Tải bản đầy đủ (.pdf) (4 trang)

Tóm tắt kiến thức sơ lược và Cảm nhận về bài thơ Đây Thôn Vĩ Dạ (chương trình ngữ văn lớp 11)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (373.71 KB, 4 trang )

Khóa NGỮ VĂN 11 – GV: Vũ Thị Dung

Facebook: DungVuThi.HY

BÀI 28
ID: 53785
Chuyên đề: VĂN HỌC HIỆN ĐẠI

ĐÂY THÔN VĨ DẠ
(Hàn Mặc Tử)
A A. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT
1. Về kiến thức
- Vẻ đẹp thơ mộng, đượm buồn của thôn Vĩ và nỗi buồn, cô đơn trong cảnh ngộ bất hạnh của
một con người tha thiết yêu thiên nhiên, yêu sự sống.
- Phong cách thơ Hàn Mặc Tử qua bài thơ: một hồn thơ luôn quằn quại yêu, đau; trí tưởng tượng
phong phú; hình ảnh thơ có sự hòa quyện giữa thực và ảo.
2. Về kĩ năng
- Đọc - hiểu một bài thơ trữ tình theo đặc trưng thể loại.
- Cảm thụ, phân tích tác phẩm thơ.
3. Về thái độ
Yêu mến khung cảnh thiên nhiên thôn Vĩ; thấu hiểu, sẻ chia với nỗi niềm tâm trạng và lòng yêu
đời, yêu sự sống tha thiết của nhân vật trữ tình.
B. NỘI DUNG BÀI HỌC
I. TÌM HIỂU CHUNG
1. Tác giả
- Hàn Mặc Tử (1912 -1940), tên khai sinh là Nguyễn Trọng Trí, sinh ở làng Lệ Mĩ, tổng Võ
Xá, huyện Phong Lộc, tỉnh Đồng Hới (nay là Quảng Bình).
- Gia đình viên chức nghèo, theo đạo Thiên Chúa.
- Cuộc đời: bất hạnh, ngắn ngủi (bệnh phong hành hạ).
- Sự nghiệp: Là một trong những nhà thơ có sức sáng tạo dồi dào nhất trong Trường thơ loạn
(gồm Yến Lan, Bích Khê, Chế Lan Viên) và phong trào Thơ mới. Chế Lan Viên gọi Hàn Mặc Tử


là ngôi sao chổi trên bầu trời thơ Việt Nam.
Thơ ông kì dị, đầy bí ẩn và phức tạp  tình yêu đau đớn với con người và cuộc sống.
2. Văn bản
2.1. Xuất xứ và nguồn cảm hứng sáng tác
- Viết năm 1938, in trong tập Thơ Điên.
- Nguồn cảm hứng sáng tác: Trong thời gian làm nhân viên Sở Đạc điền Bình Định (khoảng
những năm 1932 - 1933), Hàn Mặc Tử có thầm yêu Hoàng Thị Kim Cúc quê ở Vĩ Dạ nhưng sống
ở Qui Nhơn. Ít lâu sau Hàn Mặc Tử vào Sài Gòn làm báo, khi mắc bệnh phong, trở lại Qui Nhơn
thì Kim Cúc đã theo gia đình về quê, hai người có thư từ qua lại. Một lần, Kim Cúc gửi cho Hàn

Moon.vn - Học để khẳng định mình

1

Hotline: 0432 99 98 98


Khóa NGỮ VĂN 11 – GV: Vũ Thị Dung

Facebook: DungVuThi.HY

Mặc Tử một tấm thiếp vẽ phong cảnh Huế có hình người chèo đò trên sông Hương với lời thăm
hỏi chúc thi sĩ mau bình phục. Sau đó, khoảng năm 1939, Kim Cúc nhận được bài thơ Đây thôn Vĩ
Dạ do Hàn Mặc Tử tặng kèm theo mấy dòng cảm tạ chân thành.
 Tấm thiếp và những lời thăm hỏi của Kim Cúc đã gợi cảm hứng để Hàn Mặc Tử viết Đây
thôn Vĩ Dạ, thể hiện tình yêu thầm kín của mình, tâm trạng của mình trong hoàn cảnh éo le, bất
hạnh.
2.2. Bố cục
- Khổ 1: Cảnh ban mai thôn Vĩ và tình người tha thiết.
- Khổ 2: Cảnh hoàng hôn thôn Vĩ và niềm đau cô lẻ, chia lìa.

- Khổ 3: Nỗi niềm thôn Vĩ.
II. ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN
1. Khổ 1
* Câu đầu: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?” là câu hỏi nhưng lại gợi cảm giác như lời trách
nhẹ nhàng và cũng là lời mời gọi tha thiết của cô gái thôn Vĩ với nhà thơ (Lời nhà thơ tự trách, tự
hỏi mình, là ước ao thầm kín của người đi xa được về lại thôn Vĩ).
+ “Về chơi” ≠ “về thăm”.
“Về thăm” có vẻ xã giao.
“Về chơi” mang sắc thái thân mật, tự nhiên, chân tình hơn.
 Câu hỏi là duyên cớ để khơi dậy trong tâm hồn nhà thơ bao kỉ niệm sâu sắc, bao hình ảnh
đẹp đẽ, đáng yêu của xứ Huế, trước hết là Vĩ Dạ- nơi có người mà nhà thơ thương mến và đẹp nhất
là cảnh thôn Vĩ trong ánh bình minh.
* Ba câu sau: Vẻ đẹp hữu tình của thiên nhiên thôn Vĩ trong khoảnh khắc hừng đông.
- Hai câu 2&3:
+ Không tả mà chỉ gợi những gì gây ấn tượng mạnh mẽ và sâu sắc, còn lưu trong tâm trí người
ở nơi xa.
+ “Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên”: phác qua cái nhìn từ xa tới, chưa đến Vĩ Dạ nhưng đã
thấy những hàng cau thẳng tắp, cao vút, vượt lên trên những cây khác, những tàu lá cau lấp lánh
ánh mặt trời buổi sớm mai.
 Quan sát tinh tế: cái đẹp của thôn Vĩ không phải chỉ do “nắng” hay do “hàng cau” mà là
do “nắng hàng cau”, do sự hài hoà của ánh nắng vàng rực rỡ trên hàng cau tươi xanh.
Hai chữ “nắng” trong câu thơ bảy chữ gợi đúng đặc điểm của nắng miền Trung: nắng nhiều,
chói chang, rực rỡ ngay từ lúc bình minh. “Nắng mới lên” thật trong trẻo, tinh khiết, có cảm giác
ánh nắng ấy làm bừng sáng cả khoảng trời hồi tưởng của nhà thơ.
+ “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”: cái nhìn thật gần của người như đang đi trong những khu
vườn tươi đẹp của thôn Vĩ. Có thể coi cái thần thái của thôn Vĩ là vườn cây, vườn bao bọc quanh
nhà, gắn với ngôi nhà thành một cấu trúc thẩm mĩ xinh xắn.
“Mướt”: gợi được sự chăm sóc chu đáo, gợi được vẻ tươi tốt, đầy sức sống của vườn cây cũng
như cái sạch sẽ, láng bóng của từng chiếc lá cây dưới ánh mặt trời.


Moon.vn - Học để khẳng định mình

2

Hotline: 0432 99 98 98


Khóa NGỮ VĂN 11 – GV: Vũ Thị Dung

Facebook: DungVuThi.HY

“Vườn ai mướt quá”: mang sắc thái ngợi ca.
“Xanh như ngọc”: phép so sánh thật đẹp gợi hình ảnh những lá cây xanh mướt, mượt mà được
“nắng mới lên”, cái ánh nắng mặt trời rực rỡ buổi sớm mai chiếu xuyên qua trở nên có màu xanh
trong suốt và ánh lên như ngọc.
 Tình yêu thiên nhiên, cuộc sống tha thiết, ân tình sâu sắc, đậm đà với thôn Vĩ.
- “Lá trúc che ngang mặt chữ điền”: Sự xuất hiện của con người làm cảnh vật thêm sinh động.
Tuy nhiên, con người xuất hiện thật kín đáo, rất đúng với bản tính của người Huế, vì chỉ thấy thấp
thoáng sau những chiếc lá trúc là khuôn mặt chữ điền, khuôn mặt của người ngay thẳng, cương
trực, phúc hậu theo quan niệm thời xưa.
 Hàn Mặc Tử càng gợi rõ hơn thần thái của thôn Vĩ: cảnh xinh xắn, người phúc hậu, thiên
nhiên và con người hài hoà với nhau trong một vẻ đẹp kín đáo, dịu dàng.
2. Khổ 2
- Hai câu đầu: Bao quát toàn cảnh
+ Tả thực vẻ êm đềm, nhịp điệu khoan thai của xứ Huế: gió mây nhè nhẹ bay đi, dòng nước
chảy lững lờ, cây cỏ khẽ đung đưa.
+ Nghệ thuật nhân hoá  thiên nhiên cảnh vật cũng nhuốm màu tâm trạng con người.
Nhịp thơ 4/3  sự chia li, tan tác.
Sự vận động ngược chiều của hình ảnh thơ  sự trống vắng của không gian.
 Hình ảnh đẹp nhưng cũng thật lạnh lẽo, dường như nó phảng phất tâm trạng u buồn, cô đơn

của nhà thơ.
- Hai câu thơ sau: dòng sông Hương trong đêm trăng lung linh, huyền ảo
+ Cảnh thực mà như ảo: Dòng sông ánh sáng, lấp lánh ánh trăng vàng, dòng ánh sáng tuôn
chảy khắp vũ trụ làm cho không gian nghệ thuật thêm hư ảo, mênh mang. Con thuyền vốn có thực
trên sông trở thành một hình ảnh của mộng tưởng, nó đậu trên bến sông trăng để chở trăng về một
nơi nào đó trong mơ.
+ Con thuyền, dòng sông, ánh trăng trong sự hồi tưởng của quá khứ lại gắn với cảm nghĩ của
nhà thơ trong hiện tại. Nhà thơ muốn con thuyền chở trăng về kịp “tối nay” chứ không phải mộ tối
nào khác. Phải chăng trong “tối nay”, nhà thơ có điều gì muốn tâm sự và chỉ có trăng mới hiểu
được?
 Cho thấy tâm hồn nhà thơ có buồn và cô đơn, khắc khoải nhưng vẫn chan chứa tình yêu với
con người và thiên nhiên xứ Huế.
3. Khổ 3
- Nhà thơ trực tiếp tâm sự với người xứ Huế.
- Điệp ngữ “Khách đường xa”: nhấn mạnh thêm nỗi xót xa. Câu thơ đầu như lời tâm sự của
nhà thơ với chính mình: Trước lời mời của cô gái thôn Vĩ, có lẽ nhà thơ chỉ là người khách quá xa
xôi, hơn thế, chỉ là người khách trong mơ.
Có thể hiểu câu thơ theo hai nghĩa:

Moon.vn - Học để khẳng định mình

3

Hotline: 0432 99 98 98


Khóa NGỮ VĂN 11 – GV: Vũ Thị Dung

Facebook: DungVuThi.HY


+ Về nghĩa thực: Xứ Huế nắng nhiều, mưa nhiều cũng nhiều sương khói, sương khói làm tăng
thêm vẻ hư ảo, mộng mơ của Huế nhưng sương khói đều màu trắng, “áo em” cũng màu trắng thì
chỉ thấy bóng người thấp thoáng, mờ ảo.
+ Về nghĩa bóng: cái sương khói làm mờ cả bóng người ấy phải chăng tượng trưng cho cái
huyền hoặc của cuộc đời đang làm cho tình người trở nên khó hiểu, xa vời?
- Câu cuối mang chút hoài nghi mà lại chan chứa niềm thiết tha với cuộc đời.
Nhà thơ sử dụng rất tài tình đại từ phiếm chỉ “ai”  câu thơ trở nên đa nghĩa:
+ Nhà thơ làm sao mà biết được tình người xứ Huế có đậm đà không hay cũng mờ ảo, dễ có
chóng tan như sương khói kia?
+ Người xứ Huế có biết chăng tình cảm nhà thơ với cảnh Huế, người Huế hết sức thắm thiết,
đậm đà?
 Dù hiểu theo nghĩa nào thì câu thơ cũng chỉ tăng thêm nỗi cô đơn, trống vắng trong tâm
hồn tha thiết yêu thương con người và cuộc đời.
III. TỔNG KẾT
1. Nghệ thuật
- Trí tưởng tượng phong phú.
- Nghệ thuật so sánh, nhân hoá; thủ pháp lấy động gợi tĩnh, sử dụng câu hỏi tu từ...
- Hình ảnh sáng tạo, có sự hoà quyện giữa thực và ảo.
2. Nội dung
Bức tranh phong cảnh Vĩ Dạ và lòng yêu đời, ham sống mãnh liệt mà đầy uẩn khúc của nhà
thơ.
Giáo viên Vũ Dung
Nguồn: Moon.vn

Moon.vn - Học để khẳng định mình

4

Hotline: 0432 99 98 98




×