Cơ chế giám sát trong hoạt động tố tụng hình sự Viê ̣t Nam

– thực

trạng và giải pháp” [5].
GS.TSKH Lê Văn Cảm , PGS.TS Nguyễn Ngo ̣c Chí trong sách “Cải
cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền ” [4]
đã đề cập đến những vấn đề về xây dựng cơ chế giám sát tư pháp nói chung
và trong lĩnh vực tố tung hình sự nói riêng trước những yêu cầu xây dựng nhà
nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
Một số công trình khác đề cập đến chức năng giám sát của Quốc hội và
Hội đồng nhân dân, trong đó có giám sát đối với hoạt động TTHS của các tác
giả Phạm Văn Hùng [25]; Bùi Xuân Đức [21]; Nguyễn Đăng Dung [8]; Trần
Ngọc Đường [23], Nguyễn Thái Phúc [31]…
Tuy nhiên chưa có công triǹ h nghiên cứu nào nghiên cứu trực tiế p về
vấ n đề giám sát của cơ quan dân cử với hoạt động tố tụng hình sự, nhất là trên
địa bàn tỉnh Phú Thọ.
3. Mục đích, nhiêm
̣ vu ̣, phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài góp phần làm rõ những vấn đề lý luận và
thực tiễn về giám sát của cơ quan dân cử đố i với hoa ̣t đô ̣ng tố tu ̣ng hình sự và
thực tiễn áp dung
̣ trên điạ bàn tỉnh Phú Tho, ̣trên cơ sở đó đề xuất giải phápnâng

cao hiê ̣u quả giám sát của cơ quan dân cử đố i với hoa ̣t đô ̣ng tố tu ̣ng hình .sự
Với mu ̣c đić h nghiên cứu trên, đề tài có nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
- Làm rõ c ác vấn đề lý luận về giám sát của cơ quan dân cử đối với
hoạt động tố tụng hình sự như : khái niệm, đă ̣c điể m , vai trò và nô ̣i dung của
giám sát hoạt động cơ quan dân cử đối với hoạt động tố tụng hình sự.
- Phân tić h những quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về
giám sát của cơ quan dân cử đối với hoạt động tố tụng hình sự.
- Phân tić h thực tiễn hoa ̣t đô ̣ng giám sát của cơ quan dân cử đố i với
hoạt động tố tụng hình sự tr ên điạ bàn tỉnh Phú Tho ̣ từ đó đánh giá những
điể m ha ̣n chế , bấ t câ ̣p của viê ̣c giám sát này.
4


- Đưa ra các giải pháp nhằ m nâng cao chấ t lươ ̣ng giám sát hoa ̣t đô ̣ng
của cơ quan dân cử đối với hoạt động tố tụng hình sự.
4. Phƣơng pháp nghiên cƣ́u
Nhằm tận dụng tính chất hợp lý từng loại phương pháp nghiên cứu
khoa học, đề tài sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau như
phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử gắn liền với phương pháp
nghiên cứu tài liệu, phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh để
thu thập số liệu, phân tích số liệu; kết hợp giữa lý luận và thực tiễn tư duy
logic để phân tích chứng minh...
5. Tính mới và những đóng góp của đề tài
Đề tài là công trin
̀ h nghiên cứu đầ u tiên về giám sát của cơ quan dân cử
đố i với hoa ̣t đô ̣ng tố tu ̣ng hiǹ h sự . Đề tài đã đưa ra tổ ng thể các phân tić h về
lý luận giám sát hoạt động của cơ quan dân cử đối với hoạt động tố tụng hình
sự như khái niê ̣m , đă ̣c điể m , vai trò và nô ̣i dung của hoa ̣t đô ̣ng giám sát của
cơ quan dân cử.
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham

khảo dùng cho các học viên cao học , các nhà nghiên cứu cũng như cán bộ
thực tiễn.
6. Kế t cấ u của đề tài
Ngoài phần mở đầu , kế t luâ ̣n và danh mu ̣c tài liê ̣u tham khảo , luâ ̣n văn
đươ ̣c kế t cấ u thành 03 chương gồ m:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về giám sát của cơ quan dân cử đối
với hoạt động tố tụng hình sự.
Chương 2: Pháp luật về hoạt động giám sát của cơ quan dân cử đối với
hoạt động tố tụng hình sự.
Chương 3: Thực trạng giám sát và giải pháp nâng cao chất lượng giám
sát của cơ quan dân cử đối với hoạt động tố tụng hình sự tại tỉnh Phú Thọ.

5


Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁM SÁ T CỦ A CƠ QUAN DÂN CƢ̉
ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1. Khái niệm, đặc điểm giám sát của cơ quan dân cử đối với hoạt
đô ̣ng tố tu ̣ng hin
̀ h sƣ ̣
1.1.1. Khái niệm giám sát của cơ quan dân cử đối với hoạt động tố
tụng hình sự
Trong điều kiện đổi mới, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, giám sát việc thực hiện quyền lực
nhà nước là yếu tố quan trọng bảo đảm bản chất của nhà nước - một nhà nước
pháp quyền của dân, do dân, vì dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân
hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Giám sát và hoạt động giám sát là những phạm trù khoa học, khi đưa ra
khái niệm còn có những cách hiểu khác nhau dựa trên cách tiếp cận và quan

điểm khác nhau:
Về mặt ngữ nghĩa, “giám sát” được giải thích là "theo dõi, kiểm tra việc thực
thi nhiệm vụ" [55, tr.728]. Với nghĩa này, thuật ngữ giám sát gần nghĩa với thuật
ngữ kiểm tra, trong đó, kiểm tra là "xem xét thực chất, thực tế" [55, tr.937].
- Tiếp cận dưới góc độ thực hiện quyền lực nhà nước, thì giám sát lấy
đối tượng là việc thực thi quyền lực nhà nước, gắn với việc thực hiện chức
năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước. Giám sát "là sự theo dõi, kiểm tra
đối với việc thực thi quyền lực nhà nước". Để đảm bảo quyền lực là thống nhất,
việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước cần phải tuân theo những
nguyên tắc nhất định và cần thiết phải có sự giám sát việc tổ chức và thực thi
quyền lực nhà nước. Giám sát việc tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước
bao gồm hoạt động giám sát của Nhà nước (của các cơ quan trong bộ máy nhà

6


nước) và giám sát xã hội của các tổ chức chính trị - xã hội, các phương tiện
thông tin đại chúng v.v...
Có ý kiến chỉ coi giám sát là một nhóm hoặc một tổ chức để theo dõi
một việc nào đấy. Ý kiến khác lại quan niệm: giám sát là sự theo dõi, quan sát
hoạt động mang tính chủ động, thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động
bằng các biện pháp tích cực để buộc và hướng hoạt động của đối tượng chịu
sự giám sát đi đúng quỹ đạo quy chế nhằm đạt được những mục đích, hiệu
quả xác định từ trước, bảo đảm cho pháp luật được tuân thủ nghiêm chỉnh.
Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội "giám sát" được giải thích:
Giám sát là việc Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội
đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và Đại
biểu Quốc hội theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ
chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc thi hành Hiến pháp, luật,
nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường

vụ Quốc hội.
Như vậy, tuy cách diễn đạt và biểu hiện ý nghĩa của từ "giám sát"
có khác nhau, nhưng các quan niệm trên đều đề cập đến nội dung cơ bản
của giám sát là việc theo dõi, xem xét, kiểm tra một chủ thể nào đó về
một việc làm đã thực hiện đúng hoặc chưa đúng quy định đã được đặt ra
để từ đó có biện pháp điều chỉnh hoặc xử lý đối với việc làm sai, hướng
tới mục đích, hiệu quả đã xác định trước, bảo đảm cho các quyết định
thực hiện đúng và đầy đủ.
Từ quan niệm chung đó, có thể thấy giám sát đối với hoạt động thực
hiện quyền lực nhà nước không chỉ là giám sát của các cơ quan nhà nước mà
là giám sát của toàn bộ hệ thống chính trị, và, chỉ khi nào giám sát được thực
hiện trong mối liên hệ mật thiết, hữu cơ với các bộ phận của toàn bộ hệ thống
chính trị thì hoạt động giám sát đó mới có hiệu quả. Đồng thời, cũng chỉ ra mối

7


quan hệ giữa giám sát của hệ thống cơ quan nhà nước và giám sát của xã hội đối
với việc thực hiện quyền lực nhà nước; đó là mối liên hệ biện chứng, thống nhất
trong cơ chế giám sát thực hiện quyền lực nhà nước mà mỗi yếu tố, mỗi mắt
xích trong cơ chế đó vận hành gắn kết với nhau nhằm mục đích nâng cao hiệu
lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước.
Việc giám sát thực hiện quyền lực nhà nước có đối tượng giám sát là tất
cả các lĩnh vực hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước và căn cứ vào phạm
vi hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước có thể phân chia thành những loại
giám sát sau: i) Giám sát đối với hoạt động của các cơ quan dân cử (Quốc hội,
Hội đồng nhân dân); ii) Giám sát đối với hoạt động của cơ quan hành chính
nhà nước; iii) Giám sát đối với hoạt động của các cơ quan tư pháp.
Giám sát luôn gắn với một chủ thể nhất định, tức là phải trả lời được
câu hỏi ai (người hoặc tổ chức nào) có quyền thực hiện việc theo dõi, xem

xét, kiểm tra và đưa ra những nhận định, đánh giá về một việc làm nào đó đã
được thực hiện đúng hoặc không đúng với những điều đã quy định, quyết
định. Ở đây, chủ thể giám sát là cơ quan dân cử, bao gồm Quốc Hội/ Nghị
viện đối với hoạt động TTHS.
Quá trình giám sát thường trải qua hai bước: bước thứ nhất theo dõi,
xem xét, kiểm tra và bước thứ hai, đánh giá, đưa ra kết luận về những nội
dung giám sát. Trong đó, bước thứ nhất là cơ sở để thực hiện bước thứ hai,
nếu theo dõi, xem xét, kiểm tra làm tốt thì việc đánh giá, kết luận sẽ đúng đắn,
chính xác và cuộc giám sát sẽ có hiệu quả và ngược lại.
Giám sát cũng luôn gắn với một đối tượng cụ thể, tức là phải trả lời
được câu hỏi giám sát ai? giám sát việc gì? Đặc điểm cơ bản này cho chúng ta
phân biệt giữa giám sát và kiểm tra. Bởi nói tới kiểm tra thì chủ thể hoạt động
kiểm tra và đối tượng chịu sự tác động này có thể đồng nhất là một. Đó là
trường hợp chủ thể tự kiểm tra hoạt động của mình, tức là tự xem xét đánh giá

8


tình trạng tốt xấu của công việc đang làm để từ đó uốn nắn, sửa chữa. Nhưng
trong hoạt động giám sát thì không thể có tình trạng tự chủ thể hoạt động
quan sát chính hành vi của mình mà phải là hoạt động theo dõi, thẩm tra và
xem xét của một chủ thể khác, từ đó đưa ra kết luận và xử lý. Khác với kiểm
tra, thanh tra, nội dung hoạt động giám sát bao giờ cũng được báo trước cho
đối tượng bị giám sát một thời gian nhất định. Cũng có ý kiến cho rằng, trong
cơ chế giám sát có cả việc tự giám sát tức là sự tự theo dõi, xem xét và kiểm
tra chính mình có thực hiện đúng những điều đã quy định không. Với quan
niệm như vậy e rằng không đúng, không phù hợp với bản chất của từ giám
sát, bởi bên cạnh khái niệm giám sát còn có khái niệm kiểm tra.
Giám sát phải thể hiện được quan hệ giữa các chủ thể tham gia vào hoạt
động giám sát. Nội dung của quan hệ này biểu hiện ở những quyền và nghĩa

vụ của chủ thể giám sát và đối tượng chịu giám sát.
Giám sát phải được tiến hành trên những căn cứ do pháp luật quy định.
Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi vì: nếu như thiếu những quy định
này thì chủ thể giám sát không có cơ sở để thực hiện quyền giám sát và tiêu
chí để đưa ra những nhận định về hoạt động của đối tượng chịu giám sát.
Giám sát là hoạt động có tính mục đích. Trước hết, mục đích của giám
sát là đưa ra được những nhận định chính xác của chủ thể giám sát đối với
hoạt động của đối tượng chịu giám sát, từ đó có các biện pháp xử lý đối với
những việc làm sai trái nhằm bảo đảm cho những quy định của pháp luật
được thực hiện đúng và có hiệu quả. Như vậy, mục đích chung của giám sát
nhà nước cũng như giám sát xã hội là bảo đảm cho sự hoạt động đúng đắn,
minh bạch, liên tục của các cơ quan tổ chức, cá nhân có chức vụ quyền hạn
trong BMNN, trên cơ sở tuân thủ thường xuyên, nghiêm chỉnh pháp luật về
nghĩa vụ, chức năng và thẩm quyền của họ.
Như vâ ̣y có thể thấ y giám sát của cơ quan dân cử đố i với hoa ̣t đô ̣ng tố

9


tụng hình sự hoàn toàn khác với hoạt động thanh tra, khác với hoạt động kiểm
sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát , hoạt động giám sát của c ác cơ quan
tổ chức xã hô ̣i như Mă ̣t trâ ̣n tổ quố c và các thành viên của mă ̣t trâ ̣n.
Giám sát của các cơ quan dân cử đối với hoạt động tố tu ̣ng hiǹ h sự
khác với thanh tra Thanh tra, do "thanh tra là kiểm tra , xem xét tại chỗ việc
làm của địa phương, cơ quan xí nghiệp" [55, tr.984]. Trong khoa học pháp lý,
thanh tra là khái niệm chủ yếu được dùng để chỉ hoạt động của các cơ quan, tổ
chức hay cá nhân có thẩm quyền và thanh tra được hiểu là:
Thanh tra nhà nước là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo
trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền

hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Thanh tra nhà nước bao gồm thanh
tra hành chính và thanh tra chuyên ngành [43].
Như vậy, về mặt khách quan có thể thấy thanh tra và giám sát giống
nhau ở chỗ cùng có hoạt động xem xét, đánh giá, nhưng khác nhau ở chỗ
giám sát là chủ động theo dõi còn thanh tra là chỉ xem xét khi có dấu hiệu vi
phạm xảy ra; thanh tra là hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước đặc trưng
trong hệ thống hành pháp với vai trò của các cơ quan thanh tra chính phủ và
thanh tra chuyên ngành, có đối tượng là các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu
sự quản lý, là một chức năng trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước
còn giám sát có tính chất là những hoạt động từ bên ngoài hệ thống đối với
các hoạt động của hệ thống cơ quan nhà nước khác.
Giám sát của các cơ quan dân cử đối với hoạt động tố tu ̣ng hình sự
khác với hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát, do kiểm sát là khái niệm dùng
để chỉ hoạt động mang tính đặc thù của Viện kiểm sát nhân dân các cấp đối
với việc đảm bảo tính pháp chế, tính hợp pháp trong các hành vi, văn bản
pháp quy của hoạt động tố tụng hình sự giải quyết vụ án.

10


Giám sát của các cơ q uan dân cử đối với hoạt động tố tu ̣ng hiǹ h sự
khác với giám sát, kiểm tra, giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các thành viên
Mặt trận. Về tính chất của hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam, được quy định tại Điều 25 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 2015.
Nhưng quy định trong luật cho thấy những sự khác nhau cơ bản giữa hoạt
động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và giám sát của cơ quan dân
cử đối với hoạt động tố tu ̣ng hiǹ h sự đó là sự khác nhau về hình thức kiểm tra
giám sát và phương thức thực hiện kiểm tra giám sát.
Như vâ ̣y, giám sát, kiểm tra, thanh tra, kiểm sát là những khái niệm gần
nghĩa, dùng để chỉ những hoạt động có phạm vi gần nhau, thậm chí có những

biểu hiện khách quan khá giống nhau như xem xét, đánh giá, tuy nhiên, giữa
chúng có sự khác nhau và phân biệt với nhau bởi đặc thù trong quan hệ pháp
lý, đối tượng chủ thể, phạm vi phương pháp thực hiện và biện pháp xử lý.
Tóm lại, thuật ngữ "giám sát" nếu hiểu theo nghĩa chung thì phạm vi áp
dụng của nó rất rộng, muốn có một khái niệm cụ thể thì hoạt động giám sát
bao giờ cũng gắn với một chủ thể xác định chẳng hạn như giám sát của Quốc
hội, giám sát của HĐND, giám sát của nhân dân.
Hê ̣ thố ng cơ quan nhà nước ở Viê ̣t Nam đươ ̣c tổ chức và hoa ̣t đô ̣ng theo
các nguyên tắc n hấ t đinh
̣ đươ ̣c quy đinh
̣ trong Hiế n pháp . Theo đó bao gồ m
các cơ quan quyền lực nhà nước , cơ quan hành chính nhà nước và các cơ
quan khác . Nguyên tắ c chung trong tổ chức và hoa ̣t đô ̣ng của bô ̣ máy nhà
nước của Viê ̣t Nam là nguyên tắ c tâ ̣p trung dân chủ, tấ t cả quyề n lực nhà nước
thuô ̣c về nhân dân . Do đó , về cơ bản các cơ quan quyề n lực nhà nước đề u do
nhân dân bầ u ra theo nguyên tắ c bầ u cử tiế n bô ̣ , hiê ̣n đa ̣i và dân chủ . Trong
đó, Quố c hô ̣i và hô ̣i đ ồng nhân dân chính là các cơ quan dân cử duy nhất
đươ ̣c nhân dân trực tiế p bằ ng là phiế u của miǹ h lựa cho ̣n , đánh giá để bầ u ra .
Nhằ m thực hiê ̣n quyề n lực của nhân dân thông qua các cơ quan dân cử của

11


mình. Chính vì vậy , hê ̣ thố ng cơ quan dân cử ở Viê ̣t Nam gồ m Quố c hô ̣i và
Hô ̣i đồ ng nhân dân các cấ p.
Như trên đã phân tić h TTHS đó là quá trình xử lý một vụ án hình sự.
Quá trình đó có sự tham gia của các cơ quan, tổ chức, cá nhân với những vị
trí, vai trò, chức năng, quyền và nghĩa vụ cụ thể , còn được gọi là địa vị pháp
lý tố tụng ; với những mối quan hệ , tác động qua lại giữa các chủ thể nhằm
thực hiện chức năng , quyền và nghĩa vụ tố tụng , hướng đến mục tiêu của

TTHS. Trong tố tu ̣ng hin
̀ h sự mu ̣c đić h quan tro ̣ng nh ất là nhằm chứng minh
tô ̣i pha ̣m, làm rõ hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm và xử lý
hình phạt đối với chúng.
Chính vì vậy, hoạt động tố tụng hình sự là hoạt động có khả năng ảnh
hướng tới các quyề n con người, quyề n công dân của chủ thể bi ̣áp du ̣ng. Cũng
duy nhấ t hoa ̣t đô ̣ng tố tu ̣ng hiǹ h sự , mà cụ thể là hoạt động xét xử của Tòa án
mới có thể tuyên mô ̣t người bi ̣coi là có tô ̣i và áp du ̣ng hiǹ h pha ̣t đố i với ho ̣ .
Hình phạt đối với người phạm tội có thể là hình phạt tước tự do thậm chí là
hình phạt tử hình tước bỏ sinh mạng của họ . Đồng thời các hoạt động tố tụng
khác cũng tác động tới quyền con người của người bị áp dụng như h oạt động
điề u tra, hoạt động áp dụng biện pháp ngăn chặn biện pháp cưỡng chế. Các cơ
quan tiế n hành tố tu ̣ng và các cơ quan khác có liên quan đế n hoa ̣t đô ̣ng tố tu ̣ng
là những cơ quan bảo vệ pháp luật

. Tuy nhiên trong nhiề u t rường hơ ̣p vì

những lý do nhấ t đinh
̣ ho ̣ có hành vi xâm

phạm tới các quyền con người cơ

bản của bị can, bị cáo, người bi ̣ha ̣i và những người liên quan khác.
Trong khi đó , mô ̣t nguyên tắ c thố ng nhấ t đươ ̣c hầ u hế t các nề n tư ph áp
tiế n bô ̣ trên thế giới thừa nhâ ̣n đó là nguyên tắ c đô ̣c lâ ̣p tư pháp , trong đó đô ̣c
lâ ̣p xét xử đươ ̣c đề cao nhấ t . Độc lập tư pháp là cơ sở , là điều kiện và là mục
tiêu để có thể bảo vê ̣ đươ ̣c các quyề n con người cơ bản , thiế u đi tiń h đô ̣c lâ ̣p
thì nền tư pháp như công cụ của chính quyền, có khả năng tác động rất lớn tới

12



các quyền con người , hạ thấp danh dự , phẩ m giá con người . Lịch sử của loài
người đã chứng minh điề u này.
Tính độc lập của Tư pháp cho phép các quan tòa đưa ra
những phán quyết đúng đắn, không những chống lại số đông của đa
số nhân dân vì không kịp nhận ra, mà còn có thể chống lại quyền
lợi của các cành quyền lực nhà nước khác. Hệ thống tư pháp cần
phải đưa ra những đối trọng đối với những hành động tùy tiện của
Nhà nước [10, tr.63].
Chính vì lẽ đó , viê ̣c đô ̣c lâ ̣p tư pháp đươ ̣c khẳ ng đinh
̣ và bảo vê ̣ trong
thế giới hiê ̣n đa ̣i. Tuy nhiên, nguyên tắ c đô ̣c lâ ̣p tư pháp có làm ảnh hưởng tới
hoạt động giám s át nói chung tới hoạt động tố tụng hoặc hoạt động giám sát
của cơ quan dân cử đối với tố tụng hình sự hay không

? Mô ̣t khi đã đô ̣c lâ ̣p

trong tư pháp thì viê ̣c giám sát – tức mô ̣t thiế t chế bên ngoài đươ ̣c quyề n kiể m
tra, giám sát , soi xét hoa ̣t đô ̣ng của các cơ quan thực hiê ̣n viê ̣c điề u tra , truy
tố , xét xử đối với tội phạm có làm mất đi tính độc lập này hay không . Trả lời
đươ ̣c điề u này cầ n phải nghiên cứu nguyên tắ c tổ chức và hoa ̣t đô ̣ng củ

a bô ̣

máy nhà nước của Việt Nam . Trong Hiế n pháp cũng như các văn bản khác
của Nhà nước đều thừa nhận nguyên tắc tập trung dân chủ và tất cả quyền lực
nhà nước thuộc về nhân dân . Các cơ quan như Quốc hội , Hô ̣i đồ ng nhân dân
là các cơ quan dân cử , do nhân dân trực tiế p bầ u ra và thực hiê ̣n quyề n lực
nhà nước đối với mọi hoạt động xã hội . Ở Việt Nam hiện nay chưa thừa nhận

và thực hiện triệt để theo nguyên tắc phân quyền với các nhánh quyền l

ập

pháp, hành pháp và tư pháp độc lập với nhau . Mà các cơ quan thực hiện các
nhánh quyến lực này đều được đặt dưới sự giám sát tối cao của Quốc hội ở
trung ương và Hô ̣i đồ ng nhân dân ở điạ phương . Do đó , viê ̣c thực hiê ̣n hoạt
đô ̣ng giám sát của các cơ quan dân cử đố i với hoa ̣t đô ̣ng tư pháp nói chung và
hoạt động giám sát của cơ quan dân cử đối với hoạt động tố tụng hình sự nói

13


riêng là cầ n thiế t . Điề u này nhằ m đảm bảo quyề n con người , quyề n công dân,
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hô ̣i và
của các công dân được đảm bảo , không bi ̣hoa ̣t đô ̣ng khởi tố , điề u tra, truy tố ,
xét xử xâm phạm tới.
Từ sự phân tić h trên có th ể rút ra khái niệm giám sát của cơ quan dân
cử đố i với hoa ̣t đô ̣ng tố tu ̣ng hiǹ h sự là việc các cơ quan dân cử gồ m Quố c
hội, Hội đồ ng nhân dân các cấ p theo dõi, xem xét và kiểm tra các hoạt động
tố tụng giải quyết vụ án đối với các chủ thể tố tụng hướng tới bảo đảm mục
đích, hiệu quả và tính đúng đắn của tố tụng hình sự đặt ra.
1.1.2. Đặc điểm giám sát của cơ quan dân cử đối với hoạt động tố tụng
Từ khái niệm trên về giám sát của cơ quan dân cử đối với hoạt động tố
tụng hình sự có thể rút ra một số đặc điểm sau:
- Về mục đích: Giám sát hoạt động tố tu ̣ng hiǹ h sự nhằm mục đích đảm
bảo cho toàn bộ hoạt động tố tu ̣ng hiǹ h sự của các cơ quan tiế n hành tố tu ̣ng
hình sự cũng như hoạt động của các người tiế n hành tố tụng trong các cơ quan
này đúng theo quy định của pháp luật về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn
đă ̣c biê ̣t cầ n tuân thủ các quy đinh

̣ của BLTTHS , Luâ ̣t tổ chức Viê ̣n kiể m sát ,
Luâ ̣t tổ chức Tòa án nhân dân , Luâ ̣t tổ chức điề u tra hình s ự. Đây chính là cơ
sở đảm bảo cho quyền lực nhà nước được kiểm soát một cách chặt chẽ, đồng
thời bổ sung cho giám sát của Quốc hội, kiểm tra của Đảng đối với các tổ
chức đảng trong các cơ quan tiế n hành tố tu ̣ng. “Kiểm tra, giám sát, kiểm soát
việc thực hiện quyền lực nhà nước là yêu cầu tất yếu khách quan nhằm bảo
đảm cho quyền lực được vận hành đúng đắn và hiệu quả” [2, tr.38]. Với mục
đích trên, giám sát hoạt động tố tu ̣ng hình sự góp phần thiết lập trật tự trong tố
tụng hình sự như: khởi tố , điề u tra, truy tố , xét xử, bảo vệ các quyền tự do, lợi
ích hợp pháp của con người, công dân, lợi ích nhà nước và lợi ích của toàn xã
hô ̣i. Đồng thời, giám sát hoạt động tố tu ̣ng hiǹ h sự cũng nhằm chống lại sự

14


lộng hành, lạm dụng quyền lực tố tụng hình sự , phát hiện và ngăn chặn các
hành vi tham nhũng, lãng phí, vi phạm pháp luật của các cán bộ có chức, có
quyền. Giám sát tố tu ̣ng hiǹ h sự nói chung và giám sát thông qua hoạt động
xét xử của Tòa án nói riêng, với ưu thế của các phán quyết của tòa án được
coi là hoạt động giám sát hữu hiệu nhất đối với hoạt động tố tu ̣ng hiǹ h sự.
Khép kín, thiếu kiểm tra, kiểm soát trong tố tụng hình sự
càng dẫn đến những nguy cơ nghiêm trọng hơn bởi lẽ đây là lĩnh
vực liên quan trực tiếp đến công cuộc đấu tranh phòng, chống vi
phạm, tội phạm, đến cuộc sống bình yên của nhân dân, trật tự, kỷ
cương của xã hội; đồng thời, toàn bộ quá trình đó đụng chạm đến
những quyền thiêng liêng nhất, đến sinh mệnh, quyền tự do của
con người [2, tr.38].
- Về chủ thể giám sát: Giám sát hoạt động tố tu ̣ng hiǹ h sự của các cơ
quan dân cử như tên go ̣i của nó được thực hiện bởi chủ thể giám sát là Quố c
hô ̣i, Hội đồng nhân dân. Đây là các cơ quan dân cử , do nhân dân trực tiế p bầ u

ra và thực hiê ̣n quyề n lực nhà

nước ở trung ương cũng như ở điạ phương

.

Theo Hiế n pháp 2013 thì:
Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực
nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội
thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng
của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước.
Đồng thời Hội đồng nhân dân: Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực
nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ
của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra , chịu trách nhiệm trước Nhân
dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên . Như vâ ̣y, đây là hai cơ quan
dân cử ở Viê ̣t Nam , có chức năng thực hiện quyền lực nhà nước ở trung ương
và địa phương.

15


Hiệu quả của hoạt động giám sát tố tu ̣ng hiǹ h sự được đảm bảo bằng
hiệu quả hoạt động giám sát của Quố c hô ̣i và Hội đồng nhân dân, các ủy ban,
ban của Quố c hô ̣i, Hội đồng nhân dân, đại biểu Quố c hô ̣i, Hội đồng nhân dân.
Với những chủ thể nêu trên có thể hình dung được tính đa dạng, phức hợp và
đan xen của hoạt động giám sát hoạt động tố tu ̣ng hiǹ h sự. Đặc điểm về chủ thể
giám sát tố tu ̣ng hin
̀ h sựnày đòi hỏi phải có sự phân định cụ thể, rõ ràng phạm vi
giám sát lĩnh vựctố tu ̣ng hin
̀ h sự, sao cho tránh được sự chồng chéo về nhiệm

vụ, chức năng giám sát đối với cùng một đối tượng bị giám sát, phát huy được
hiệu quả giám sát nói chung.
- Về đối tượng giám sát: Đối tượng giám sát là hoạt động tố tu ̣ng hiǹ h
sự của các cơ quan tiế n hành tố tu ̣ng người tiế n hành tố tụng. Đây là một hoạt
động hết sức đa dạng, phức tạp, bởi lẽ, hoạt động tố tu ̣ng hiǹ h sự là hoạt động
rấ t phức ta ̣p , có nhiều thành phần tham gia , ảnh hưởng tới quyền con người ,
quyề n công dân và các quyề n khác , tác động tớ i quyề n lơ ̣i ić h hơ ̣p pháp của
nhà nước của xã hội . Đây cũng là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước
(quyền lực công) có liên quan trực tiếp và gắn bó với đời sống hàng ngày của
nhân dân nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân và do đó
phải chịu sự giám sát của nhân dân.
- Về hình thức và phương pháp giám sát: Với mỗi một chủ thể giám sát
có các hình thức giám sát và phương pháp giám sát đặc thù. Do đặc điểm về
chủ thể giám sát và đối tượng giám sát nêu trên mà hình thức và phương pháp
giám sát hoạt động tố tu ̣ng hình sự cũng phải linh hoạt, trong đó đă ̣c trưng của
hoạt động giám sát của cơ quan dân cử đối với tố tụng hình sự đó là hoạt động
giám sát mang tính quyền lực nhà nước. Sử du ̣ng các công cu ̣ và phương pháp
mang tính mê ̣nh lê ̣nh hành chính và cưỡng chế cao của cơ quan quyề n lực nhà
nước ở trung ước và điạ phương.
Giám sát mang tính quyền lực nhà nước là hình thức giám sát do cơ

16


quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành đối với hoạt động tố tu ̣ng hiǹ h sự
theo nguyên tắc phân công quyền lực nhà nước do Hiến pháp và pháp luật
quy định. Đó là hoạt động giám sát của Quố c hô ̣i và Hội đồng nhân dân với
tính cách là hoạt động giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương
và địa phương đối với hoạt động hành tố tu ̣ng hiǹ h sự đươ ̣c thực hiê ̣n trên điạ
bàn cả nước.

Hình thức và phương pháp giám sát hoạt động tố tu ̣ng hiǹ h sự là tổng
hợp các biện pháp pháp lý với các trình tự, thủ tục cụ thể nhằm đạt được mục
đích giám sát. Khi thực hiện các hoạt động giám sát, các chủ thể giám sát chỉ
được thực hiện các hình thức và phương pháp giám sát theo luật định. Các hình
thức và phương thức giám sát được thực hiện một cách thường xuyên bao gồm
cả giám sát trước (tiền kiểm) như giám sát việc ban hành văn bản quy phạm
pháp luật, giám sát việc lập quy hoạch, kế hoạch hoạt động, giám sát trong quá
trình thực hiện hành vi tố tu ̣ng và giám sát sau (yêu cầ u điề u tra xét xử la ̣i, yêu
cầ u khởi tố , yêu cầ u báo cáo ,...). Đặc điểm này cho thấy hình thức và phương
pháp giám sát hoạt động tố tu ̣ng hình sựmang tính phức hợp, đòi hỏi phải được
thực hiện một cách khoa học mới đem lại hiệu quả giám sát cao.
1.2. Vai trò , ý nghĩa của giám sát của cơ quan dân cử đối với hoạt
đô ̣ng tố tụng hình sự
1.2.1. Vai trò của giám sát của cơ quan dân cử đối với hoạt động tố
tụng hình sự
Giám sát của cơ quan dân cử đối với hoạt động TTHS thể hiện những
vai trò sau:
- Hoạt động giám sát của cơ quan dân cử đối với tố tụng hình sự nh ằm
đảm bảo cho các cơ quan dân cử

thật sự là cơ quan đại diện cho ý chí,

nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước
thuộc về nhân dân.

17


Trong xã hội ta, nhân dân là người sáng tạo lịch sử, nhân dân là nguồn
gốc của quyền lực. Tư tưởng và chân lý đó đã được các bản Hiến pháp từ

Hiến pháp 1946 đến Hiến pháp 2013 khẳng định: Tất cả quyền lực nhà nước
thuộc về nhân dân. Nhân dân thực hiện quyền lực của mình thông qua cơ
quan đại diện từ Quốc hội đến Hội đồng nhân dân các cấp. Các cơ quan dân
cử ở Viê ̣t Nam gồ m có Quố c hô ̣i và Hô ̣i đồ ng nhân dân các cấ p

là cơ quan

đại diện, cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương cũng như địa phương,
thay mặt nhân dân thực thi quyền lực nhà nước bằng cách căn cứ vào Hiến
pháp, Luật, tình hình thực tế địa phương mà quyết định các biện pháp tổ
chức thực hiện Hiến pháp, Luật. Nghị quyết của Quố c hô ̣i , Hội đồng nhân
dân vừa mang tính đại diện, vừa mang tính quyền lực nhà nước, có giá trị
bắt buộc chung cho mọi cơ quan, tổ chức và công dân ở cả nước. Như vậy,
giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật của các cơ quan dân cử đối với
hoạt động tố tụng hình sự là một trong những biện pháp cần thiết và không
thể thiếu được nó, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền lực nhà
nước thuộc về nhân dân.
Hễ ở đâu và chừng nào, mọi hoạt động của các cơ quan nhà nước, các
cán bộ nhân viên nhà nước trong đó có các cơ quan tiế n hành tố tu ̣ng hình sự
và người tiến hành tố tụng hình sự

đặt dưới sự giám sát của Quốc hội, Hội

đồng nhân dân thì khi ấy quyền lực nhà nước mới thực sự thuộc về nhân
dân. Hễ ở đâu chừng nào, quyền giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân
bị xem nhẹ hoặc bị xâm hại thì khi ấy quyền lực của nhân dân không được
đảm bảo và có thể trở thành hình thức. Chính vì vậy, bắt đầu công cuộc đổi
mới trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã nhận
định về các cơ quan dân cử và xác định yêu cầu đối với các cơ quan dân cử
là “Tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước, trước hết nêu cao vị trí của

Quốc hội và Hội đồng nhà nước, vai trò của HĐND các cấp. Vẫn còn tình

18


×