Tải bản đầy đủ (.pdf) (84 trang)

Vai trò của viện kiểm sát nhân dân trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại tòa án theo quy định của pháp luật hiện hành

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (753.04 KB, 84 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

KHUẤT THU HƯƠNG

VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG VIỆC
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI
TẠI TÒA ÁN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH
Chuyên ngành
: Pháp luật kinh tế
Mã số chuyên ngành : 60380107

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học : TS. VŨ THỊ HỒNG VÂN

HÀ NỘI – 2014


LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được luận văn này, tác giả xin được gửi lời cảm ơn sâu
sắc đến tập thể các thầy cô giáo Khoa sau đại học, Trường Đại học Luật Hà
Nội, các thầy, cô giáo trong Tiểu ban Luật Kinh tế đã tận tình giảng dạy,
hướng dẫn giúp đỡ và tạo điều kiện trong suốt thời gian tác giả học tập và
nghiên cứu.
Đặc biệt tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới T.S Vũ Thị
Hồng Vân - Phó hiệu trưởng trường Đại học Kiểm sát Hà Nội – Người đã tận


tình trực tiếp hướng dẫn và có nhiều gợi mở để tác giả đi đúng hướng và phát
huy khả năng sáng tạo trong công trình nghiên cứu này.
Qua đây tác giả cũng xin được gửi lời cảm ơn đến Ban lãnh đạo viện,
các Đồng nghiệp tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình đã tạo điều kiện
trong quá trình tác giả học tập, nghiên cứu và thu thập các tài liệu phục vụ cho
việc viết Luận văn.
Bên cạch nguồn động viên, giúp đỡ trên, tác giả còn nhận được sự động
viên, khích lệ về tinh thần cũng như mọi mặt từ bố mẹ, gia đình và bạn bè.
Tác giả trân trọng những tình cảm ấy.
Nội dung trình bày trong Luận văn là những kết quả nghiên cứu bước
đầu. Mặc dù đã cố gắng hết sức song trong quá trình nghiên cứu, thu thập tài
liệu để viết nên cuốn luận văn này vẫn không thể tránh khỏi những sai sót, rất
mong nhận được sự đóng góp ý kiến quý báu từ phía thầy cô, bạn bè để luận
văn được hoàn thiện hơn.!.
TÁC GIẢ

KHUẤT THU HƯƠNG


MỤC LỤC
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................ 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài ...................................................................... 2
3. Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu ......................... 3
4. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................... 4
5. Những đóng góp của Luận văn ................................................................. 4
6. Kết cấu của Luận văn................................................................................ 5

CHƯƠNG I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA VIỆN
KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
KINH DOANH, THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN .......................................... 6
1.1. Khái quát chung về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại
tòa án................................................................................................................6
1.1.1. Khái niệm giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại tòa án ... 6
1.1.2. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại tòa án . 8
1.1.3. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại toà án11
1.1.4. Thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại tòa án ..... 19
1.2. Vai trò của viện kiểm sát nhân dân trong việc giải quyết tranh chấp
kinh doanh thương mại tại tòa án .............................................................. 24
1.2.1. Khái niệm kiểm sát giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại
tại tòa án.........................................................................................................24
1.2.2. Nhiệm vụ, quyền hạn của viện kiểm sát nhân dân trong việc giải
quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại tại tòa án ............................. 25


1.3. Sơ lược về sự hình thành và phát triển của pháp luật về vai trò của
Viện kiểm sát nhân dân trong giải quyết các tranh chấp kinh doanh
thương mại tại Tòa án...................................................................................27
1.3.1. Giai đoạn từ trước khi có BLTTDS 2004 ........................................... 27
1.3.2. Giai đoạn từ khi có BLTTDS 2004 đến khi có BLTTDS 2011 ........... 28
1.3.3. Giai đoạn từ khi có BLTTDS 2011 đến nay ....................................... 29
KẾT LUẬN CHƯƠNG I ............................................................................ 31
CHƯƠNG II. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ VAI TRÒ CỦA VIỆN
KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN ......................................... 32
2.1. Vai trò của viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động thụ lý tranh
chấp kinh doanh thương mại ...................................................................... 32
2.1.1. Trình tự sơ thẩm ................................................................................. 32

2.1.2. Trình tự phúc thẩm ............................................................................ 35
2.1.3. Trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm....................................................... 35
2.2. Vai trò của viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động kiểm sát bản án,
quyết định giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại ....................... 36
2.3. Vai trò của viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động tham gia phiên
tòa, phiên họp giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa
án .................................................................................................................. 39
2.3.1. Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa ....................................... 39
2.3.2. Vviện kiểm sát nhân dân tham gia phiên họp.....................................44
2.4. Vai trò của viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động kháng nghị, kiến
nghị............................................................................................................... 45
2.4.1. Hoạt động kháng nghị ........................................................................ 45
2.4.2. Hoạt động kiến nghị ........................................................................... 49
KẾT LUẬN CHƯƠNG II ........................................................................... 52


CHƯƠNG III. THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP
NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI
TÒA ÁN ....................................................................................................... 53
3.1. Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về vai trò của viện
kiểm sát nhân dân trong hoạt động giải quyết các tranh chấp kinh doanh
thương mại................................................................................................... 53
3.1.1. Số liệu ................................................................................................. 53
3.1.2. Đánh giá chung về thực tiễn áp dụng chức năng kiểm sát việc giải
quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại................................................... 54
3.2. Yêu cầu nâng cao vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong giải
quyết tranh chấp kinh doanh thương mại. ................................................ 62
3.2.1. Quán triệt sâu sắc chủ trương đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện
kiểm sát nhân dân theo tiến trình cải cách tư pháp ..................................... 62

3.2.2. Việc nâng cao chất lượng của hoạt động kiểm sát giải quyết các vụ án
kinh doanh, thương mại phải bảo đảm quán triệt sâu sắc quan điểm của
Đảng về chức năng, nhiệm vụ của ngành Kiểm sát nhân dân trong công tác
kiểm sát việc giải quyết vụ việc dân sự, vụ án kinh doanh, thương mại ...... 63
3.2.3. Việc nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác kiểm sát giải quyết các vụ
án kinh doanh, thương mại phải đáp ứng yêu cầu giải quyết kịp thời, hiệu quả đáp
ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế ............................................................ 64
3.3. Giải pháp nâng cao vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong giải
quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại tòa án ................................. 65
3.3.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết TCKDTM và vai trò của
Viện kiểm sát nhân dân trong giải quyết TCKDTM .................................... 65
3.3.2. Giải pháp về công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành ............................ 70
3.3.3. Giải pháp về công tác tổ chức cán bộ ................................................. 71


3.3.4. Các giải pháp khác ............................................................................. 72
KẾT LUẬN CHƯƠNG III ......................................................................... 73
KẾT LUẬN .................................................................................................. 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................... 75


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BLTTDS : Bộ luật tố tụng dân sự
BLTTDS 2004: Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004
BLTTDS 2011: Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự
năm 2004
KDTM: Kinh doanh thương mại
KSV: Kiểm sát viên
TCKDTM: Tranh chấp kinh doanh thương mại

TTDS: Tố tụng dân sự
TAND: Tòa án nhân dân
VKSND: Viện kiểm sát nhân dân
VKS : Viện kiểm sát


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong giai đoạn kinh tế thị trường hiện nay có rất nhiều tranh chấp phát
sinh trong lĩnh vực KDTM, những tranh chấp này gia tăng cả về số lượng và
mức độ nghiêm trọng của tranh chấp. Những tranh chấp gắn liền với hoạt
động KDTM của các chủ thể bởi không có bất kỳ một tổ chức, cá nhân nào
khi tham gia hoạt động KDTM lại luôn luôn yên bình. Điều đó đòi hỏi chúng
ta phải có những phương thức giải quyết TCKDTM một cách triệt để và hiệu
quả đảm bảo sự công bằng và thực thi của pháp luật, cũng như sự công bằng
cho các chủ thể khi tham gia vào hoạt động KDTM.
Là một trong các cơ quan thuộc bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, VKSND giữ vai trò quan trọng trong hệ thống các cơ quan
thực thi và bảo vệ tính ổn định, trật tự pháp luật của xã hội, góp phần thực
hiện nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước giao cho trong công cuộc cải cách tư
pháp đang trên đà triển khai và thực hiện mà vai trò của VKSND không nằm
ngoài quỹ đạo đó. Với chức năng “thực hành quyền công tố và kiểm sát các
hoạt động tư pháp” VKSND góp phần đẩy lùi những tồn tại tiêu cực xã hội,
bảo vệ pháp luật của nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Việc ban hành BLTTDS 2011 là một bước tiến trong quá trình cải cánh tư
pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời nó cũng thay đổi
một phần quy trình tố tụng dân sự nói chung và quá trình giải quyết TCKDTM nói
riêng. Sự thay đổi này đảm bảo sự thực thi của pháp luật với vai trò kiểm sát việc

tuân theo pháp luật của VKSND góp phần cho việc thực hiện các quy định pháp
luật trong quá trình tố tụng tại tòa án được đảm bảo, tạo điều kiện cho hoạt động
giải quyết các TCKDTM đảm bảo tính khách quan, kịp thời và đúng pháp luật, tạo
môi trường pháp lý lành mạnh, qua đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các
đương sự. Trong thời gian qua, đã có nhiều ý kiến cho rằng trong hoạt động giải
quyết các TCKDTM không cần có sự tham gia của VKS bởi đối với các vụ án này,


2

các bên đương sự có quyền tự thỏa thuận, tự định đoạt. Chính vì vậy, hiệu quả hoạt
động tham gia phiên toà của VKS trong lĩnh vực KDTM chưa cao, nhiều vụ án mặc
dù có sự tham gia của KSV nhưng vẫn chưa đảm bảo tính khách quan của vụ án,
đồng thời các vụ án KDTM gia tăng ngày càng nhiều và tính phức tạp ngày càng
tăng lại biến đổi nhanh, khiến cho hệ thống pháp luật đã bộc lộ nhiều bất cập, thiếu
sót. Bên cạnh đó, trình độ, năng lực của các cán bộ trong lĩnh vực tư pháp chưa đáp
ứng được yêu cầu của cải cách tư pháp khiến cho nhiều vụ án vẫn có oan sai, khiếu
kiện bức xúc kéo dài, tỷ lệ bản án, quyết định KDTM của tòa án bị hủy, bị sửa do
sai sót vẫn còn nhiều.
Với những yêu cầu đặt ra về việc đảm bảo thực thi của pháp luật và nâng
cao hơn nữa hiệu quả hoạt động giải quyết các TCKDTM, đặc biệt là đảm bảo tính
thực thi của BLTTDS 2011 việc nghiên cứu đề tài “Vai trò của Viện kiểm sát nhân
dân trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án theo quy
định của pháp luật hiện hành” là một vấn đề cần thiết.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm qua có rất nhiều những đề tài nghiên cứu về vấn đề giải
quyết TCKDTM như: Luận văn thạc sĩ của Cung Mỹ Anh với đề tài “Giải quyết
tranh chấp kinh doanh thương mại theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sựNhững vướng mắc và giải pháp khắc phục” (2008) hay “Giải quyết tranh chấp kinh
doanh, thương mại tại tòa án nhân dân - Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả
hoạt động” (2012) là luận văn thạc sĩ luật học,của tác giả Phạm Thị Ban. Ngoài ra

còn có các bài đăng trên tạp chí chuyên ngành về pháp luật như: “ Các phương thức
giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại theo pháp luật Việt Nam trong điều
kiện hội nhập kinh tế quốc tế” của Ths. Dương Nguyệt Nga (2007); hay bày đăng
“Có cần thiết phân biệt “Tranh chấp dân sự” với “Tranh chấp kinh doanh, thương
mại” trong quá trình giải quyết tại toà án?” (2011) của tác giả Đặng Thanh Hoa;
“Một số kiến nghị nhằm thực thi có hiệu quả các quy định về thẩm quyền giải quyết
tranh chấp kinh doanh, thương mại của tòa án theo quy định của pháp luật hiện
hành” (2014) của TS. Vũ Thị Hồng Vân…


3

Những công trình trên đã nghiên cứu về một phần vai trò, nhiệm vụ quyền
hạn của VKSND khi tham gia vào một quá trình cụ thể trong việc giải quyết
TCKDTM ở tòa án nói riêng và vai trò của VKS trong TTDS nói chung. Đặc biệt
những nghiên cứu trên phần lớn là được tiến hành khi BLTTDS 2004 đã và đang có
hiệu lực. Từ tình hình nghiên cứu đề tài như trên, với sự kế thừa và phát triển những
nghiên cứu đã đạt được của các công trình nghiên cứu, tác giả xin mạnh dạn đưa ra
những nghiên cứu của mình về vấn đề đề: “Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân
trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án theo quy định
của pháp luật hiện hành”. Với việc đi vào nghiên cứu toàn bộ hoạt động, vai trò
của VKS trong mọi giai đoạn tố tụng tại tòa án khi tiến hành giải quyết TCKDTM,
và đặc biệt hơn Luận văn sẽ làm rõ hơn nữa vai trò của VKSND trong việc giải
quyết TCKDTM tại tòa án theo những quy định mới của BLTTDS 2011.
3. Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
- Mục đích
Khi nghiên cứu đề tài này, luận văn muốn làm rõ hơn về vai trò của VKSND
trong việc giải quyết các TCKDTM từ đó nâng cao nhận thức về vai trò của VKS
trong quá trình giải quyết TCKDTM tại tòa án. Đồng thời đưa ra những kiến nghị
nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả trong quá trình VKS tham gia giải

quyết TCKDTM tại tòa án.
-Nhiệm vụ
Với mục đích như trên, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài được xác định gồm:
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận về vai trò của VKSND trong TTDS nói
chung và trong giải quyết TCKDTM nói riêng;
- Nghiên cứu thực tiễn vai trò của VKSND trong giải quyết TCKDTM tại tòa
án, đánh giá những kết quả đã đạt được và những khó khăn, vướng mắc trong quá
trình áp dụng pháp luật giải quyết TCKDTM của VKSND, tìm hiểu nguyên nhân
của những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn thi hành;
- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của
VKSND trong lĩnh vực này.


4

- Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận về TCKDTM và những
TCKDTM thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án.
Luận văn chủ yếu đề cập đến vai trò của VKSND trong hoạt động giải quyết
TCKDTM tại tòa án theo qui định pháp luật hiện hành, trên cơ sở so sánh với quy
định của pháp luật tố tụng dân sự trước đây để thấy được những điểm tiến bộ về vai
trò của VKSND trong giải quyết TCKDTM. Vai trò của VKSND trong việc giải
quyết việc KDTM không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn. Vì vậy, tác giả
luận văn cũng chỉ khảo sát những số liệu và thực tiễn thi hành trong thời gian 5 năm
gần đây từ trước và sau khi có BLTTDS 2011 (2009-2013).
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp phân tích, đánh giá những quy định của pháp
luật về vai trò của VKSND trong hoạt động tố tụng dân sự nói chung và trong việc
giải quyết TCKDTM tại tòa án nói riêng.
Phương pháp lịch sử được tác giả sử dụng trong Luận văn nêu lên quá trình

phát triển về vai trò của VKSND trong việc giải quyết TCKDTM tại tòa án qua các
thời kỳ từ đó đưa ra những sự so sánh đánh giá những thay đổi về vai trò của
VKSND qua các thời kỳ đó.
Phương pháp thống kê được tác giả sử dụng để đưa ra những số liệu về quá
trình tham gia của VKSND trong hoạt động giải quyết TCKDTM tại tòa án, từ
những số liệu đó có thể thấy và đánh giá về vai trò của VKSND trong hoạt động
giải quyết TCKDTM tại tòa án.
Ngoài ra, tác giả còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống như:
so sánh BLTTDS 2004 và BLTTDS 2011 để đưa ra những thay đổi của pháp luật
qua từng thời kỳ; phương pháp quy nạp, diễn giải được tác giả sử dụng để làm rõ
hơn vai trò của VKSND trong giải quyết TCKDTM.
5. Những đóng góp của Luận văn

Luận văn làm rõ được vai trò của VKSND trong việc giải quyết
TCKDTM tại tòa án từ đó giúp cho bạn đọc và các đồng nghiệp làm trong


5

ngành kiểm sát hình dung và hiểu thêm về vai trò của VKSND trong vấn đề
này. Trên cơ sở đó luận văn đánh giá hiệu quả của việc VKSND tham gia
hoạt động giải quyết TCKDTM tại tòa án, và nêu lên những giải pháp nhằm
hoàn thiện pháp luật cũng như tăng cường hơn nữa hiệu quả của công tác
chuyên môn nghiệp vụ, đồng thời đưa ra những giải pháp về công tác quản lý,
chỉ đạo điều hành và công tác tổ chức cán bộ của ngành kiểm sát.
6. Kết cấu của Luận văn
Ngoài lời nói đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, Luận văn được kết
cầu gồm 3 chương như sau:
Chương I: Một số vấn đề chung về vai trò của viện kiểm sát nhân dân trong
việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại tòa án

Chương II: Quy định của pháp luật về vai trò của viện kiểm sát nhân dân
trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại tòa án
Chương III. Thực tiễn áp dụng và một số giải pháp nâng cao vai trò của
viện kiểm sát nhân dân trong giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại tại
tòa án


6

CHƯƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT
NHÂN DÂN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH,
THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN
1.1. Khái quát chung về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
tại tòa án
1.1.1. Khái niệm giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại tòa án
Chúng ta có thể hiểu TCKDTM là sự bất đồng, mâu thuẫn, xung đột về
quyền và nghĩa vụ của các chủ thể kinh doanh liên quan đến lợi ích kinh tế trong
quá trình hoạt động trong quá trình hoạt động KDTM. TCKDTM là hệ quả phát
sinh từ các quan hệ KDTM, và các quan hệ có tính mục đích kinh doanh kiếm lời.
TCKDTM phát sinh trên cơ sở có sự xâm phạm đến quyền lợi kinh tế của các bên.
Nếu những tranh chấp này không được giải quyết triệt để thì có thể ảnh hưởng đến
sự phát triển của nền kinh tế, bởi nếu không có một cơ chế giải quyết tranh chấp tốt
thì sẽ gây nên một sự xung đột lớn trong nền kinh tế, gây ảnh hưởng đến môi trường
kinh tế của Việt Nam, đến hoạt động KDTM của các chủ thể thực hiện hoạt động
KDTM với mục đích lợi nhuận, đây chính là phản ứng dây chuyền của TCKDTM
nếu nó không được giải quyết một cách kịp thời, đúng cách, đúng pháp luật và đảm
bảo lợi ích hợp pháp của các bên cũng như sự thoản thuận mà các bên đã giao kết
với nhau. Việc giải quyết triệt để được các TCKDTM sẽ giúp có môi trường cạnh
tranh lành mạnh thúc đấy phát triển hoạt động KDTM phát triển từ đó phát triển nền

kinh tế và phát triển đất nước.
Giải quyết TCKDTM là việc các bên tranh chấp thông qua hình thức, thủ tục
thích hợp tiến hành các giải pháp nhằm loại bỏ những mâu thuẫn, xung đột, bất
đồng về lợi ích kinh tế nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của họ.
Giải quyết TCKDTM tại tòa án là hình thức giải quyết thông qua hoạt động
của cơ quan tài phán nhà nước, nhân danh quyền lực nhà nước để đưa ra phán quyết
buộc các bên phải chấp hành, kể cả bằng sức mạnh cưỡng chế.


7

Đặc điểm của giải quyết TCKDTM tại tòa án
- Việc giải quyết tranh chấp của tòa án phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy
định mang tính hình thức của pháp luật tố tụng.
- Tòa án giải quyết tranh chấp theo nguyên tắc xét xử công khai.
Xét xử công khai là nguyên tắc đặc thù trong hoạt động của tòa án, xuất phát
từ bản chất của hoạt động xét xử là bảo vệ công lý, lẽ công bằng được nhà nước ghi
nhận bằng pháp luật, xã hội thừa nhận bằng sự tự nguyện, tuân thủ vô điều kiện,
nguyên tắc xét xử công khai của tòa án có tác dụng giáo dục ý thức chấp hành pháp
luật của mọi người răn đe, cảnh báo những hành vi vi phạm pháp luật.
- Việc giải quyết tranh chấp thông qua quyết định của tòa án có thể qua nhiều
cấp độ xét xử. Hoạt động xét xử của tòa án thông qua hai cấp xét xử: sơ thẩm, phúc
thẩm. Trong một số trường hợp cụ thể, các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật còn có thể xét xử thủ tục đặc biệt là giám đốc thẩm và tái thẩm. Nguyên tắc
nhiều cấp xét xử đảm bảo cho quyết định của tòa án được chính xác, công khai,
khách quan và đúng pháp luật.
- Các phán quyết của tòa án được bảo đảm thi hành bằng chính sức mạnh
cưỡng chế của nhà nước.
- Tòa án giải quyết các tranh chấp theo nguyên tắc xét xử tập thể và theo
nguyên tắc đa số.

Việc tòa án xét xử các TCKDTM không chỉ góp phần làm ổn định các quan
hệ kinh tế thị trường mà còn tác động tích cực vào các quan hệ đó, đảm bảo cho các
quan hệ kinh tế này tồn tại và phát triển phù hợp với định hướng phát triển chung
của đất nước. Phương thức giải quyết tranh chấp bằng tòa án có một số ưu điểm
như: do cơ quan xét xử của nhà nước là tòa án trực tiếp thụ lý giải quyết nên phán
quyết của tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì có tính cưỡng chế cao nếu không tự
nguyện chấp hành thì sẽ bị cưỡng chế. Do đó, khi đã đưa ra tòa án để giải quyết thì
quyền lợi của người thắng kiện sẽ được đảm bảo nếu như bên thua kiện có tài sản
để thi hành án. So với phương thức giải quyết bằng trọng tài, thương lượng, hay hòa
giải thì việc giải quyết bằng tòa án có ưu thế hơn hẳn về tính cưỡng chế, bắt buộc


8

thi hành. Bởi phương thức giải quyết bằng tòa án có trình tự tố tụng được tiến hành
chặt chẽ và quy định đầy đủ trong BLTTDS, đồng thời tòa án đưa ra phán quyết
cuối cùng nhân danh nhà nước bắt buộc thi hành đối với các chủ thể có liên quan.
Tuy nhiên, phương thức này cũng có nhược điểm, bởi với nguyên tắc xét xử công
khai của tòa án tuy là nguyên tắc được xem là mang tính tiến bộ, răn đe nhưng đôi
khi lại là cản trở đối với các thương nhân khi những bí mật kinh doanh bị tiết lộ
trong quá trình giải quyết TCKDTM lâu dài ở tòa án. Với những ưu điểm và hạn
chế của việc giải quyết TCKDTM bằng tòa án như trên, ở Việt Nam phương thức
giải quyết TCKDTM bằng tòa án vẫn được các chủ thể lựa chọn nhiều nhất.
1.1.2. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại tòa án

Khi tiến hành giải quyết các TCKDTM và trong TTDS nói chung tòa
án đều phải tuân thủ những nguyên tắc chung của BLTTDS 2011 như: nguyên
tắc đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa (Điều 3); nguyên tắc quyền yêu cầu
tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp (Điều 4); Nguyên tắc quyền quyết
định và tự định đoạt của đương sự (Điều 5); Nguyên tắc trách nhiệm cung cấp

chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền (Điều 7); Nguyên tắc
bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong TTDS (Điều 8); Nguyên tắc quyền tự
bảo vệ cho đương sự (Điều 9); Nguyên tắc hòa giải trong TTDS (Điều 10);
Nguyên tắc hội thẩm nhân dân tham gia xét xử vụ án dân sự (Điều 11);
Nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo
pháp luật (Điều 12); hay những trách nhiệm của cơ quan, người tiến hành tố
tụng dân sự (Điều 13); Nguyên tắc tòa án xét xử tập thể (Điều 14); Nguyên
tắc xét xử công khai (Điều 15); Nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của những
người tiến hành tố tụng (Điều 16); Nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử
(Điều 17); Nguyên tắc giám đốc việc xét xử (Điều 18); Nguyên tắc bảo đảm
hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án (Điều 19); Nguyên tắc tiếng nói và
chữ viết dùng trong tố tụng dân sự (Điều 20); Nguyên tắc kiểm sát việc tuân
theo pháp luật trong TTDS (Điều 21); Nguyên tắc trách nhiệm chuyển giao tài


9

liệu giấy tờ của tòa án (Điều 22); Nguyên tắc việc tham gia tố tụng dân sự của
cá nhân, cơ quan tổ chức (Điều 23); Nguyên tắc đảm bảo quyền tranh luận
trong TTDS (Điều 23a), và cuối cùng là nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại,
tố cáo trong TTDS được quy định tại Điều 24.
Khi tiến hành giải quyết các TCKDTM nói riêng và TTTDS nói chung
tòa án luôn luôn phải tuân thủ các nguyên tắc trên để đảm bảo cho việc xét xử
đúng quy định của pháp luật. Trong số các nguyên tắc trên chúng ta cần lưu ý
một số nguyên tắc quan trọng, cơ bản của giải quyết TCKDTM được
BLTTDS 2011 quy định như sau:
Nguyên tắc quyết định và tự định đoạt của đương sự
Điều 5 BLTTDS 2011 quy định về nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương
sự. Đây là nguyên tắc cơ bản đối với việc giải quyết các TCKDTM. Trên cở sở đảm
bảo quyền tự do kinh doanh, nhà nước không can thiệp vào các hoạt động kinh

doanh của các bên. Khi xảy ra tranh chấp, các đương sự có quyền tự giải quyết với
nhau, tự quyết định phương thức và nội dung giải quyết. Chính vì vậy, khi có phát
sinh tranh chấp, các bên có quyền yêu cầu nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của mình; nhưng ngược lại, họ cũng có quyền từ bỏ quyền lợi của mình đã bị
xâm phạm cho dù đã yêu cầu nhà nước bảo vệ. Tòa án không tự đưa các TCKDTM
của các bên ra xét xử mà phải có đơn khởi kiện của một trong các bên tranh chấp.
Quyền tự định đoạt của các bên được thể hiện ở quyền tự hòa giải ở tòa án,
quyền rút đơn khởi kiện, quyền thay đổi nội dung đơn khởi kiện, quyền tự do lựa
chọn các phương thức giải quyết tranh chấp khác nhau. Nguyên tắc này được thể
hiện trong tất cả các giai đoạn của quá trình tố tụng từ sơ thẩm, đến phúc thẩm,
ngoài ra còn được thực hiện trong các giai đoạn của quá trình thi hành bản án, quyết
định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật.


10

Nguyên tắc hòa giải
Điều 10 BLTTDS 2011 quy định hòa giải là nguyên tắc cơ bản, là thủ tục bắt
buộc khi giải quyết TCKDTM, trừ những tranh chấp không được hòa giải theo quy
định tại Điều 181 hoặc không tiến hành hòa giải được theo quy định tại các Điều
182 BLTTDS 2004 và có ý nghĩa hết sức quan trọng. Thông qua hòa giải, nếu hòa
giải thành sẽ giúp cho việc giải quyết tranh chấp giảm bớt căng thẳng, tiết kiệm
công sức, tiền bạc của các bên và của nhà nước, không phải thông qua thủ tục xét
xử hoặc thi hành được dễ dàng hơn; phát huy tinh thần hợp tác, đoàn kết, hạn chế
được việc khiếu nại, khởi kiện phức tạp và vụ án kéo dài. Việc hòa giải được thực
hiện ở tất cả các giai đoạn sơ thẩm, phúc thẩm, từ khi chuẩn bị xét xử tại phiên tòa.
Tuy nhiên, chỉ có giai đoạn xét xử sơ thẩm thì mới bắt buộc hòa giải, còn ở giai
đoạn xét xử phúc thẩm nếu các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải
quyết vụ án và thỏa thuận đó là tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội thì
hội đồng xét xử phúc thẩm công nhận sự thỏa thuận đó.

Nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh
Điều 6 BLTTDS 2011 có quy định như về nguyên tắc chứng cứ và chứng
minh của các chủ thể trong quá trình giải quyết TCKDTM bởi nhiệm vụ của tòa án
trong giải quyết các TCKDTM là dựa vào những chứng cứ thu thập được sau đó
đưa ra phán quyết cuối cùng. Để tòa án có thể chấp nhận yêu cầu của mình, đương
sự phải cung cấp chứng cứ và chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ. Các bên
đương sự cũng có quyền đưa ra chứng cứ để phản đối, chứng minh yêu cầu của bên
kia là không có căn cứ. Tòa án sẽ không chấp nhận yêu cầu của các bên đương sự
nếu yêu cầu đó không có căn cứ. Việc nâng cao trách nhiệm tự chứng minh của các
đương sự đảm bảo cho việc giải quyết TCKDTM được nhanh chóng, chính xác và
khách quan. Trong trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập chứng cứ và có
yêu cầu thì tòa án mới tự mình thu thập chứng cứ hoặc trong một số trường hợp mà
pháp luật có quy định.


11

Nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS
Theo quy định tại Điều 21 BKTTDS 2011 thì VKSND ngoài việc kiểm sát
việc tuân theo pháp luật trong TTDS, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng
nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ án KDTM
kịp thời, đúng pháp luật như đã quy định tại Điều 21 BLTTDS 2004. So với
BLTTDS 2004 phạm vi tham gia phiên tòa sơ thẩm của VKS đã được mở rộng hơn,
VKS tham gia tất cả các phiên tòa mà tòa án tiến hành thu thập chứng cứ, hoặc đối
tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc
có một bên đương sự là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất,
tâm thần, chứ không chỉ tham gia các phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án do Tòa
án tiến hành thu thập chứng cứ mà đương sự có khiếu nại. Bên cạnh đó phạm vi
tham gia phiên tòa phúc thẩm của VKSND theo BLTTDS 2011 rộng lớn hơn rất
nhiều so với các quy định của BLTTDS 2004, bởi VKS phải tham gia tất cả các

phiên tòa phúc thẩm, chứ không phải chỉ những phiên toà phúc thẩm mà VKS
kháng nghị bản án quyết định của tòa án.
Nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS nói chung và giải
quyết các TCKDTM nói riêng, được pháp luật quy định nhằm nâng cao vai trò của
VKSND trong hệ thông các cơ quan tư pháp, đồng thời đảm bảo cho hoạt động thực
thi pháp luật của các chủ thế tiến hành tố tụng được khách quan hơn. Việc hướng
dẫn thi hành hoạt động tham gia phiên toàn của VKSND được ghi nhận tại Thông
tư liên tịch số 04/2012/ TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/08/2012 thông tư liên
tịch hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTDS về kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong TTDS.
1.1.3. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại toà án

1.1.3.1. Thẩm quyền theo vụ việc của tòa án
Trên thực tế, không phải bất cứ TCKDTM nào cũng thuộc thẩm quyền giải
quyết của tòa án, chính vì vậy Điều 29 BLTTDS 2011 đã liệt kê các TCKDTM
thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án bao gồm:


12

1. Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa
cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi
nhuận bao gồm:
a) Mua bán hàng hoá;

k) Vận chuyển hàng hoá,

b) Cung ứng dịch vụ;

hành khách bằng đường hàng


c) Phân phối;

không, đường biển;

d) Đại diện, đại lý;
đ) Ký gửi;

l) Mua bán cổ phiếu, trái
phiếu và giấy tờ có giá khác;

e) Thuê, cho thuê, thuê mua;
g) Xây dựng;

m) Đầu tư, tài chính, ngân
hàng;

h) Tư vấn, kỹ thuật;

n) Bảo hiểm;

i) Vận chuyển hàng hoá,

o) Thăm dò, khai thác.

hành khách bằng đường sắt, đường
bộ, đường thuỷ nội địa;
2. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá
nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.
3. Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các

thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải
thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty.
4. Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy
định.”
Để áp dụng những quy định trên thì các TCKDTM phải thỏa mãn các
điều điều kiện được hướng dẫn cụ thể tại Điều 6 Nghị quyết số 03/2012/NQ HĐTP ngày 03/12/2012 hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ
nhất “những quy định chung” của BLTTDS đã được sửa đổi bổ sung theo luật
sửa đổi bổ sung một số điều của BLTTDS (Nghị quyết số 03/2012) bao gồm:


13

Thứ nhất, cá nhân, tổ chức phải có đăng ký kinh doanh tức là cá nhân, tổ
chức đã được các cơ quan có thẩm quyền đăng ký kinh doanh cấp giấy chứng nhận
đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật như: cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp
tác (theo Bộ luật dân sự năm 2005, Luật Thương mại và các văn bản quy phạm
pháp luật khác của về đăng ký kinh doanh); doanh nghiệp (theo Luật Doanh nghiệp
và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp); hợp
tác xã, liên hiệp hợp tác xã (theo Luật Hợp tác xã và các văn bản quy phạm pháp
luật hướng dẫn thi hành Luật Hợp tác xã); cá nhân, tổ chức khác theo quy định của
pháp luật về đăng ký kinh doanh.
Thứ hai, cá nhân, tổ chức trong hoạt động KDTM phải có mục đích lợi
nhuận, theo đó, mục đích lợi nhuận thể hiện ở mong muốn của cá nhân, tổ chức mà
không phân biệt có thu được hay không thu được lợi nhuận từ hoạt động KDTM đó.
Hoạt động KDTM là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng
hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục
đích sinh lợi khác quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại. Hoạt động
KDTM không chỉ là hoạt động trực tiếp theo đăng ký KDTM mà còn bao gồm cả
các hoạt động khác phục vụ thúc đẩy, nâng cao hiệu quả hoạt động KDTM.
Đối với các tranh chấp quy định tại Khoản 2 Điều 29 của BLTTDS 2011 thì

không nhất thiết đòi hỏi cá nhân, tổ chức phải có đăng ký kinh doanh mà chỉ đòi hỏi
cá nhân, tổ chức đều có mục đích lợi nhuận từ hoạt động KDTM; nếu chỉ có một
bên có mục đích lợi nhuận, còn bên kia không có mục đích lợi nhuận, thì tranh chấp
đó là tranh chấp về dân sự quy định tại Khoản 4 Điều 25 của BLTTDS 2011.
Đối với tranh chấp giữa các công ty và các thành viên công ty với nhau liên
quan đến thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia tách, chuyển đổi
hình thức tổ chức của công ty. Cần chú ý những điểm sau:

Một là, các tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty là
các tranh chấp về phần vốn góp của mỗi thành viên đối với công ty (thông
thường phần vốn góp đó được tính bằng tiền, nhưng cũng có thể bằng hiện vật
hoặc bằng giá trị quyền sở hữu công nghiệp); về mệnh giá cổ phiếu và số cổ


14

phiếu phát hành đối với mỗi công ty cổ phần; về quyền sở hữu một phần tài
sản của công ty tương ứng với phần vốn góp vào công ty; về quyền được chia
lợi nhuận hoặc về nghĩa vụ chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp vào công ty;
về yêu cầu công ty đổi các khoản nợ hoặc thanh toán các khoản nợ của công
ty, thanh lý tài sản và thanh lý các hợp đồng mà công ty đã ký kết khi giải thể
công ty; về các vấn đề khác liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể,
sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty.
Hai là, các tranh chấp giữa các thành viên của công ty với nhau, đây là các
tranh chấp giữa các thành viên của công ty về trị giá phần vốn góp vào công ty; về
việc chuyển nhượng phần vốn góp vào công ty giữa các thành viên của công ty hoặc
về việc chuyển nhượng phần vốn góp vào công ty của thành viên công ty đó cho
người khác không phải là thành viên của công ty; về việc chuyển nhượng cổ phiếu
không ghi tên và cổ phiếu có ghi tên; về mệnh giá cổ phiếu, số cổ phiếu phát hành
và trái phiếu của công ty cổ phần hoặc về quyền sở hữu tài sản tương ứng với số cổ

phiếu của thành viên công ty; về quyền được chia lợi nhuận hoặc về nghĩa vụ chịu
lỗ, thanh toán nợ của công ty; về việc thanh lý tài sản, phân chia nợ giữa các thành
viên của công ty trong trường hợp công ty bị giải thể, về các vấn đề khác giữa các
thành viên của công ty liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập,
hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty.

Bai là, nếu giữa công ty với các thành viên của công ty hoặc giữa các
thành viên của công ty có tranh chấp với nhau, nhưng tranh chấp đó không
liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia,
tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty mà chỉ liên quan đến các quan
hệ khác như quan hệ lao động, quan hệ dân sự (ví dụ: Tranh chấp về bảo hiểm
xã hội, về trợ cấp cho người lao động, về hợp đồng lao động, về hợp đồng
vay, mượn tài sản...) thì tranh chấp đó không phải là TCKDTM quy định tại
Khoản 3 Điều 29 của BLTTDS 2011. Tùy từng trường hợp cụ thể để xác định
đó là tranh chấp về dân sự hay tranh chấp về lao động.


15

1.1.3.2. Thẩm quyền theo cấp xét xử của tòa án
- Thẩm quyền của tòa án nhân dân cấp huyện
Trước đây, BLTTDS 2004 chỉ giao chín loại TCKDTM từ Điểm a đến Điểm
g Khoản 1 Điều 29 cho TAND cấp huyện, còn năm loại tranh chấp từ Điểm k đến
Điểm o lại thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp tỉnh. Với việc quy định giao
cho TAND cấp huyện cả mười bốn loại tranh chấp tại Khoản 1 Điều 29 BLTTDS
2011 đã mở rộng thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện mà không phân biệt đến
tính phức tạp, đến độ khó của từng tranh chấp cụ thể.
Ngoài những nội dung đã được sửa đổi cụ thể nêu trên thì các quy định khác
tại Điều 33 BLTTDS 2004 được giữ nguyên. Tuy nhiên, căn cứ vào từng trường
hợp cụ thể, tính phức tạp của vụ việc mà trong một số trường hợp thuộc thẩm quyền

giải quyết của TAND huyện nhưng TAND cấp tỉnh vẫn lấy lên để giải quyết; các vụ
việc này thường là các vụ việc vận dụng pháp luật, chính sách có nhiều khó khăn
hoặc phải giám định kỹ thuật phức tạp, hoặc đương sự là các cán bộ chủ chốt ở địa
phương, những người có uy tín trong tôn giáo mà xét thấy việc xét xử ở TAND cấp
huyện sẽ không có lợi về chính trị.
- Thẩm quyền của tòa án nhân dân cấp tỉnh
Các TCKDTM thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp tỉnh giải quyết
sơ thẩm không thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp huyện gồm có:
Thứ nhất, tranh chấp quy định tại Khoản 1 Điều 29 BLTTDS 2004 mà có
đương sự hoặc có tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan
đại diện nước Cộng Hòa XHCN Việt Nam ở nước ngoài, cho tòa án nước ngoài.
Theo Điều 7 Nghị quyết 03/2012 quy định:
Các TCKDTM có đương sự ở nước ngoài bao gồm: đương sự là người nước
ngoài không định cư, làm ăn, học tập, công tác ở Việt Nam có mặt hoặc không có
mặt tại Việt Nam vào thời điểm tòa án thụ lý vụ án KDTM; đương sự là người Việt
Nam định cư, làm ăn, học tập, công tác ở nước ngoài có mặt hoặc không có mặt tại
Việt Nam vào thời điểm tòa án thụ lý vụ vụ án KDTM; đương sự là người nước
ngoài định cư, làm ăn, học tập, công tác ở Việt Nam nhưng không có mặt tại Việt


16

Nam vào thời điểm tòa án thụ lý vụ án KDTM; đương sự là người Việt Nam định cư,
làm ăn, học tập, công tác ở Việt Nam nhưng không có mặt tại Việt Nam vào thời
điểm tòa án thụ lý vụ án KDTM; cơ quan, tổ chức không phân biệt là cơ quan, tổ
chức nước ngoài hay cơ quan, tổ chức Việt Nam mà không có trụ sở, chi nhánh, văn
phòng đại diện tại Việt Nam vào thời điểm tòa án thụ lý vụ án KDTM.
Các TCKDTM có tài sản ở nước ngoài, là những tài sản được xác định theo
quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 ở ngoài biên giới lãnh thổ của nước Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại thời điểm tòa án thụ lý vụ án KDTM.

Các TCKDTM cần phải ủy thác tư pháp bao gồm: các vụ án KDTM khi giải
quyết cần phải uỷ thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam ở nước ngoài, cho tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài hay cần
phải uỷ thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam ở nước ngoài, cho tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài là trường
hợp trong quá trình giải quyết vụ án KDTM cần phải tiến hành một hoặc một số
hoạt động tố tụng dân sự ở nước ngoài mà tòa án Việt Nam không thể thực hiện
được, cần phải yêu cầu cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam ở nước ngoài thực hiện hoặc đề nghị tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước
ngoài thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc
theo nguyên tắc có đi có lại.
Thứ hai, tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa các
cá nhân, tổ chức với nhau được quy định tại Khoản 2 Điều 29 BLTTDS 2011 và
hướng dẫn tại Điều 7 Nghị quyết 03/2012.
Thứ ba, tranh chấp giữa các cong ty và thành viên của công ty với nhau liên
quan đến thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia tách, chuyển đổi
hình thức tổ chức của công ty theo quy định tại Khoản 3 Điều 29 BLTTDS 2011 và
hướng dẫn tại Điều 7 Nghị quyết 03/2012.
Thẩm quyền giải quyết các TCKDTM của TAND cấp tỉnh thuộc về tòa kinh
tế và ủy ban thẩm phán TAND cấp tỉnh. Tòa kinh tế TAND cấp tỉnh có thẩm quyền
sơ thẩm tất cả các TCKDTM trừ trường hợp thuộc thẩm quyền của TAND cấp


17

huyện. Khi cần thiết, tòa kinh tế TAND cấp tỉnh có thể lấy lên để giải quyết theo
thủ tục sơ thẩm các tranh chấp thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện (Khoản 2
Điều 34 BLTTDS 2011).
Ngoài thẩm quyền giải quyết sơ thẩm như trên Tòa kinh tế TAND cấp tỉnh
còn có những thẩm quyền đối với vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu

lực pháp luật của tòa án cấp huyện kháng cáo, kháng nghị. Ủy ban thẩm phán
TAND cấp tỉnh có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm đối với những vụ án mà bản
án, quyết định sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp huyện bị kháng nghị
theo trình tự tố tụng (Khoản 1 Điều 291 BLTTDS 2011).
- Thẩm quyền của tòa án nhân dân Tối cao
Thẩm quyền giải quyết các TCKDTM của TAND tối cao thuộc Tòa kinh tế,
Tòa phúc thẩm và Hội đồng thẩm phán TAND tối cao theo đó: Tòa kinh tế TAND
tối cao có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ án mà bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp tỉnh bị kháng cáo, kháng nghị theo trình tự
tố tụng (Khoản 2 Điều 291 BLTTDS 2011); Tòa phúc thẩm TAND tối cao có thẩm
quyền phúc thẩm đối với những vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu
lực pháp luật của TAND cấp tỉnh bị kháng cáo, kháng nghị (Điều 250 BLTTDS
2011); Hội đồng thẩm phán TAND tối cao có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm
đối với những vụ án mà bản án, quyết định của các tòa thuộc TAND tối cao bị
kháng nghị theo trình tự tố tụng (Khoản 2 Điều 291).
1.1.3.3. Thẩm quyền theo lãnh thổ
Thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ là thẩm quyền của Toà án trong giải
quyết TCKDTM theo phạm vi lãnh thổ. Thực chất, đây là sự phân định thẩm quyền
xét xử sơ thẩm TCKDTM giữa các Toà án cùng cấp. Nhằm phát huy tối đa quyền từ
định đoạt của đương sự Điều 35 BLTTDS 2011 quy định cụ thể ba trường hợp sau:
Một là, tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị
đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục
sơ thẩm những TCKDTM tại Điều 29 của BLTTDS 2011.


18

Hai là, các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu
Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có
trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những

TCKDTM được quy định tại Điều 29 của BLTTDS 2011. Lưu ý khi thỏa thuận,
không được trái với quy định tại Điều 33, Điều 34 BLTTDS 2011.
Ba là, toà án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp về
bất động sản.
Lưu ý: Việc xác định nơi cư trú, làm việc, nơi có trụ sở trong ba trường hợp
trên được xác định tại thời điểm nộp đơn khởi kiện ra Tòa án giải quyết vụ án.
1.1.3.4. Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn
Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, để tạo điều kiện
thuận lợi nhất cho họ thực hiện việc khởi kiện đến Tòa án giải quyết, Điều 36
BLTTDS 2011 quy định có thể xác định thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn
của nguyên đơn. Những quy định về thẩm quyền giải quyết TCKDTM theo sự lựa
chọn của nguyên đơn là cơ sở quan trọng cho các Tòa án xác định được thẩm quyền
giải quyết của mình trong những trường hợp thực tế có nhiều cách xác định khác
nhau, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho nguyên đơn phát huy quyền tự định đoạt
của mình trong tố tụng dân sự.
Khi xác định thẩm quyền giải quyết TCKDTM theo sự lựa chọn của nguyên
đơn để xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, phải cùng
đồng thời xem xét đến thẩm quyền giải quyết theo lãnh thổ. Vấn đề này được Nghị
quyết 03/2012 hướng dẫn cụ thể tại Điều 9 như sau:
Trong trường hợp nguyên đơn được quyền lựa chọn nhiều Toà án có thẩm
quyền khác nhau giải quyết vụ án KDTM, (ví dụ: Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm
việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản quy định tại điểm a khoản 1
Điều 36 của BLTTDS), thì khi nhận đơn khởi kiện, Toà án phải giải thích cho họ
biết là chỉ có một Toà án trong các Toà án được nêu trong điều luật mới có thẩm
quyền giải quyết vụ án KDTM để họ lựa chọn và Toà án do nguyên đơn lựa chọn
phải yêu cầu họ cam kết không khởi kiện tại các Toà án khác.


×