Tải bản đầy đủ (.pdf) (71 trang)

Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm theo bộ luật tố tụng hình sự việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (515.03 KB, 71 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ HƯỜNG

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ, KIỂM SÁT
VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM
THEO BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 60380104

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Văn Huyên

HÀ NỘI - 2014


1

LỜI CẢM ƠN
Qua thời gian nỗ lực, phấn đấu học tập và nghiên cứu, cùng với sự giúp
đỡ tận tình của các thầy, cô giảng viên trường Đại học Luật Hà Nội, đặc biệt
là của thầy Nguyễn Văn Huyên - thầy hướng dẫn trực tiếp cho em, luận văn
thạc sỹ luật học của em đã hoàn thành. Xin gửi lời cảm ơn chân thành, lời
kính chúc sức khỏe, hạnh phúc đến toàn thể các thầy, cô đã truyền dạy cho em
những kiến thức quý báu, làm hành trang cho em vững bước vào đời. Em xin


chân thành cảm ơn!


2

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLTTHS: Bộ luật Tố tụng hình sự
CTPT: Chủ tọa phiên tòa
HĐXX: Hội đồng xét xử
HSST: Hình sự sơ thẩm
HTND: Hội thẩm nhân dân
KSV: Kiểm sát viên
NTGTT: Người tham gia tố tụng
TAND: Tòa án nhân dân
TP: Thẩm phán
TTHS: Tố tụng hình sự
VKS: Viện kiểm sát
XXST: Xét xử sơ thẩm


3

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 5
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỰC HÀNH QUYỀN
CÔNG TỐ, KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TẠI PHIÊN
TÒA HÌNH SỰ SƠ THẨM .......................................................................... 9
1.1. Khái niệm thực hành quyền công tố tại phiên tòa sơ thẩm ......... 9
1.2. Khái niệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm 12
1.3. Đặc điểm thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo

pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm ................................................................. 13
1.4. Mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân
theo pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm ......................................................... 21
1.5. Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về thực hành
quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm
..................................................................................................................... 24
1.5.1. Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thực hành quyền công tố
tại phiên tòa sơ thẩm .................................................................................... 25
1.5.2. Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về kiểm sát việc tuân theo
pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm ..................................................................... 34
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO
PHÁP LUẬT TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM ............................................. 43
2.1. Thực tiễn thực hành quyền công tố tại phiên tòa sơ thẩm......... 43
2.1.1. Những kết quả đạt được .............................................................. 43
2.1.2. Những tồn tại, hạn chế ................................................................ 47


4

2.2. Thực tiễn kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa sơ
thẩm ............................................................................................................ 53
2.2.1. Những kết quả đạt được .............................................................. 53
2.2.2. Những tồn tại, hạn chế ................................................................ 55
2.3. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong thực hành quyền
công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm ........ 56
2.4. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quyền công tố và
kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm .......................... 58
KẾT LUẬN ................................................................................................. 66
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 68



5

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Điều 107 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân thực
hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp”. Điều 1 Luật Tổ chức Viện
kiểm sát nhân dân năm 2002 cũng nêu rõ: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành
quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến
pháp và pháp luật”. Điều 23 của BLTTHS năm 2003: “Viện kiểm sát nhân
dân thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự, quyết định việc truy tố
người phạm tội ra trước Tòa án”. Bên cạnh những kết quả đạt được của các
Kiểm sát viên trong việc đưa người phạm tội ra trước Tòa án để xét xử và bảo
vệ buộc tội cũng như bảo đảm cho hoạt động xét xử đúng pháp luật thì thực
hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Kiểm sát viên tại
phiên tòa sơ thẩm thời gian qua cũng còn nhiều hạn chế, chủ yếu tập trung
vào việc đọc cáo trạng, xét hỏi và trình bày lời luận tội, còn việc đối đáp,
tranh luận với người bào chữa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác
vẫn bị coi nhẹ. Điều này làm ảnh hưởng đến chất lượng giải quyết vụ án tại
các phiên tòa. Do đó, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ
Chính trị đã xác định phải: “Nâng cao chất lượng công tố của kiểm sát viên
tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng dân chủ với luật sư, người bào chữa và
những người tham gia tố tụng khác”. Vì vậy, việc nâng cao chất lượng thực
hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm
trở thành một yêu cầu của cải cách tư pháp, một đòi hỏi cấp bách trong giai
đoạn hiện nay.
Xuất phát từ yêu cầu và đòi hỏi trên, tôi chọn đề tài: “Thực hành quyền
công tố, kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm theo Bộ luật
tố tụng hình sự Việt Nam”



6

2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên
tòa sơ thẩm đã thực sự trở thành một vấn đề được quan tâm trong công cuộc
cải cách tư pháp hiện nay. Đã có nhiều công trình, nhiều bài viết trên các tạp
chí về hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật
như: “Phân biệt thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp
trong tố tụng hình sự”, Tạp chí kiểm sát, số 09 (tháng 5/2009) của tác giả
Nguyễn Tiến Sơn; “Bàn về việc tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa
hình sự sơ thẩm”, Tạp chí kiểm sát, số 13 (tháng 7/2007) của tác giả Dương
Thanh Biểu; “Một số vấn đề về quyền công tố”, kỷ yếu đề tài khoa học cấp
bộ: Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực tiễn hoạt động công tố ở
Việt Nam từ năm 1945 đến nay; Đề tài độc lập cấp Nhà nước: “Những vấn đề
lý luận và thực tiễn của việc đổi mới thủ tục tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu
cải cách tư pháp” của Tiến sỹ Lê Hữu Thể… và một số luận văn thạc sĩ luật
học tại các trường đại học, học viện khác.
Các công trình nghiên cứu về vấn đề này tuy đã làm rõ vị trí, vai trò của
cơ quan tiến hành tố tụng, của Kiểm sát viên (KSV) tại phiên tòa sơ thẩm;
những bất cập, hạn chế trong tổ chức và hoạt động; đưa ra những phương
hướng, giải pháp đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động thực hành quyền
công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm. Tuy nhiên,
còn có nhiều quan điểm khác nhau, các công trình nghiên cứu thực hành
quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật ở giai đoạn điều tra, hoặc
nghiên cứu chức năng của Viện kiểm sát (VKS) trong cả giai đoạn xét xử sơ
thẩm (XXST) vụ án hình sự; mặt khác hoạt động thực hành quyền công tố và
kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm của VKS trên thực tế
còn nhiều vướng mắc, đặc biệt trước yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay cần có

những giải pháp đồng bộ, kịp thời nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng xét xử


7

tại phiên tòa, đảm bảo phán quyết của Tòa án công minh, đúng người, đúng
tội. Tiếp thu những thành quả của các công trình nghiên cứu trước đây, luận
văn là sự tiếp nối làm sâu sắc hơn nội dung thực hành quyền công tố và kiểm
sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm.
3. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài
Phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu thực hành quyền công
tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
(HSST). Đề tài tập trung đi sâu vào nghiên cứu quy định của Bộ luật tố tụng hình
sự hiện hành (năm 2003), theo tinh thần cải cách tư pháp về thực hành quyền công
tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm, liên hệ với thực tiễn
và đề ra các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động này.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quy định của pháp luật về thực hành
quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS tại phiên tòa sơ
thẩm và thực tiễn hoạt động này của VKS.
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích: Luận văn nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về thực
trạng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên
tòa sơ thẩm. Trên cơ sở đó, luận văn đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao
chất lượng hoạt động này của VKS nhân dân.
Nhiệm vụ: Nghiên cứu những vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố
và kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm. Nghiên cứu thực
trạng thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa
sơ thẩm ở Việt Nam, thấy được những ưu điểm, những tồn tại, hạn chế và
nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế đó. Đề ra các giải pháp nâng cao chất
lượng, hiệu quả thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật

tại phiên tòa sơ thẩm.


8

5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận Mác – Lê nin, Tư tưởng Hồ Chí
Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây
dựng cải cách tư pháp trong thời kỳ đổi mới, kết hợp với thành tựu khoa học
Luật Tố tụng hình sự một số nước. Luận văn kết hợp giữa phương pháp lịch
sử với phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê…để giải quyết vấn
đề.
6. Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn làm sáng tỏ cơ sở lý luận về thực hành quyền công tố và kiểm
sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm, phân tích và phân định hai
chức năng này của VKS. Làm rõ thực trạng thực hành quyền công tố và kiểm
sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm, đặc biệt là thực tiễn thực
hành chúng theo tinh thần cải cách tư pháp hiện nay. Trên cơ sở đó, đề xuất
những giải pháp nâng cao hơn nữa chất lượng thực hành quyền công tố và
kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 2 chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố và kiểm sát
việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa hình sự sơ thẩm.
Chương 2: Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hành quyền
công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm.


9


CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỰC HÀNH QUYỀN
CÔNG TỐ, KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TẠI PHIÊN
TÒA HÌNH SỰ SƠ THẨM
1.1. Khái niệm thực hành quyền công tố tại phiên tòa sơ thẩm
Trong nhiều tài liệu pháp lý ở nước ta, có nhiều ý kiến khác nhau khi
nghiên cứu về chức năng công tố, thực hành quyền công tố và kiểm sát việc
tuân theo pháp luật. Khái niệm chức năng công tố thường được hiểu đồng
nghĩa với thực hành quyền công tố. Bên cạnh đó, việc phân biệt thực hành
quyền công tố với kiểm sát việc tuân theo pháp luật chưa thực sự rõ ràng.
Theo Điều 137 Hiến pháp 1992 thì VKS nhân dân thực hiện chức năng
kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố, Điều 107 Hiến
pháp 2013 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm
sát hoạt động tư pháp”. Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 đã quy
định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn của VKS nhân dân trong tố tụng hình sự
nói chung và trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng. Điều 23
của BLTTHS năm 2003 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền
công tố trong tố tụng hình sự, quyết định việc truy tố người phạm tội ra trước
Tòa án”. Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về chiến
lược cải cách tư pháp đến năm 2020 nêu rõ: “Trước mắt, Viện kiểm sát nhân
dân giữ nguyên chức năng như hiện nay là thực hành quyền công tố và kiểm
sát các hoạt động tư pháp”. Như vậy, trong tiến trình cải cách tư pháp chức
năng thực hành quyền công tố vẫn được giữ nguyên. Có thể thấy rằng thực
hành quyền công tố là một trong hai hoạt động cơ bản mà Quốc hội đã giao
cho VKS. Hiểu về chức năng này, vẫn còn có nhiều quan điểm khác nhau:
Quan điểm thứ nhất
“Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho một cơ quan nhất định
thực hiện buộc tội và yêu cầu trừng phạt người phạm tội” [20, tr.8], còn


10


“Thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý
thuộc nội dung quyền công tố để buộc tội và yêu cầu trừng phạt đối với người
phạm tội trong tố tụng hình sự qua các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố và
xét xử” [20, tr.12].
Quan điểm thứ hai
“Công tố là quyền của Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với
người phạm tội. Ở Việt Nam công tố được Nhà nước giao cho Viện kiểm sát
nhân dân thực hiện. Để làm tốt việc này Viện kiểm sát có trách nhiệm bảo
đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người
phạm tội. Trên cơ sở đó truy tố bị can ra trước Tòa án và thực hiện sự buộc
tội đó tại phiên tòa. Thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các
quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để truy cứu trách nhiệm
hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử.
Vì vậy, phạm vi thực hành quyền công tố bắt đầu từ khi khởi tố vụ án và kết
thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật hoặc vụ án bị đình chỉ theo quy định
của pháp luật hình sự” [27, tr.188].
Hai quan điểm trên đã nêu một cách khái quát về quyền công tố, coi
quyền công tố là một khái niệm pháp lý gắn liền với nhà nước, với việc nhân
danh công quyền chống lại hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng nhất đó là
tội phạm, nó xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước và pháp luật. Tùy
từng thời kỳ lịch sử phát triển của Nhà nước, có thể giao cho một cơ quan
nhất định thực hiện quyền này chuyên trách hoặc không chuyên trách. Việc
thực hiện các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố cho phép
buộc tội người phạm tội chính là thực hành quyền công tố. Quyền công tố là
quyền của Nhà nước, gắn liền với bản chất Nhà nước và chỉ có trong lĩnh vực
tố tụng hình sự, phạm vi của quyền công tố bắt đầu từ khi có tội phạm xảy ra,
kết thúc khi bản án đã có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị và đối



11

tượng của nó là tội phạm và người phạm tội. Để bảo đảm thực hiện quyền
công tố thì pháp luật phải có quy định về nội dung quyền công tố và cơ quan
Nhà nước nào được giao thực hiện các quyền năng pháp lý thuộc nội dung
quyền công tố thì cơ quan đó là cơ quan thực hành quyền công tố. Hai quan
điểm vừa nêu trên khác nhau ở chỗ: quan điểm thứ nhất nêu một cách khái
quát chung về quyền công tố được Nhà nước giao cho một cơ quan nhất định,
quan điểm thứ hai chỉ rõ cơ quan đó là Viện Kiểm sát nhân dân, quan điểm
thứ hai nói về phạm vi thực hành quyền công tố một cách cụ thể hơn so với
quan điểm thứ nhất.
Ngoài ra, cũng có ý kiến cho rằng thực hành quyền công tố chỉ bó hẹp
trong phạm vi truy tố và buộc tội tại phiên tòa [28, tr.25]. Quan điểm này là
chỉ dựa vào hoạt động công tố của VKS tại phiên tòa sơ thẩm, tuy nhiên, cần
phải nói một cách đầy đủ hơn về công tố và thực hành quyền công tố của
VKS tại phiên tòa sơ thẩm. Luận văn này cũng chỉ đề cập đến thực hành
quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm.
VKS thực hành quyền công tố thông qua hoạt động của Kiểm sát viên
(KSV) bằng việc đọc bản cáo trạng, quyết định truy tố kẻ phạm tội ra trước
Tòa án (TA), tham gia thẩm vấn, đưa ra lời buộc tội bị cáo, tranh luận dân
chủ, công khai với người bào chữa, với những người tham gia tố tụng khác tại
phiên tòa…Song song với thực hành quyền công tố, KSV còn có nhiệm vụ và
quyền hạn kiểm sát hoạt động xét xử của TA, hoạt động của những người
tham gia phiên tòa. KSV có quyền đưa ra kiến nghị, yêu cầu TA, Hội đồng
xét xử (HĐXX) có biện pháp để loại trừ vi phạm pháp luật của Thẩm phán
(TP), của HĐXX và của người tham gia tố tụng (NTGTT). VKS có quyền
kháng nghị bản án, quyết định sơ thẩm không có căn cứ và trái pháp luật của
TA. Vị trí và vai trò của VKS rất quan trọng, hai chức năng công tố và kiểm
sát việc tuân theo pháp luật cũng được thực hiện tại phiên tòa sơ thẩm.



12

Có thể hiểu: Thực hành quyền công tố của VKS là một phương diện hoạt
động đặc thù của VKS, được áp dụng trong các vụ án hình sự nhằm đưa kẻ phạm
tội ra xét xử và buộc tội tại phiên tòa. Thực hành quyền công tố tại phiên tòa sơ
thẩm: Là việc KSV buộc tội thông qua việc công bố bản cáo trạng, tham gia xét
hỏi, luận tội và tranh luận, bảo vệ quyết định truy tố của mình.
Thực hành quyền công tố của VKS nhân dân có quan hệ chặt chẽ với kiểm
sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm, gắn liền với việc thực hiện
quyền năng cụ thể như quyền buộc tội và luận tội đối với bị cáo tại phiên tòa.
1.2. Khái niệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm
Mục đích của kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm
không phải là cản trở hoạt động xét xử mà là điều kiện để TA xét xử đúng
người, đúng tội; bảo đảm cho các hoạt động tại phiên tòa thực hiện đúng quy
định của pháp luật, tôn trọng các quyền của bị cáo và NTGTT. Xuất phát từ ý
nghĩa như vậy, pháp luật tố tụng quy định sự có mặt của KSV tại phiên tòa là
điều kiện bắt buộc để TA tiến hành xét xử. Nếu KSV vắng mặt thì TA phải
hoãn phiên tòa (Điều 189 BLTTHS).
Tại phiên tòa sơ thẩm, HĐXX trực tiếp kiểm tra các tài liệu, chứng cứ đã
thu thập trong quá trình điều tra thông qua việc xét hỏi bị cáo và thẩm vấn
những NTGTT khác để xác định sự thật khách quan của vụ án, tính chất, mức
độ và nguyên nhân của tội phạm…Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
hoạt động xét xử của TA tại phiên tòa sơ thẩm chính là kiểm sát thủ tục tố
tụng tại phiên tòa, tham gia xét hỏi, luận tội và tranh luận. Để đảm bảo cho
các hoạt động này đúng pháp luật, KSV kiểm sát cả việc tuân theo pháp luật
của những NTGTT khác.
Ví dụ về kiểm sát hoạt động của TA: ngay từ khi bắt đầu phiên tòa, chủ
tọa phải đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử, thư ký báo cáo danh sách có mặt



13

của những người được triệu tập ra tòa. Sau phần kiểm tra căn cước của những
người tham gia tố tụng, chủ tọa phiên tòa phải giải thích các quyền và nghĩa
vụ của những người này…Theo quy định của Điều 184 BLTTHS thì khi tiến
hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thì phải được xét xử trực tiếp bằng lời nói
và liên tục…
Như vậy, chủ thể kiểm sát chính là VKS mà đại diện là KSV tham gia tại
phiên tòa, đối tượng kiểm sát chính là hoạt động của TA và những người
tham gia tố tụng, mục đích kiểm sát là nhằm đảm bảo việc xét xử được công
minh, quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng được bảo
đảm.
Kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa hình sự sơ thẩm còn là
kiểm sát việc chấp hành quy định của BLTTHS về giới hạn xét xử của
HĐXX, TA chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà VKS
truy tố và TA đã quyết định đưa ra xét xử, không được xét xử người mà VKS
không truy tố, không được xét xử bị cáo theo tội danh nặng hơn tội danh mà
VKS truy tố.
Từ những phân tích trên, theo tác giả thì kiểm sát việc tuân theo pháp
luật tại phiên tòa sơ thẩm là: Hoạt động của Kiểm sát viên nhằm kiểm tra,
giám sát, xem xét, theo dõi việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử
của Tòa án và những người tham gia tố tụng, đảm bảo pháp luật được chấp
hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
1.3. Đặc điểm thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo
pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm
Ở tất cả các quá trình như điều tra, truy tố, xét xử thì chủ thể của thực
hành quyền công tố, kiểm sát việc tuân theo pháp luật đều chỉ là VKS. Ở mỗi
một quá trình VKS đều thực hiện chức năng của mình với những hoạt động



14

đặc thù riêng như kiểm sát việc khởi tố, kiểm sát các hoạt động điều tra và
việc lập hồ sơ vụ án của cơ quan điều tra, kiểm sát việc bắt, tạm giữ, tạm
giam…Riêng trong quá trình xét xử tại phiên tòa sơ thẩm, VKS là cơ quan
tiến hành tố tụng có nhiệm vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tuân
theo pháp luật. Hoạt động này có những đặc điểm riêng như sau:
Thứ nhất, đây là hoạt động chỉ do VKS tiến hành tại phiên tòa sơ thẩm
và được đảm bảo thi hành thông qua các quyền hạn do pháp luật tố tụng hình
sự quy định.
Là cơ quan duy nhất thực hành quyền công tố, tại phiên tòa sơ thẩm,
Viện kiểm sát có nhiệm vụ và quyền hạn là đọc cáo trạng và trình bày ý kiến
bổ sung, nếu có. Đây là việc bắt buộc và được BLTTHS quy định chặt chẽ.
Khi đọc bản cáo trạng KSV phải chú ý về phong cách ứng xử, về cách ăn mặc
theo đúng quyết định số 01/VKS-TCCB ngày 28/04/2003 của Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc ban hành Quy định việc quản lý, sử
dụng trang phục đối với cán bộ, công chức, viên chức ngành Kiểm sát và
Giấy chứng minh Kiểm sát viên. Đặc biệt lưu ý khi trình bày ý kiến bổ sung
nhằm làm rõ hơn nội dung bản cáo trạng mà VKS đã truy tố và giải quyết
những gì mới phát sinh trong giai đoạn chuẩn bị xét xử của TA thì KSV có
thể trình bày thêm nhưng không nên lạm dụng vấn đề trình bày bổ sung để
đưa ra những vấn đề không có lợi cho bị cáo so với bản cáo trạng đã truy tố.
Viện kiểm sát tham gia xét hỏi tại phiên tòa. Xét hỏi là một thủ tục quan
trọng trong quá trình xét xử, chất lượng xét xử vụ án phụ thuộc rất nhiều vào
phương pháp, nội dung và năng lực của HĐXX nói chung, của KSV nói
riêng.
Nguyên tắc xét xử của KSV là phải hỏi sau HĐXX, xét hỏi trên cơ sở
diễn biến của phiên tòa, kết hợp xét hỏi với đối chiếu các chứng cứ khác để



15

bảo vệ cáo trạng. Bên cạnh việc tuân thủ các nguyên tắc khi xét hỏi thì KSV
cần có phương pháp xét hỏi khoa học cũng như thái độ, cách xưng hô của
KSV khi hỏi, đặt câu hỏi phải ngắn gọn, dễ hiểu, thái độ bình tĩnh, khách
quan, khiêm tốn, thận trọng…Trên thực tế, có nhiều KSV đã đảm nhiệm tốt
nhiệm vụ của mình trong quá trình xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm, tuy nhiên
vẫn còn những KSV chưa thực sự mẫn cán với công việc, có những câu hỏi
chưa sâu, có tư tưởng ỷ lại vào HĐXX. Trong yêu cầu cải cách tư pháp hiện
nay, cần những KSV thực sự tận tâm, tận tụy với công việc, không ngừng học
tập nâng cao trình độ và tăng cường trách nhiệm góp phần nâng cao chất
lượng phiên tòa cũng như chất lượng xét hỏi tại phiên tòa ngày một tốt hơn.
Viện kiểm sát thực hiện việc luận tội và tranh luận với bị cáo, người bào
chữa và những người tham gia tố tụng khác. Tranh luận của KSV tại phiên
tòa không chỉ là nhiệm vụ quan trọng của KSV mà còn là nhiệm vụ trung tâm
của phiên tòa, là giai đoạn trung tâm của quá trình diễn ra những quan điểm
đánh giá chứng cứ giữa bên buộc tội và gỡ tội và những người tham gia phiên
tòa. Đây cũng là giai đoạn biểu hiện tập trung nhất về ý kiến tranh luận của
KSV và những người tham gia phiên tòa về các tình tiết của vụ án. Tranh luận
cũng là hình thức biểu hiện tính dân chủ, công bằng của cải cách tư pháp hiện
nay. Theo những quy định tại Điều 217, 218, 219 của BLTTHS thì để thực
hiện tốt việc tranh luận, KSV cần chú ý làm tốt hai nội dung quan trọng là
trình bày lời luận tội và đối đáp với người bào chữa và những NTGTT khác.
Viện kiểm sát thực hiện việc đối đáp tại phiên tòa. Theo từ điển tiếng
Việt “Đối đáp là trả lời lại”, đối đáp trong TTHS là các quan điểm, luận cứ
của KSV trong việc trả lời đối với các ý kiến của bị cáo, người bị hại, người
bào chữa, người tham gia tố tụng về luận tội; là sự trả lời, đáp lại ý kiến giữa
những người tham gia tranh luận. Theo Điều 218 BLTTHS thì trách nhiệm
của KSV trong việc tranh luận đối đáp là rất lớn: “Bị cáo, người bào chữa và



16

những người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày không hạn chế số lần
trình bày ý kiến về luận tội của Kiểm sát viên; Kiểm sát viên phải đối đáp với
từng ý kiến; Chủ tọa phiên tòa cần tạo điều kiện cho những người tham gia
phiên tòa tranh luận; Trong trường hợp Kiểm sát viên không tranh luận thì
chủ tọa phiên tòa có quyền đề nghị Kiểm sát viên đáp lại những ý kiến của
những người tham gia tố tụng khác”
Ngay từ giai đoạn xét hỏi, KSV đã phải chú ý theo dõi, ghi chép những
nội dung của người bào chữa hỏi bị cáo để từ đó phân tích, nhận định, dự báo
khả năng người bào chữa sẽ đưa ra tranh luận những vấn đề gì để đối đáp với
các ý kiến đó.
Về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của TA,
Điều 18 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân quy định về nhiệm vụ và quyền
hạn của VKS trong khi thực hiện công tác kiểm sát xét xử các vụ án hình sự.
VKS có nhiệm vụ và quyền hạn kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt
động xét xử của TA như kiểm sát thời hạn đưa vụ án ra xét xử, thời hạn mở
phiên tòa (Điều 176 BLTTHS), kiểm sát nội dung quyết định đưa vụ án ra xét
xử (Điều 178 BLTTHS), kiểm sát việc chấp hành thủ tục tố tụng của HĐXX,
của những người được triệu tập đến phiên tòa…Nếu phát hiện thấy TA hoặc
HĐXX có vi phạm pháp luật, KSV sẽ có ý kiến kịp thời, kiến nghị TA,
HĐXX khắc phục những thiếu sót, vi phạm.
Thứ hai, chủ thể thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo
pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm là KSV.
Điều 17 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân quy định: “Viện kiểm sát
nhân dân tối cao và các Viện kiểm sát nhân dân địa phương có quyền: khởi tố
về hình sự và giữ quyền công tố trước Tòa án nhân dân cùng cấp”. Nếu theo
quy định tại Điều 187, 190, 191, 192, 193 BLTTHS, bị cáo, người bào chữa,



17

người bị hại, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại
diện hợp pháp của họ, người làm chứng, người phiên dịch có thể vắng mặt (có
lý do) thì quy định tại Điều 189 BLTTHS trong bất cứ vụ án nào KSV phải có
mặt. Do vậy, về nguyên tắc, khi TA có quyết định đưa vụ án ra xét xử, VKS
cùng cấp phải cử KSV tham gia.
Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại
phiên tòa sơ thẩm, KSV phải tiến hành theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ,
theo quy định của BLTTHS, KSV là chủ thể duy nhất. Hoạt động của KSV
trực tiếp thể hiện vị trí, chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ của VKS trong việc
xét xử án hình sự. Ở đây vai trò của KSV là người nhân danh Nhà nước thực
hiện việc buộc tội đối với bị cáo và kiểm sát việc chấp hành pháp luật của TA
và những người tham gia tố tụng khác. Vì vậy, việc tham gia phiên tòa, sự có
mặt của KSV như là một quy kết tất yếu của quyền truy tố và buộc tội trực
tiếp [26, tr.259]
Điều 1 Pháp lệnh KSV quy định: “Kiểm sát viên được bổ nhiệm theo quy
định của pháp luật để làm nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát các
hoạt động tư pháp”. Nhiệm vụ, quyền hạn của KSV khi tham gia phiên tòa đã
được pháp luật quy định cụ thể, Điều 12 Quy chế số 121/2004/QĐ-VKSTC
quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của KSV khi thực hành quyền công tố và
kiểm sát hoạt động tư pháp tại phiên tòa sơ thẩm.
Theo quy định của BLTTHS hiện hành thì nhiệm vụ và quyền hạn của
KSV tại phiên tòa sơ thẩm có nhiều điểm mới như: trong trường hợp cần thiết
có thể có KSV dự khuyết (Điều 189), TA có thể xét xử bị cáo theo khoản
khác với khoản mà VKS đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội
khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà VKS đã truy tố (Điều 196). KSV hỏi về
những tình tiết của vụ án liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội của bị cáo, nếu bị



18

cáo không trả lời thì KSV tiếp tục hỏi những người khác (Điều 209), KSV có
quyền trình bày những nhận xét của mình về nơi đã xảy ra tội phạm (Điều
213), luận tội của KSV phải căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã được
kiểm tra tại phiên tòa và ý kiến của bị cáo và những người tham gia tố tụng
khác tại phiên tòa (Điều 217), bị cáo và những người tham gia tham gia tố
tụng tại phiên tòa có quyền trình bày ý kiến về luận tội của KSV và đưa ra đề
nghị của mình; KSV phải đưa ra những lập luận của mình đối với từng ý kiến,
Chủ tọa phiên tòa (CTPT) có quyền đề nghị KSV phải đáp lại những ý kiến
có liên quan đến vụ án của người bào chữa và những người tham gia tố tụng
khác (Điều 218).
Địa vị pháp lý của KSV tại phiên tòa: được xem xét trong mối quan hệ
với HĐXX, bị cáo và người bào chữa. Sự có mặt của KSV tại phiên tòa làm
phát sinh mối quan hệ giữa cơ quan buộc tội với cơ quan xét xử. Trong mối
quan hệ đó, sự tham gia của KSV là chủ thể bắt buộc, nếu không có KSV thì
phiên tòa không có ý nghĩa. Tại phiên tòa, KSV là người đưa ra chứng cứ để
chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nhằm bảo vệ cáo trạng và đề xuất
hình thức xử lý đối với bị cáo. HĐXX là người thẩm tra các tình tiết của vụ án
theo cáo trạng mà VKS đã truy tố để quyết định có xử phạt bị cáo theo đề
nghị của KSV hay không.
Số lượng KSV tham gia phiên tòa: Luật tố tụng hình sự các nước quy
định số lượng KSV giữ quyền công tố tại phiên tòa không thống nhất. Đa số
các nước quy định khi phiên tòa hình sự được tiến hành thì bắt buộc phải có
Công tố viên tham gia để thay mặt Nhà nước buộc tội bị cáo. Tuy nhiên cũng
có quốc gia quy định Công tố viên tham gia phiên tòa trong các trường hợp vụ
án có tính chất nghiêm trọng. Đối với các vụ án hình sự nhỏ, Công tố viên có
thể không tham gia phiên tòa. Trong trường hợp này nạn nhân có thể được

phép trình bày lời buộc tội với Tòa án [5, tr.92], ví dụ như ở Áo và Brazil.


19

Tuy nhiên, phần lớn các quốc gia trên thế giới đều quy định bất cứ vụ án hình
sự nào cũng có Công tố viên tham gia phiên tòa, số lượng tùy theo mức độ
nghiêm trọng và phức tạp của vụ án. Số lượng Công tố viên tham gia phiên
tòa cũng tùy thuộc vào đặc điểm của mỗi nước, trong đó có các nước như Hoa
Kỳ, cộng hòa liên bang Đức…không hạn chế số lượng Công tố viên tham gia
phiên tòa. Tại Cộng hòa liên bang Đức, nếu vụ án phức tạp thì có thể có từ 3
đến 4 Công tố viên tham gia phiên tòa. Ở Hoa Kỳ, số lượng Công tố viên
tham gia phiên tòa có thể nhiều hơn, tùy thuộc vào tính chất nghiêm trọng và
phức tạp của vụ án. Ở Việt Nam, Điều 189 BLTTHS năm 2003 quy định
KSV Viện kiểm sát cùng cấp phải tham gia phiên tòa. Theo quy định tại Điều
104 BLTTHS năm 1988 thì trong trường hợp KSV vắng mặt hoặc bị thay đổi
thì HĐXX phải hoãn phiên tòa. Thực tiễn truy tố, xét xử cho thấy, việc hoãn
phiên tòa để cử KSV thay thế theo quy định trên đây sẽ làm cho việc xét xử bị
gián đoạn, không liên tục, có vụ việc phải kéo dài, không đáp ứng yêu cầu của
cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Để đảm bảo thời gian xét xử liên tục,
BLTTHS năm 2003 đã quy định trong trường hợp cần thiết, vụ án kéo dài
ngày hoặc có nhiều tình tiết phức tạp thì phải có hai KSV tham gia phiên tòa,
hoặc có KSV dự khuyết. Điều 189 BLTTHS quy định: “1…Đối với vụ án có
tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì hai Kiểm sát viên có thể cùng tham gia
phiên tòa. Trong trường hợp cần thiết có thể có Kiểm sát viên dự khuyết. 2.
Nếu Kiểm sát viên vắng mặt, bị thay đổi mà không có Kiểm sát viên dự khuyết
để thay thế thì Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa và báo ngay cho Viện kiểm sát
cùng cấp”. Điều 5 Quy chế số 121/2004/QĐ-VKSTC quy định: “Tại phiên
tòa sơ thẩm và phúc thẩm, Kiểm sát viên phải tham gia phiên tòa. Đối với vụ
án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì hai Kiểm sát viên có thể cùng tham

gia phiên tòa. Trong trường hợp cần thiết có thể có Kiểm sát viên dự khuyết”.


20

Những quy định nêu trên của pháp luật cho thấy nhiệm vụ của KSV tại
phiên tòa hình sự rất nặng nề. Vụ án có được xét xử chính xác, dân chủ, khách
quan hay không phụ thuộc rất nhiều vào năng lực và trách nhiệm của KSV.
KSV nào nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án, chuẩn bị tốt các chứng cứ, tài liệu phục
vụ cho việc tranh luận, đối đáp, có năng lực xử lý các tình huống tại phiên
tòa, với tinh thần công tâm, thận trọng và kiên quyết thì sẽ hoàn thành tốt
nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong thực hành quyền công tố và kiểm sát
việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa.
Thứ ba, KSV thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp
luật của HĐXX và của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm
được thực hiện trực tiếp bằng lời nói.
KSV phải công bố các quyết định trực tiếp bằng lời nói, mặc dù quyết
định truy tố bằng bản cáo trạng đã ban hành bằng văn bản trước đó. KSV
tham gia xét hỏi và tranh luận công khai tại phiên tòa, lời nói lúc này của
KSV được xem là có hiệu lực thi hành ngay như: Quyết định về việc luận tội,
truy tố bị cáo ở điểm, khoản nào, điều nào của BLHS và đề nghị mức hình
phạt ra sao, cũng như quyết định rút một phần hoặc toàn bộ cáo trạng đã truy
tố của VKS trước đó. Mặc dù các quyết định truy tố của VKS bằng bản cáo
trạng đã có hiệu lực pháp luật nhưng tại phiên tòa KSV phải công bố lại các
quyết định này và việc công bố lại bằng lời nói của KSV có giá trị pháp lý
trực tiếp để trên cơ sở đó HĐXX xem xét việc thực hiện giới hạn xét xử cũng
như thực hiện quyền bào chữa của bị cáo [18, tr. 19]. KSV bằng việc trực tiếp
theo dõi các hoạt động của HĐXX, của những người tham gia tố tụng xem đã
được thực hiện đúng quy định của pháp luật chưa.
Một điều cần lưu ý khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân

theo pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm là văn hóa ứng xử của KSV. Có thể hiểu


21

văn hóa pháp lý là một bộ phận của văn hóa và là những quan điểm, quan
niệm, cách thức xử sự trong quá trình giao tiếp của mỗi con người cụ thể khi
tham gia vào các quan hệ xã hội được điều chỉnh bằng các quy phạm pháp
luật. Đối tượng giao tiếp của KSV tại phiên tòa sơ thẩm gồm TP, Hội thẩm
nhân dân (HTND), thư ký phiên tòa, bị cáo, bị hại, người làm chứng, người
bào chữa, người giám định, người phiên dịch…Ngoài những người tiến hành
tố tụng và những người tham gia tố tụng là những đối tượng mà KSV phải
giao tiếp gián tiếp tại phiên tòa còn có thể có quần chúng nhân dân, các phóng
viên báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình tham dự…Như vậy, tại phiên tòa
KSV có mối quan hệ giao tiếp với nhiều đối tượng khác nhau, mỗi loại đối
tượng giao tiếp có địa vị pháp lý khác nhau và từng đối tượng giao tiếp có đặc
điểm tâm lý, trình độ nhận thức, sự hiểu biết khác nhau. Để xây dựng văn hóa
ứng xử của KSV tại phiên tòa đặt ra những yêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ
và bản lĩnh nghề nghiệp, yêu cầu về tác phong lề lối làm việc và yêu cầu về
đạo đức nghề nghiệp của mỗi KSV.
1.4. Mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân
theo pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm
Bàn về mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân
theo pháp luật có nhiều quan điểm khác nhau.
Quan điểm thứ nhất
Tại phiên tòa sơ thẩm, thực hành quyền công tố chỉ là để thực hiện kiểm
sát việc tuân theo pháp luật. Theo tôi, quan điểm này là phiến diện bởi nếu coi
thực hành quyền công tố chỉ là một nội dung để thực hiện kiểm sát việc tuân
theo pháp luật có nghĩa rằng đã coi trong hoạt động xét xử của TA thì VKS
chỉ có một chức năng duy nhất là kiểm sát việc tuân theo pháp luật, trong khi

đó theo quy định của BLTTHS thì VKS phải thực hiện việc buộc tội bị cáo


22

thông qua một loạt các hoạt động trong quá trình xét hỏi, luận tội và tranh
luận nhằm đảm bảo cho hoạt động xét xử của TA khách quan, dân chủ, công
bằng. Điều đó có nghĩa là VKS đã thực hiện việc truy tố và buộc tội đối
những người có hành vi nguy hiểm cho xã hội trên cơ sở các quy định của bộ
luật hình sự và bộ luật tố tụng hình sự, tức là VKS đã thực hành quyền công
tố.
Quan điểm thứ hai
Trong xét xử vụ án hình sự tại phiên tòa sơ thẩm, VKS chỉ thực hành
quyền công tố, trong đó bao gồm cả kiểm sát việc tuân theo pháp luật. Quan
điểm này cũng chưa đầy đủ, bởi tại phiên tòa sơ thẩm VKS không chỉ tiến
hành chứng minh tội phạm, truy tố và đề nghị TA áp dụng điều khoản tương
ứng của Bộ luật hình sự đối với người có hành vi phạm tội mà còn kiểm sát
diễn biến phiên tòa, kiểm sát hoạt động của HĐXX cũng như những NTGTT
đảm bảo pháp luật được chấp hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất.
Như vậy, rõ ràng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của
TA của VKS đã được thể hiện rất rõ.
Quan điểm thứ ba
Tại phiên tòa sơ thẩm, VKS thực hiện cả kiểm sát việc tuân theo pháp
luật trong hoạt động xét xử của TA và thực hành quyền công tố. Tôi đồng tình
với quan điểm thứ ba, hai hoạt động này của VKS được quy định rõ tại Điều
137 Hiến pháp 1992 và Điều 107 Hiến pháp 2013, các Điều 23, 91, 141…của
BLTTHS. Theo quy định của Điều 17 Luật tổ chức Viện kiểm sát và các Điều
206, 207, 217 BLTTHS thì tại phiên tòa xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự,
KSV có nhiệm vụ: Đọc cáo trạng, quyết định của VKS liên quan đến việc giải
quyết vụ án. Đây là sự cáo buộc công khai của VKS về hành vi phạm tội của

bị cáo, hoạt động này là cơ sở để HĐXX tiến hành việc điều tra công khai tại


23

phiên tòa. Tiếp đến là thẩm vấn để làm rõ những vấn đề có liên quan đến hành
vi phạm tội của bị cáo, nhằm chứng minh những tài liệu, chứng cứ trong việc
truy tố của VKS. Sau đó KSV thực hiện việc luận tội thể hiện quan điểm đánh
giá của VKS đối với hành vi phạm tội của bị cáo và đánh giá tính chất nguy
hiểm cho xã hội mà hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, đề nghị việc áp
dụng hình phạt với từng bị cáo theo quy định của BLHS. Khi tranh luận với bị
cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác, KSV phải đưa ra
những chứng cứ, lý lẽ, lập luận một cách thuyết phục để bảo vệ quan điểm
truy tố của VKS (nếu kết quả kiểm tra công khai tại phiên tòa xác nhận quan
điểm truy tố của Viện kiểm sát theo cáo trạng là đúng), bác bỏ những ý kiến
không đúng do luật sư, người bào chữa và những NTGTT khác đưa ra. KSV
cũng kiểm sát toàn bộ hoạt động của TA và những NTGTT khác tại phiên tòa.
Ví dụ như ở phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, nếu thấy chủ tọa chưa phổ biến
hết các quyền cho bị cáo và người tham gia tố tụng, chưa cho bị cáo có quyền
đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, chưa hỏi xem có ai đề nghị đưa thêm
đồ vật, tài liệu ra xem xét hoặc đề nghị triệu tập thêm ngươi làm chứng hay
không; Trong phần xét hỏi, HĐXX hỏi dồn ép, truy bức bị cáo, không giải
quyết các yêu cầu của người tham gia tố tụng thì VKS đề nghị HĐXX khắc
phục thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.
Như vậy, thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật
tại phiên tòa sơ thẩm là hai nhiệm vụ khác nhau nhưng chúng có mối quan hệ
chặt chẽ với nhau, hỗ trợ cho nhau và ở trong một phạm vi nhất định có sự
thống nhất và xâm nhập vào nhau. Hoạt động kiểm sát việc xét xử của TA là
yếu tố hỗ trợ, bảo đảm để việc thực hành quyền công tố thuận lợi, đạt hiệu
quả. Nếu hoạt động công tố tốt nhưng hoạt động kiểm sát không kịp thời phát

hiện những vi phạm về thủ tục phiên tòa để yêu cầu khắc phục ngay, dẫn đến
bản án bị hủy thì việc thực hành quyền công tố đó cũng không đạt được hiệu


24

quả. Thực hành quyền công tố là cơ sở phát sinh hoạt động kiểm sát việc tuân
theo pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm, nhưng chính hoạt động kiểm sát là yếu tố
bảo đảm để thực hành quyền công tố đạt được hiệu quả. Hai hoạt động này
cần được phối hợp nhịp nhàng tại phiên tòa sơ thẩm sẽ đảm bảo được việc xét
xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, không kết án
oan người vô tội.
1.5. Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về thực hành
quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm
Hiện tại ở nhiều nước trên thế giới, kể cả những nước phát triển như
Anh, Mỹ đều có Viện công tố, song việc tổ chức hoạt động công tố không chỉ
thuộc một mình Viện công tố. Có nước cảnh sát cũng có quyền đưa vụ án ra
Tòa (Vương quốc Anh); ở Mỹ, hoạt động công tố còn là sự tham gia của Bồi
thẩm đoàn (Bồi thẩm đoàn có quyền quyết định bị cáo có tội hay không tại
phiên tòa, còn tội danh gì là do Thẩm phán quyết định). Ở cộng hòa Pháp, Dự
thẩm của TA có quyền điều tra và giám sát hoạt động điều tra trong một số
trường hợp nhất định, đó cũng là hoạt động công tố.
Ở Nhật, Sau khi cân nhắc địa điểm, lứa tuổi và tình trạng của người
phạm tội, mức độ nặng nhẹ của tội phạm, tình huống tội phạm được thực hiện
và các điều kiện sau khi thực hiện tội phạm, công tố viên quyết định việc truy
tố hoặc không quyết định truy tố. Việc truy tố phải được quyết định bằng bản
cáo trạng và gửi đến TA. Ở giai đoạn trước khi xét xử, Công tố viên chỉ gửi
cáo trạng đến TA mà không cần gửi hồ sơ. Nhưng khi bắt đầu vào phiên tòa
thì Công tố viên phải chuyển hồ sơ cho Thẩm phán chủ tọa phiên tòa. Điều
này được bắt nguồn từ nguyên tắc tranh tụng trước Tòa, đối lập với nguyên

tắc thẩm vấn như luật tố tụng các nước khác nên không gây khó khăn cho
Thẩm phán trong việc nghiên cứu, đánh giá chứng cứ để kết luận về vụ án.


×