Tải bản đầy đủ (.pdf) (90 trang)

Giải pháp đẩy mạnh tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước đối với các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh quảng bình (tt)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.63 MB, 90 trang )

1


TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH

THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN
CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
I. SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN:

Ảnh 4x6

Họ và tên: BÙI TẤN PHÁT
Sinh ngày: 18/04/1989
Nơi sinh: Thị trấn Đăk Đoa, huyện Đăk Đoa, tỉnh Gia Lai.
Ngành học: Kế toán

Lớp: Đại học Kế toán K52

Khóa: 52

Khoa: Kinh Tế
Địa chỉ liên hệ: Tiểu khu 15, phường Bắc Lý, TP. Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.
Điện thoại: 0975262177


Email:

II. QUÁ TRÌNH HỌC TẬP (kê thành tích của sinh viên từ năm thứ 1 đến năm đang
học):
* Năm thứ 1:
Ngành học: Kế toán



Khoa: Kinh tế

Kết quả xếp loại học tập: Khá
* Năm thứ 2:
Ngành học: Kế toán

Khoa: Kinh tế

Kết quả xếp loại học tập: Khá
Đồng Hới, ngày 24 tháng 5 năm 2013
Sinh viên chịu trách nhiệm chính
thực hiện đề tài
(ký, họ và tên)

Xác nhận của khoa

2


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Kinh tế thị trường là môi trường kinh doanh đầy biến động, phức tạp trong đó
cạnh tranh quyết liệt là yếu tố thúc đẩy sự phát triển của nó. Nhất là trong bối cảnh
hiện nay, xu hướng hội nhập quốc tế hoá và tự do hoá trên các thị trường mậu dịch
hàng hoá và tư bản đang là xu hướng chung của đất nước trong khu vực cũng như trên
toàn thế giới làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngày càng
trở nên khó khăn, sự an toàn của các doanh nghiệp luôn bị đe doạ bởi những rủi ro
không thể lường trước được.
Trong xu thế hội nhập khu vực và quốc tế hiện nay, đặc biệt Việt Nam đã trở

thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới (WTO), thì các doanh nghiệp phải
đối mặt với rất nhiều khó khăn, đặc biệt là vấn đề cạnh tranh để tồn tại. Khi gia nhập
các tổ chức này, Việt Nam phải cam kết thực hiện những tiêu chuẩn quốc tế về sự
minh bạch, tính đồng bộ, tính công bằng và tính hợp lý. Việt Nam phải cắt giảm thuế
quan, bãi bỏ hàng rào phi thuế quan, thực hiện quy chế tối huệ quốc và nguyên tắc đãi
ngộ quốc gia đối với hàng hóa và dịch vụ của các nước thành viên xuất khẩu sang Việt
Nam. Như vậy, các doanh nghiệp nước ta sẽ phải tham gia cạnh tranh thực sự với các
doanh nghiệp nước ngoài tại chính thị trường trong nước.
Tổng số doanh nghiệp có trên địa bàn đến tháng 6 năm 2012 là 3.060 DN, trong
đó hơn 99% là các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Số lao động trong các doanh nghiệp bình
quân thấp chỉ khoảng 7 đến 9 người, so với cả nước khoảng 40 đến 45 người trên một
DN. Số vốn bình quân trên một DN cũng hạn chế, dao động khoảng từ 7,3 đến 9,8 tỷ
đồng nếu so với cả nước con số này khoảng 33,4 tỷ đồng. Quy mô nhỏ hẹp, năng lực
tài chính yếu, số lượng lao động thấp, hiệu quả hoạt động còn thấp là những hạn chế
của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Do vậy, bên cạnh sự nỗ lực không ngừng của
bản thân các DN đòi hỏi phải có những chính sách hỗ trợ từ phía Nhà nước. Trong đó,
quan trọng nhất là hỗ trợ về tài chính cho doanh nghiệp, giúp các doanh nghiệp tạo lập
và phát triển bền vững.
Trong những năm qua, trên địa bàn tỉnh Quảng Bình đã có nhiều dự án được đầu
tư từ nguồn vốn tín dụng của Nhà nước. Chính sách hỗ trợ tín dụng cho các dự án đầu
tư của các doanh nghiệp đã phát huy hiệu quả, hỗ trợ kịp thời về vốn cho các doanh
nghiệp. Song nhìn chung, chính sách và lĩnh vực hỗ trợ này còn tồn tại một số mặt hạn
3


chế như: Nguồn vốn chưa hỗ trợ được nhiều dự án, hình thức hỗ trợ gián tiếp thông
qua Hỗ trợ lãi suất (HTLS) sau đầu tư và Bảo lãnh tín dụng (BLTD) đầu tư chưa thực
sự là kênh hỗ trợ vốn hiệu quả đối với các doanh nghiệp. Nguồn vốn này chưa thực sự
hỗ trợ cho các vùng, miền đặc biệt khó khăn của tỉnh.
Xuất phát từ những thực trạng khó khăn và bất cập đang tồn tại đối với các doanh

nghiệp trên địa bàn tỉnh khi tiếp cận với nguồn tín dụng Nhà nước, nhóm chúng em đã
chọn vấn đề “Giải pháp đẩy mạnh tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước đối với các
doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Bình” làm đề tài nghiên cứu.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về tín dụng Nhà nước (TDNN) từ khái niệm cho đến
phân tích đặc điểm, phân loại, so sánh sự khác biệt giữa TDNN với tín dụng ngân
hàng, giữa TDNN với ngân sách nhà nước, trên cơ sở đó làm rõ vai trò và đưa ra các
yếu tố ảnh hưởng đến phát triển tín dụng nhà nước cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã
hội.
Phân tích một cách có hệ thống thực trạng triển khai các hình thức hỗ trợ về vốn
tín dụng Nhà nước trên địa bàn tỉnh trong thời gian qua (2007-2011)
Trên cơ sở đó, đề tài đưa ra một số giải pháp đẩy mạnh tín dụng đầu tư phát triển
nhà nước đối với các doanh nghiệp, góp phần tạo lập và phát triển bền vững các doanh
nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Bình
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước đối
với các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.
Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Nghiên cứu thực trạng triển khai tín dụng nhà nước đối với các
doanh nghiệp tại tỉnh Quảng Bình
+ Về địa điểm: Vốn tín dụng nhà nước hiện có nhiều kênh thực hiện: Ngân hàng
Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội, Quỹ đầu tư phát triển các địa
phương,... Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu chọn tín dụng nhà nước đối với các doanh
nghiệp tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam và chi nhánh Ngân hàng Phát triển Quảng
Bình vì tín dụng nhà nước chủ yếu được cung cấp bởi hệ thống Ngân hàng Phát triển.
+ Về thời gian: Đề tài nghiên cứu tín dụng nhà nước tại ngân hàng Phát triển giai
đoạn từ khi thành lập Ngân hàng Phát triển Việt Nam cho tới nay (2007-2011)
4



4. Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu
Đề tài đã sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử xuyên suốt
quá trình nghiên cứu. Ngoài ra, đề tài còn dùng phương pháp:
Phương pháp thống kê, hệ thống, so sánh phân tích, xử lý số liệu phù với mục
đích nghiên cứu đánh giá
Phương pháp chuyên gia thông qua Phỏng vấn, tọa đàm, trao đổi…
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về tín dụng nhà nước trong cơ chế thị trường
Chương 2: Thực trạng hoạt động hỗ trợ vốn tín dụng nhà nước đối với các doanh
nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Bình
Chương 3: Một số giải pháp đẩy mạnh hỗ trợ tín dụng nhà nước với các doanh
nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Bình

5


CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG NHÀ NƯỚC
TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG
1.1. Cơ sở lý luận về tín dụng nhà nước trong cơ chế thị trường
1.1.1. Khái niệm về tín dụng nhà nước
Sản xuất kinh doanh hàng hoá ra đời kéo đó là sự ra đời tất yếu của hoạt động tín
dụng để phục vụ, nhằm thỏa mãn cũng như đáp ứng được các yêu cầu của hoạt động
sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế.
Tín dụng là một phạm trù kinh tế, là một sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa. Tín
dụng ra đời, tồn tại qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội. Tín dụng là một hệ thống các
quan hệ phân phối theo nguyên tắc có hoàn trả giữa người đang tạm thời thừa vốn sang
người tạm thời thiếu vốn và ngược lại. Quan hệ tín dụng được phát sinh ngay từ thời
kỳ chế độ công xã nguyên thủy bắt đầu tan rã. Khi chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất

xuất hiện, cũng là đồng thời xuất hiện quan hệ trao đổi hàng hóa. Thời kỳ này, tín
dụng được thực hiện dưới hình thức vay mượn bằng hiện vật - hàng hóa. Về sau, tín
dụng đã chuyển sang hình thức vay mượn bằng tiền tệ.
Tín dụng bao gồm các quá trình hoạt động tạo vốn, hoạt động cho vay và hoạt
động thanh toán dưới các loại hình tín dụng khác nhau: Tín dụng thương mại, tín dụng
ngân hàng, tín dụng nhà nước, tín dụng quốc tế.
Tín dụng có vai trò đặc biệt quan trọng, đó là vai trò tập trung vốn, phân phối
vốn, là đòn bẩy, khuyến khích và điều tiết quá trình sản xuất kinh doanh, thông qua
việc sử dụng một số chính sách và chế tài tín dụng như chính sách ưu đãi về mức vốn,
thời gian cho vay, lãi suất cho vay,... Người quản lý điều hành vĩ mô có thể mở rộng
sản xuất vùng ngành này hoặc thu hẹp sản xuất ngành khác, vùng khác thông qua công
cụ tín dụng.
Thực chất, tín dụng là biểu hiện mối quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình tạo lập
và sử dụng quỹ tín dụng nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu vốn tạm thời cho quá trình
tái sản xuất và đời sống, theo nguyên tắc hoàn trả.
Tín dụng thương mại
Tín dụng thương mại là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp dưới hình thức
mua bán chịu hàng hóa. Đây là quan hệ tín dụng giữa các nhà sản xuất, kinh doanh
được thực hiện dưới hình thức mua bán, bán chịu hàng hóa. Hành vi mua bán chịu
6


hàng hóa được xem là hình thức tín dụng - người bán chuyển giao cho người mua
quyền sử dụng vốn tạm thời trong một thời gian nhất định, và khi đến thời hạn đã được
thỏa thuận, người mua phải hoàn lại vốn cho người bán dưới hình thức tiền tệ và cả
phần lãi cho người bán chịu.
Hay nói cách khác, đây là quan hệ vay mượn có hoàn trả vốn và lãi sau một thời
gian giữa nhà sản xuất, kinh doanh dưới hình thức ứng trước vốn hàng hóa.
Đặc điểm của tín dụng thương mại là vốn cho vay dưới dạng hàng hóa hay một
bộ phận của vốn sản xuất chuẩn bị chuyển hóa thành tiền, chưa phải là tiền nhàn rỗi.

Người cho vay (chủ nợ) và người đi vay (con nợ) đều là những doanh nghiệp trực tiếp
tham gia vào quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa. Khối lượng tín dụng lớn hay
nhỏ phụ thuộc vào tổng giá trị của khối lượng hàng hóa được đưa ra mua bán chịu.
Công cụ của tín dụng thương mại là thương phiếu, thực chất là một giấy nợ thương
mại để đảm bảo cho hành vi mua bán chịu được diễn ra.
Tín dụng ngân hàng
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng phát sinh giữa các ngân hàng, các tổ
chức tín dụng với các đối tác kinh tế - tài chính của toàn xã hội, bao gồm doanh
nghiệp, cá nhân, tổ chức xã hội, cơ quan nhà nước
Đây là quan hệ vay mượn có hoàn trả vốn và lãi sau một thời gian nhất định giữa
ngân hàng với các đối tượng đi vay bằng cách ngân hàng đứng ra huy động vốn bằng
tiền và cấp tín dụng cho các đối tượng vay.
Đối tượng của tín dụng ngân hàng là vốn tiền tệ, nghĩa là ngân hàng huy động
vốn và cho vay bằng tiền. Ngân hàng đóng vai trò trung gian trong hoạt động này.
Trong tín dụng ngân hàng chủ thể được xác định rõ ràng: Ngân hàng là người cho vay;
các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân là người đi vay. Để tập trung vốn tiền tệ trong xă
hội, ngân hàng sử dụng các công cụ như kỳ phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi, các
sổ tiết kiệm,...
Hoạt động cấp tín dụng trong tín dụng ngân hàng thường bao gồm hoạt động cho
vay; chiết khấu thương phiếu và chứng từ có giá; bảo lãnh và cho thuê tài chính.
Tín dụng nhà nước
Khái niệm kinh điển về TDNN là: TDNN là quan hệ tín dụng mà trong đó Nhà
nước được biểu hiện là người đi vay để bù đáp thiếu hụt ngân sách. Khái niệm này
phản ánh quan hệ vay mượn một chiều trong thời kỳ nền kinh tế còn kém phát triển,
chưa bị tác động nhiều bởi mặt trái của nền kinh tế thị trường, nhà nước đi vay của các
7


tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân để phục vụ cho nhu cầu chi tiêu, quản lý xã hội.
Trải qua một thời gian dài phát triển cùng đất nước, với những biến động của

tình hình kinh tế, chính trị xã hội thì TDNN ngày càng tỏ rõ vai trò quan trọng đối với
sự phát triển ổn định của quốc gia. TDNN đă phát triển đa dạng hơn cả về quan hệ tín
dụng cũng như hình thức tín dụng. Về mặt quan hệ tín dụng: Nhà nước không chỉ đơn
thuần là người đi vay theo khái niệm kinh điển, mà Nhà nước vừa là người đi vay, vừa
là người cho vay. Về mặt hình thức đă xuất hiện: tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu,
các hình thức bảo lãnh (để thu hút các nguồn vốn khác cùng tham gia),…Vì thế có
nhiều khái niệm mới về TDNN đă xuất hiện.
Tín dụng nhà nước là phương thức hỗ trợ của Nhà nước thông qua việc cấp tín
dụng dưới hình thức cho vay lãi suất ưu đãi, hoặc các biện pháp tài chính khác hỗ trợ
cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong việc tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng
nhằm mục tiêu hỗ trợ cho sự hoạt động của các doanh nghiệp, phát triển kinh tế, xã hội
theo định hướng trong từng thời kỳ.
Tín dụng nhà nước là quan hệ tín dụng giữa Nhà nước với doanh nghiệp, các tổ
chức kinh tế - xă hội và các cá nhân. TDNN xuất hiện nhằm thỏa mãn những nhu cầu
chi tiêu của ngân sách nhà nước trong điều kiện nguồn thu không đủ để đáp ứng; nó
còn là công cụ để Nhà nước hỗ trợ cho các ngành kinh tế yếu kém, ngành mũi nhọn và
khu vực kinh tế kém phát triển, và là công cụ quan trọng để nhà nước quản lý, điều
hành vĩ mô.
Nói tóm lại, có thể hiểu TDNN với khái niệm như sau: Tín dụng Nhà nước là
quan hệ tín dụng giữa Nhà nước với các tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp trong đó
Nhà nước với vai trò vừa là người đi vay, vừa là người cho vay nhằm mục đích bù đắp
thiếu hụt ngân sách, phát triển kinh tế, xă hội theo định hướng từng thời kỳ và là công
cụ quan trọng để quản lý, điều hành kinh tế vĩ mô.
1.1.2. Đặc điểm tín dụng nhà nước trong cơ chế thị trường
- Được Nhà nước đảm bảo khả năng thanh toán: TDNN có nguồn vốn được huy
động từ các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước theo kế hoạch của Nhà nước, do Nhà
nước bảo lãnh. Vì vậy được xem như là vốn có nguồn gốc từ NSNN, được Nhà nước
bảo đảm khả năng thanh toán.
- Hoạt động tín dụng nhà nước không vì mục tiêu lợi nhuận đơn thuần: TDNN
không chỉ hoạt động với mục đích bù đắp thiếu hụt ngân sách mà còn là công cụ tập


8


trung nguồn lực tài chính, tham gia điều tiết nền kinh tế, đảm bảo sự phát triển của
quốc gia, khuyến khích nhiều ngành nghề hoạt động hiệu quả.
- Đối tượng cho vay vốn TDNN được quy định, chỉ định theo từng thời kỳ: Đối
tượng cho vay của TDNN thường thay đổi qua từng thời kỳ, là các đối tượng, chương
trình nằm trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội do Nhà nước quy định, chủ yếu
tập trung vào các lĩnh vực then chốt, cần thiết và còn gặp nhiều khó khăn trong hoạt
động.
- Lăi suất cho vay TDNN là ưu đăi do nhà nước quy định: TDNN không lấy lãi
suất cho vay cao làm mục tiêu, mà thông qua lãi suất cho vay thấp để kích thích đầu
tư, định hướng, phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với từng thời kỳ đảm bảo cho các tổ
chức, doanh nghiệp vay được nguồn vốn cao với lãi suất hợp lý, tạo điều kiện tốt nhất
cho các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả.
- TDNN rủi ro hơn tín dụng ngân hàng: Đối tượng cho vay của TDNN thường
theo chỉ định, khác nhau qua mỗi thời kỳ, thời hạn cho vay dài nên chịu nhiều ảnh
hưởng theo thời gian như tác động của thị trường, tình hình khủng hoảng, biến động
giá cả, tình hình môi trường pháp luật thay đổi cũng như điều kiện cho vay thông
thoáng, thường dưới hình thức hỗ trợ, gắn nhiều tới việc thực hiện nhiệm vụ xã hội,…
- Hình thức đa dạng, phong phú: TDNN hoạt động với nhiều hình thức hỗ trợ
cho các doanh nghiệp khác nhau như: cho vay đầu tư trực tiếp với lãi suất ưu đãi,
HTLS sau đầu tư, bảo lãnh tín dụng đầu tư.
1.1.3. Phân loại tín dụng nhà nước
Phân loại TDNN với vai trò Nhà nước là người đi vay trong quan hệ tín dụng:
+ Tín dụng ngắn hạn: là khoản vay có thời hạn ngắn, thường dưới 1 năm để bù
đắp bội chi tạm thời phát sinh trong năm.
Công cụ để Nhà nước đi vay ngắn hạn là phát hành tín phiếu, kỳ phiếu. Cơ quan
phát hành thường là Kho bạc Nhà nước.

Đối tượng cho vay là các ngân hàng, doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế xã hội. Có
thể là Ngân hàng Trung ương cho vay, nguồn trả nợ các khoản nợ này là các khoản thu
của ngân sách Nhà nước trong tương lai.
+ Tín dụng trung hạn và dài hạn: là các khoản vay có thời hạn trên 1 năm cho đến
vài chục năm. Việc đi vay thực hiện bằng cách phát hành công trái, trái phiếu. Cơ quan
phát hành thường là Kho bạc Nhà nước, các tổ chức tín dụng nhà nước.
9


Phân loại TDNN với vai trò Nhà nước là người cho vay.
- Căn cứ đối tượng vay:
+ Cho vay đầu tư các dự án, công trình.
+ Cho vay hỗ trợ khuyến khích xuất khẩu.
- Căn cứ vào hình thức bảo đảm tiền vay:
+ Cho vay có bảo đảm: TDNN thường dùng hình thức bảo đảm sau đầu tư để
làm bảo đảm khoản vay.
+ Cho vay không có bảo đảm: TDNN sử dụng tương đối hình thức này để thực
hiện cho vay theo chỉ định của Chính Phủ trong điều kiện cần thiết.
- Căn cứ theo kỳ hạn nợ:
+ Cho vay trung và dài hạn: Loại cho vay này thường cho vay đầu tư các dự án
có thời gian hoàn vốn thông thường từ 3 năm đến vài chục năm.
+ Cho vay ngắn hạn: Loại cho vay dưới 12 tháng để hỗ trợ xuất khẩu và những
mặt hàng cần khuyến khích.
- Căn cứ phạm vi hoạt động:
+ Cho vay các dự án đầu tư trong nước.
+ Cho vay các dự án đầu tư ra nước ngoài.
- Căn cứ vào hình thức cấp tín dụng:
+ Cho vay: là hoạt động cấp tín dụng bằng tiền trên cơ sở hợp đồng tín dụng giữa
tổ chức tín dụng với khách hàng, theo đó tổ chức tín dụng thoả thuận để khách hàng
được sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả gốc và lãi trong một thời hạn

nhất định.
+ Cho thuê tài chính (giao dịch bằng tài sản thực): là hoạt động cấp tín dụng
trung hạn, dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài chính giữa bên cho thuê là tổ chức
tín dụng với khách hàng thuê; theo đó theo yêu cầu sử dụng của bên đi thuê, bên cho
thuê tiến hành mua tài sản và chuyển giao cho bên thuê sử dụng.
+ Bảo lãnh ngân hàng (cấp tín dụng bằng uy tín): là cam kết bằng văn bản của tổ
chức tín dụng với bên có quyền về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách
hàng khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ đă cam kết; khách hàng phải nhận
nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng số tiền đã được trả thay.
- Căn cứ mục đích cho vay của Chính phủ:
+ Tín dụng nhà nước để thực hiện chính sách kinh tế.
10


+ Tín dụng nhà nước để thực hiện chính sách xă hội.
TDNN vừa có nội dung kinh tế, vừa có nội dung xã hội và chính trị. Sự kết hợp
hài hoà giữa các lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội là bản chất của tín dụng nhà nước, và
cũng là mục tiêu hoạt động, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả hoạt động của tổ chức quản
lý tín dụng nhà nước.
1.1.4. Phân biệt tín dụng nhà nước với tín dụng ngân hàng
Tín dụng ngân hàng (do cơ quan ngân hàng cấp cho người đi vay) là loại tín dụng
thương mại trong đó ngân hàng là người trung gian giữa người vay, gửi tài khoản, vốn
của nó gồm có vốn tự có, các hạng mục tài khoản, tín phiếu do ngân hàng phát hành.
Tín dụng nhà nước (chính phủ là người vay nợ khi nguồn tài chính nhà nước
không đủ chi, là con nợ có nghĩa vụ trả nợ). Hình thức tín dụng nhà nước phổ biến có
các loại: phát hành công trái, phát hành tín phiếu nhà nước (bộ tài chính hay ngân hàng
vay tiền hay dùng hình thức công trái để bù đắp thâm hụt tài chính).
Điểm khác biệt giữa Tín dụng nhà nước và Tín dụng ngân hàng
Tín dụng nhà nước
Mục tiêu

hoạt động

Tín dụng ngân hàng

Hoạt động không vì mục đích lợi nhuận Hoạt động vì mục đích lợi
mà vì mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, nhuận
có khả năng thu hồi vốn cho Nhà nước
Vốn ngân sách và có nguồn gốc từ ngân Vốn cổ phần; Vốn đi vay;

Nguồn vốn
cho vay

sách Nhà nước, hoặc nguồn vốn huy động Vốn huy động; Vốn tiếp
theo kế hoạch của Nhà nước để phục vụ nhận; Vốn khác
mục tiêu đầu tư phát triển và xuất khẩu
theo chủ trương của Nhà nước
Các dự án, chương trình mục tiêu của NN Đối tượng không hạn chế,
nằm trong chiến lược phát triển tổng thể phục vụ mục tiêu cụ thể của
kinh tế - xã hội do NN xác định, chủ yếu ngân hàng

Đối tượng
cho vay

tập trung vào các lĩnh vực kinh tế then
chốt, cần thiết, tác động đến tăng trưởng
kinh tế hoặc các vùng khó khăn, các đối
tượng xã hội cần có sự đầu tư của NN để
thực hiện các chính sách xă hội. Đối tượng
của TDNN sẽ thay đổi qua các thời kỳ
11



Là lăi suất ưu đăi, do Nhà nước quyết định Lãi suất cho vay của ngân
Lãi suất
cho vay

Các hình
thức sử

phù hợp với từng thời kỳ và thấp hơn lăi hàng thương mại (NHTM)
suất cho vay của các NHTM trên cùng thường được xác định dựa
thời kỳ, có xu hướng tiệm cận lăi suất thị trên thỏa thuận với khách
trường và có thời hạn cho vay dài hơn.

hàng vay.

Cho vay trực tiếp, HTLS sau đầu tư,

Không giới hạn hình thức

BLTD đầu tư

cho vay tuỳ theo chức năng
nhiệm vụ của ngân hàng

dụng vốn
Cơ chế

Hoạt động theo nghị định của chính phủ


Hoạt động theo luật ngân
hàng và các tổ chức tín dụng

hoạt động

1.2. Hoạt động hỗ trợ vốn tín dụng nhà nước trong thời kỳ hội nhập kinh tế
quốc tế
Hoạt động TDNN về bản chất là công cụ hỗ trợ tài chính của Nhà nước thông qua
hoạt động đầu tư và xuất khẩu dưới các hình thức cấp tín dụng như cho vay, bảo lãnh
với mức lãi suất ưu đãi, điều kiện cấp tín dụng thuận lợi đối với một số vùng, ngành,
lĩnh vực, mặt hàng cần khuyến khích. Do vậy, ngoài tác động chung của hội nhập đối
với hoạt động ngân hàng, hoạt động TDNN còn có những tác động khi hoạch định
chính sách TDNN trong phạm vi cả nước cũng như khu vực.
Tín dụng nhà nước là một bộ phận quan trọng trong đầu tư nhà nước-nguồn vốn
cơ bản tạo ra sự phát triển dài hạn của nền kinh tế.
Từ khi Việt Nam gia nhâp tổ chức thương mại thế giới WTO thì sức ép cạnh
tranh trong hoạt động cũng ngày càng tăng lên, hoạt động TDNH cũng như TDNN bên
cạnh những thuận lợi, cơ hội thì cũng còn gặp rất nhiều khó khăn, hạn chế và thách
thức. Bốn lĩnh vực liên qua đến hoạt động tín dụng nhà nước khi chúng ta gia nhập
WTO là trợ cấp xuất khẩu, trợ cấp nông nghiệp, hoạt động đầu tư liên quan đến
thương mại và trợ cấp doanh nghiệp Nhà nước.
Ta thấy rằng, việc thực hiện những chương trình dự án phát triển nông thôn, xuất
khẩu,… đòi hỏi chi phí đầu tư ban đầu rất lớn nhưng lại có khả năng sinh lời thấp và
thời hạn thu hồi vốn lâu. Việc đầu tư vào xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng như
năng lượng, đường, thuỷ lợi, các ngành công nghiệp cơ bản, những ngành thâm dụng
vốn,… mà trong giai đoạn đầu phát triển, các thành phần kinh tế khác, nhất là thành
phần kinh tế tư nhân, vừa không muốn tham gia đầu tư, vừa không đủ tiềm lực vốn để
12



đầu tư. Đặc biệt trong những năm trước đây, năng lực của nền kinh tế Việt Nam còn
thấp kém một phần là do thiếu hụt nghiêm trọng các nguồn đầu vào để phục vụ sản
xuất, vì vậy, chỉ có Nhà nước, thông qua tín dụng nhà nước bằng nguồn vốn lớn huy
động tập trung vào ngân sách và viện trợ nước ngoài mới có thể thực hiện được các dự
án đầu tư này, cũng như hỗ trợ các doanh nghiệp thực hiện.
Tín dụng nhà nước đóng vai trò quan trọng đối với phát triển nông nghiệp, từ đó
tác động tích cực tới công cuộc xoá đói giảm nghèo ở nông thôn. Nhờ đầu tư của nhà
nước đã hoàn thành đưa vào sử dụng các công trình thuỷ lợi. Hệ thống thuỷ lợi được
cải thiện rõ rệt đã là nhân tố quyết định để thâm canh, tăng vụ và nâng cao sản lượng
lương thực; nhờ đó Việt Nam không chỉ giữ vững an ninh lương thực mà còn xuất
khẩu gạo với khối lượng lớn. Cơ sở hạ tầng nông thôn phát triển mạnh; đặc biệt là
điện, nước, giao thông. Nhà nước cũng đã đã hỗ trợ đầu tư phát triển giáo dục và đào
tạo ở nông thôn, cho phép cải thiện đáng kể chất lượng con người ở nông thôn,...
Ngoài ra, TDNN có tác dụng tích cực trong việc kích thích đầu tư của các thành
phần kinh tế khác trong giai đoạn kinh tế trì trệ, góp phần tạo ra tốc độ phát triển kinh
tế cao trong giai đoạn những năm vừa qua. Đầu tư nhà nước có vai trò ngày càng lớn
và có tác dụng kích thích, lôi cuốn các thành phần kinh tế khác gia tăng đầu tư. Tăng
đầu tư nhà nước, một mặt đã góp phần tăng nhu cầu tiêu thụ nhiều lợi sản phẩm đang
tồn đọng trong nền kinh tế, từ đó giải quyết một lượng lớn hàng tồn kho, mở ra khả
năng mới để sản xuất tiếp tục phát triển. Mặt khác, việc mở rộng đầu tư nhà nước cũng
đã từng bước phát huy tác dụng kích cầu đầu tư của các ngành kinh tế ngoài nhà nước,
vì đầu tư Nhà nước vào phát triển hạ tầng và một số ngành công nghiệp cơ bản đã tạo
thêm thuận lợi cho việc đầu tư của các thành phần kinh tế này.
Trước đây, hoạt động tín dụng nhà nước do Quỹ hỗ trợ phát triển đảm nhận,
nhưng từ khi gia nhập WTO thì Chính Phủ đã chuyển Quỹ hỗ trợ phát triển thành
Ngân Hàng phát triển Việt Nam, bãi bỏ các hình thức trợ cấp xuất khẩu bị cấm sang
các hình thức khác.
1.2.1 Các hình thức tạo nguồn vốn
Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước
Trong cơ cấu chi ngân sách hàng năm của Nhà nước luôn có một phần nhất định

dành cho đầu tư phát triển dưới hình thức tín dụng.
Nguồn ngân sách Nhà nước dành cho tín dụng đầu tư gồm vốn điều lệ và các quỹ
13


của Ngân hàng Phát triển Việt Nam; vốn cho vay đầu tư phát triển và thực hiện các
chương trình mục tiêu của Chính phủ và chính quyền địa phương.
Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức và vốn vay ưu đãi
Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của nước ngoài được
cơ quan có thẩm quyền giao để cho vay lại hoặc cho vay theo chương trình tín dụng có
mục tiêu.
Nguồn vốn huy động
Phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh theo quy định của pháp luật về
phát hành trái phiếu, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh. Phát hành trái phiếu của
Chính phủ là một kênh tạo nguồn vốn hiệu quả nhằm điều tiết nền kinh tế của Nhà
nước, đảm bảo nguồn vốn ổn định,… Hình thức phát hành trái phiếu Chính phủ có ưu
điểm là khả năng huy động vốn nhanh với khối lượng lớn và chi phí tương đối thấp.
Bên cạnh đó trái phiếu Chính phủ cũng là một loại chứng khoán ít rủi ro và khá an
toàn đối với người đầu tư. Do vậy Nhà nước sử dụng trái phiếu nhằm tạo nguồn huy
động vốn cho đầu tư phát triển.
Ngoài ra còn phát hành trái phiếu, kỳ phiếu, giấy tờ có giá bằng đồng nội tệ của
Ngân hàng Phát triển Việt Nam theo quy định của pháp luật; vay các tổ chức tài chính,
tín dụng trong và ngoài nước; vay Bảo hiểm Xã hội Việt Nam; vay Ngân hàng Nhà
nước (vay tái cấp vốn hoặc cầm cố, chiết khấu các giấy tờ có giá thông qua nghiệp vụ
thị trường mở); vay của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước khác.
Nguồn vốn nhận ủy thác
Ngoài những nguồn vốn trên, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển có thể thực
hiện bằng các nguồn vốn nhận ủy thác của chính quyền địa phương, các tổ chức, cá
nhân trong và ngoài nước như: Ủy thác thanh toán vốn cho Điện lực Việt Nam, Bảo
hiểm xã hội Việt Nam,… để cho vay các dự án đầu tư phát triển, các chương trình xuất

khẩu hàng hóa theo yêu cầu của cơ quan ủy thác.
Nguồn vốn thu hồi nợ hàng năm
Ngân hàng Phát triển thực hiện các hoạt động vay trả thường xuyên nên hàng
năm luôn có một lượng vốn nhất định được thu hồi từ các dự án cho vay trước đó. Vốn
thu hồi được sử dụng để trả nợ, bù đắp chi phí hoạt động và phần còn lại được tăng
cường vào nguồn vốn hiện hành.
Ở nước ta nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển chủ yếu huy động từ ngân sách
14


Nhà nước cấp và từ phát hành trái phiếu Chính phủ.
1.2.2 Các đối tượng được hỗ trợ vốn tín dụng
Chính sách TDNN hiện hành được ban hành đã không phân biệt, đối xử giữa các
thành phần, loại hình kinh tế về đối tượng, điều kiện tiếp cận tín dụng,… Mọi doanh
nghiệp, tổ chức kinh tế đều tiếp cận TDNN với một tiêu chí chung, các doanh nghiệp
nhà nước sẽ hoàn toàn hoạt động theo tiêu chí thương mại.
Đối tượng của TDNN đối với danh mục các dự án vay vốn tín dụng đầu tư kết cấu hạ
tâng kinh tế - xã hội.
-

Dự án đầu tư xây dựng công trình cấp nước sạch phục vụ sản xuất và sinh

-

Dự án đầu tư xây dựng công trình xử lý nước thải, rác thải tại các khu đô thị,

hoạt.
khu công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất, khu công nghệ cao, bệnh viện và các cụm
công nghiệp làng nghề.
-


Dự án xây dựng nhà ở cho sinh viên thuê, dự án nhà ở cho công nhân lao

động tại các khu công nghiệp thuê, dự án nhà ở cho người có thu nhập thấp tại khu vực
đô thị theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
-

Dự án đầu tư hạ tầng, mở rộng, nâng cấp, xây dựng mới và thiết bị trong lĩnh

vực xã hội hóa: giáo dục đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường thuộc
Danh mục hưởng chính sách khuyến khích phát triển theo quyết định của Thủ tướng
Chính phủ.
-

Dự án hạ tầng khu công nghiệp, khu công nghiệp hỗ trợ, khu chế xuất, khu

công nghệ cao.
Đối tượng của TDNN đối với danh mục nông nghiệp, nông thôn.
-

Dự án nuôi, trồng thủy, hải sản gắn với chế biến công nghiệp.

-

Dự án phát triển giống cây trồng, giống vật nuôi, giống cây lâm nghiệp.

-

Dự án chăn nuôi gia súc, gia cầm gắn với chế biến công nghiệp.


Đối tượng của TDNN đối với danh mục công nghiệp.
-

Dự án đầu tư chế biến sâu từ quặng khoáng sản:

Sản xuất fero hợp kim sắt có công suất tối thiểu 1 nghìn tấn/năm.
Sản xuất kim loại màu có công suất tối thiểu 5 nghìn tấn/năm.
Sản xuất bột màu đioxit titan có công suất tối thiểu 20 nghìn tấn/năm.

15


-

Dự án đầu tư sản xuất thuốc kháng sinh, thuốc cai nghiện, vắc xin thương

phẩm và thuốc chữa bệnh HIV/AIDS; sản xuất thuốc thú y đạt tiêu chuẩn GMP.
-

Dự án đầu tư xây dựng nhà máy phát điện sử dụng các nguồn năng lượng: gió,

mặt trời, địa nhiệt, sinh học và các tài nguyên năng lượng khác có khả năng tái tạo.
-

Dự án đầu tư xây dựng thủy điện nhỏ, với công suất nhỏ hơn hoặc bằng

50MW thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn.
-

Dự án đầu tư sản xuất sản phẩm cơ khí trọng điểm theo Quyết định của Thủ


tướng Chính phủ.
-

Dự án thuộc danh mục các ngành công nghiệp hỗ trợ theo Quyết định của Thủ

tướng Chính phủ.
Đối tượng của TDNN đối với danh mục các dự án đầu tư tại địa bàn có điều
kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn; dự án tại vùng đồng bào dân tộc
Khơ me sinh sống tập trung, các xã thuộc chương trình 135 và các xã biên giới thuộc
chương trình 120, các xã vùng bãi ngang. (không bao gồm dự án thủy điện, nhiệt điện,
sản xuất xi măng, sắt thép; dự án đầu tư đường bộ, cầu đường bộ, đường sắt và cầu
đường sắt).
Đối tượng của TDNN đối với danh mục các dự án cho vay theo hiệp định Chính
phủ, các dự án đầu tư ra nước ngoài theo quyết định của thủ tướng chính phủ; các dự
án cho vay theo chương trình mục tiêu sử dụng vốn nước ngoài.
1.3. Vai trò của tín dụng nhà nước đối với các doanh nghiệp
1.3.1 Vai trò của các doanh nghiệp trong nền kinh tế
Doanh nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng của nền kinh tế, là bộ phận chủ yếu tạo
ra tổng sản phẩm trong nước (GDP). Những năm gần đây, hoạt động của doanh nghiệp
đã có bước phát triển đột biến, góp phần giải phóng và phát triển sức sản xuất, huy
động và phát huy nội lực vào phát triển kinh tế xã hội, góp phần quyết định vào phục
hồi và tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách Các DN có
những đóng góp quan trọng vào việc giải quyết các vấn đề xã hội như tạo nhiều việc
làm cho người lao động, có thể sử dụng lao động tại nhà, lao động thường xuyên và
lao động thời vụ; hạn chế tệ nạn, tiêu cực (do không có việc làm); tăng thu nhập, nâng
cao chất lượng đời sống; tạo nguồn thu quan trọng cho ngân sách nhà nước; thu hút
nhiều nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư; khai thác được tiềm năng sẵn có,… Các doanh
nghiệp (DN) góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển của các ngành và cả nền kinh tế, tạo
16



thêm nhiều hàng hoá dịch vụ và đáp ứng ngày càng cao nhu cầu thị trường (không
phải nhu cầu nào của doanh nghiệp lớn đều đáp ứng được). Vì vậy, DN được coi như
là “chiếc đệm giảm xóc của thị trường”.
Doanh nghiệp là yếu tố quan trọng, quyết định đến chuyển dịch các cơ cấu lớn
của nền kinh tế quốc dân như: Cơ cấu nhiều thành phần kinh tế, cơ cấu ngành kinh tế,
cơ cấu kinh tế giữa các vùng, địa phương.
Việc phát triển các doanh nghiệp ngành công nghiệp là nhân tố đảm bảo cho việc
thực hiện các mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nâng cao hiệu quả
kinh tế, giữ vững ổn định và tạo thế mạnh hơn về năng lực cạnh tranh của nền kinh tế
trong quá trình hội nhập.
Các DN có khả năng tập trung vốn, trí tuệ vào các ngành kinh tế phát triển hay
những ngành kinh tế đòi hỏi hàm lượng trí thức như công nghệ thông tin cũng như có
khả năng lấp đầy những khoảng trống trong các lĩnh vực sản xuất kinh doanh không
cần vốn lớn và có lợi nhuận thấp mà các nhà đầu tư lớn ít quan tâm tới. Thông qua
việc phát triển các DN tạo nên cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, các nghành nghề kinh
doanh đa dạng, phong phú. Đầu năm 2002, trong số trên 2 triệu DN đã tham gia vào
khá nhiều lĩnh vực như: ngành công nghiệp chế biến (chiếm khoảng 35,4% của loại
hình doanh nghiệp này); lĩnh vực xây dựng chiếm gần 10%; ngành khách sạn và nhà
hàng chiếm 4,4%; ngành vận tải, kho bãi và thông tin liên lạc chiếm 3,3%; ngành kinh
doanh bất động sản và dịch vụ tư vấn chiếm 2,1%; ngành khai thác mỏ chiếm 1,2%,…
và 7 ngành khác chỉ có dưới 1%. Đặc biệt, có gần DN tham gia vào các ngành thương
nghiệp, sửa chữa và công nghiệp chế biến, riêng các doanh nghiệp hoạt động trong
lĩnh vực thương nghiệp, sửa chữa chiếm 42,2%.
Tỷ lệ DN của Việt Nam trong mỗi ngành được sắp xếp theo thứ tự tăng dần như
sau: Sản xuất, phân phối điện, khí đốt và nước chiếm 61,5%; Hoạt động văn hoá và thể
thao: 67,4%; Tài chính, tín dụng: 72,3%; Vận tải, kho bãi và thông tin liên lạc: 78%;
Hoạt động phục vụ cá nhân và công cộng: 83,1%; Hoạt động kinh doanh tài sản, dịch
vụ tư vấn: 83,5%; Công nghiệp khai thác mỏ: 83,6%; Khách sạn, nhà hàng: 84,4%;

Xây dựng: 85,7%; Công nghiệp chế biến: 86%; Giáo dục và đào tạo: 87,5%; Y tế và
hoạt động cứu trợ xã hội: 85,7%; Sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy, đồ dùng:
93%; Hoạt động khoa học và công nghệ: 94,1%.
Trong ngành công nghiệp chế biến, số lượng và tỷ lệ DN tham gia vào sản xuất
17


nhiều loại sản phẩm khác nhau có sự biến động mạnh, tuỳ thuộc vào từng lĩnh vực.
Trong phân ngành sản xuất thuốc lá và thuốc lào, DN chiếm 29% tổng số các doanh
nghiệp, nhưng về sản lượng chỉ chiếm một tỷ lệ không đáng kể, khoảng 0,11% giá trị
sản lượng toàn ngành. DN của Việt Nam tập trung chủ yếu vào 7 phân ngành thuộc
ngành công nghiệp chế biến và mỗi phân ngành chiếm tỷ lệ dao động trong khoảng từ
73-93%. Giá trị sản lượng của 7 phân ngành này chiếm 81% tổng giá trị sản lượng của
toàn ngành. Tỷ lệ đóng góp DN trong giá trị sản lượng của 7 phân ngành được sắp xếp
theo thứ tự giảm dần như sau: Sản xuất thực phẩm và đồ uống: 40,24%; sản xuất sản
phẩm từ chất khoáng phi kim loại khác: 14,49%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ
gỗ, tre nứa, rơm rạ: 8,03%; sản xuất các sản phẩm từ kim loại (trừ máy móc thiết bị):
4,06%; dệt: 4,10%; sản xuất trang phục, thuộc và nhuộm da lông thú: 4,06%. Hầu như
không có DN nào tham gia hoạt động trong các phân ngành sản xuất than cốc, sản
phẩm dầu mỏ hoặc nhiên liệu hạt nhân.
Bên cạnh vai trò to lớn về kinh tế, các DN cũng đóng vai trò không nhỏ về xã
hội. Những năm gần đây, sản phẩm hàng hoá và dịch vụ do khối doanh nghiệp tạo ra
ngày càng phong phú, đa dạng về chủng loại mặt hàng, chất lượng hàng hoá, dịch vụ
được nâng lên, do đó đã giải quyết cơ bản nhu cầu tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ ngày
càng cao của toàn xã hội, góp phần nâng cao mức sống vật chất của dân cư và tăng
nhanh lượng hàng hoá xuất khẩu. Nhiều sản phẩm trước đây thường phải nhập khẩu
cho tiêu dùng thì nay đã được các doanh nghiệp sản xuất thay thế và được người tiêu
dùng trong nước tín nhiệm như: Ô tô, xe máy, phương tiện vận tải, các mặt hàng đồ
điện, điện tử, may mặc, thực phẩm, đồ uống, hoá mỹ phẩm, đồ dùng gia đình, sản
phẩm phục vụ xây dựng,...

Doanh nghiệp là khu vực chủ yếu tạo ra nguồn thu cho ngân sách Nhà nước,
nguồn thu này tăng nhanh trong những năm qua là điều kiện để đầu tư phát triển cơ sở
hạ tầng, phát triển các hoạt động xã hội công (y tế, giáo dục, xoá đói giảm nghèo,...)
1.3.2 Những tồn tại của các doanh nghiệp hiện nay
Một trong những hạn chế mà doanh nghiệp nào cũng mắc phải đó là vốn. Các
doanh nghiệp có khả năng tạo lập do tính mở của pháp luật, nhưng Hạn chế về năng
lực tài chính. Đặc biệt với những doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm hơn 97% tổng số
doanh nghiệp hiện có trên cả nước.
Thứ nhất: Hạn chế về năng lực tài chính. Các DN dễ tạo lập, nguồn vốn của DN
18


chủ yếu là nguồn vốn tự có, thường là tiết kiệm của mỗi cá nhân, vay mượn bạn bè
hoặc gia đình mà có. Khả năng huy động vốn từ ngân hàng của DN gặp phải nhiều khó
khăn vì: thiếu tài sản thế chấp, sổ sách ghi chép không rõ ràng, thiếu minh bạch, không
đáp ứng được những yêu cầu từ phía các ngân hàng. Vì vậy thiếu vốn là một trong
những khó khăn lớn đối với các DN.
Thứ hai: DN gặp phải khó khăn trong công tác thu hút và tuyển chon nguồn nhân
lực chất lượng cao, các nhà quản lý giàu kinh nghiệm và đội ngũ công nhân lành nghề.
Nguyên nhân chủ yếu do năng lực tài chính thấp, tiến hành kinh doanh không lớn, thị
trường nhỏ do vậy chưa đáp ứng được mức lương cao tương xứng với nguồn lao động
chất lượng cao.
Thứ ba: Hoạt động sản xuất kinh doanh của DN không bền vững. Tuy có ưu thế
về khả năng tạo lập nhưng do hạn chế về vốn nên khi thị trường có những biến động,
các DN dễ rơi vào tình trạng bế tắc và có nguy cơ phá sản.
Thứ tư: DN ở Việt Nam chưa quan tâm tới trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
(Corprate Social Responsibility hay CSR) được hiểu là “sự cam kết của doanh nghiệp
đóng góp cho việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua những việc làm nâng cao
chất lượng đời sống của người lao động và các thành viên gia đình họ, cho cộng đồng
và toàn xã hội, theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung của xã

hội” Những doanh nghiệp mong muốn phát triển bền vững luôn phải tuân thủ những
chuẩn mực về bảo vệ môi trường, bình đẳng về giới, an toàn lao động, trả lương công
bằng, đào tạo và phát triển nhân viên,… Ở nước ta một số doanh nghiệp đã đạt tiêu
chuẩn về trách nhiệm xã hội. Tuy nhiên đối với hầu hết các DN vẫn chưa đạt được
những tiêu chuẩn này. Trong xu thế hội nhập, nước ta trở thành thành viên thứ 150 của
tổ chức WTO, các doanh nghiệp cần phải quan tâm và tuân thủ CSR mới có cơ hội
tiếp cận thị trường quốc tế.
Các yếu tố sản xuất kinh doanh không được đáp ứng đầy đủ. Không đặt vấn đề
phân tích về mặt môi trường pháp lý, mà chỉ phân tích các yếu tố cơ bản nhất sử dụng
cho sản xuất kinh doanh là: lao động, tiền vốn, đất đai và các dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật,
thông tin. Nguồn lực lao động của nước ta dồi dào, lực lượng lao động trẻ là to lớn,
sẵn sàng vào làm việc cho các doanh nghiệp và chấp nhận mức lương chưa phải là cao.
Nhìn chung các doanh nghiệp rất lúng túng trong việc tìm kiếm các dịch vụ hỗ trợ kỹ
thuật công nghệ, dịch vụ cung cấp thông tin về thị trường, giá cả, môi trường đầu tư,
19


nhưng khó khăn nhất vẫn là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và doanh nghiệp nhà
nước.
1.3.3 Vị trí của nguồn vốn tín dụng nhà nước đối với các doanh nghiệp
Về mặt pháp lý: mỗi doanh nghiệp khi muốn thành lập thì điều kiện đầu tiên
doanh nghiệp đó phải có một lượng vốn nhất định, lượng vốn đó tối thiểu phải bằng
lượng vốn pháp định ( lượng vốn tối thiểu mà pháp luật quy định cho từng loại hình
doanh nghiệp ) khi đó địa vị pháp lý của doanh nghiệp mới được xác lập. Ngược lại,
việc thành lập doanh nghiệp không thể thực hiện được. Trường hợp trong quá trình
hoạt động kinh doanh, vốn của doanh nghiệp không đạt điều kiện mà pháp luật quy
định, doanh nghiệp sẽ bị tuyên bố chấm dứt hoạt động như phá sản, giải thể, sát
nhập,… Như vậy, vốn có thể được xem là một trong những cơ sở quan trọng nhất để
đảm bảo sự tồn tại tư cách pháp nhân của một doanh nghiệp trước pháp luật.
Về kinh tế: trong hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn là một trong những yếu tố

quyết định sự tồn tại và phát triển của từng doanh nghiệp. Vốn không những đảm bảo
khả năng mua sắm máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ để phục vụ cho quá trình
sản xuất mà mà còn đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra thường xuyên,
liên tục.
Vốn là yếu tố quan trọng quyết định đến năng lực sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp và xác lập vị thế của doanh nghiệp trên thương trường. Điều này càng thể hiện
rõ trong nền kinh tế thị trường hiện nay với sự cạnh tranh ngày càng ngay gắt, các DN
phải không ngừng cải tiến máy móc thiết bị, đầu tư hiện đại hoá công nghệ,… Tất cả
những yếu tố này muốn đạt được thì đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng vốn đủ
lớn.
Vốn cũng là yếu tố quyết định đến việc mở rộng phạm vi hoạt động của doanh
nghiệp. Để có thể tiến hành tái sản xuất mở rộng thì sau một chu kỳ kinh doanh, vốn
của doanh nghiệp phải sinh lời tức là hoạt động kinh doanh phải có lãi đảm bảo vốn
của doanh nghiệp tiếp tục mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao uy tín của doanh
nghiệp trên thương trường.Nhận thức được vai trò quan trọng của vốn như vậy thì
doanh nghiệp mới có thể sử dụng vốn tiết kiệm, có hiệu quả hơn và luôn tìm cách nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn. TDNN cũng là một hình thức cung cấp vốn cho các DN,
TDNN đóng một vái trò qua trọng với các DN
Thúc đẩy quá trình xuất hiện, tồn tại và phát triển của DN theo mục tiêu và định
20


hướng kinh tế của Nhà Nước. Để tồn tại và duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh các
DN dựa vào những nguồn vốn chủ yếu như: Vốn vay ngân hàng, vốn tự bổ sung, hoặc
vay bằng các hình thức khác. Tuy nhiên, ban đầu khi DN mới thành lập thường gặp
khó khăn lớn về nguồn vốn. Vốn tự có thấp và hạn chế về các khoản vay bên ngoài
không đủ tham gia sản xuất kinh doanh.
Vốn tín dụng của nhà nước góp phần tăng khả năng về vốn kinh doanh cho DN
tiến hành hoạt động, thông qua các hình thức hỗ trợ như cho vay vốn đối với DN hoặc
HTLS sau đầu tư hay NN đứng ra bảo lãnh tạo điều kiện thuận lợi cho DN tiếp cận

nguồn vốn tín dụng ngân hàng. Tín dụng của NN có những ưu thế nổi bật như: Lãi
suất vay thấp, thời hạn cho vay dài, nguồn vốn vay lớn, được sử dụng tài sản hình
thành từ vốn vay để đảm bảo tiền vay,… là những ưu đãi giúp các DN có nhiều lợi thế
đáp ứng nhu cầu nguồn vốn cho việc tạo lập và phát triển hoạt động kinh doanh của
mình.
Góp phần tăng cường năng lực tài chính cho các DN để phát triển sản xuất kinh
doanh. Chính sách tín dụng của NN góp phần tăng thêm vốn cho các DN. Khi cho DN
vay với lãi suất thấp thực tế là đã trợ cấp một khoản vốn cho DN. Mặt khác, cho vay
với lãi suất thấp là hình thức giảm chi phí đầu tư, tăng cao khả năng thu lợi nhuận, khả
năng tích lũy của DN. Khó khăn đối với các DN đó là năng lực ứng dụng khoa học
công nghệ vào sản xuất, kinh doanh và quản lý còn yếu để có thể thành công trong một
nền kinh tế cạnh tranh cao độ như hiện nay, các doanh nghiệp phải thường xuyên thay
đổi công nghệ, máy móc, thiết bị, các phương pháp, bí quyết sản xuất. Tín dụng của
NN sẽ là kênh vốn hỗ trợ DN tiến hành đổi mới công nghệ nâng cao trình độ quản lý,
cải tiến kỹ thuật,…
Tạo điều kiện cho DN tiếp cận với các dịch vụ ngân hàng. Có thể nói hầu hết các
dịch vụ ngân hàng (huy động vốn, dịch vụ cho vay, đầu tư, thanh toán, bảo lãnh, cho
thuê tài chính, tư vấn, quản lý tài sản,...) đã đến với cộng đồng các doanh nghiệp. Tuy
nhiên khó khăn lớn nhất, bức xúc nhất của các doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện nay vẫn
là thiếu vốn bởi năng lực vốn nội tại của các doanh nghiệp này hạn chế trong khi tiếp
cận với vốn ngân hàng còn nhiều rào cản. Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn
đến các DN khó tiếp cận với dịch vụ ngân hàng xuất phát từ chính bản thân DN.
Doanh nghiệp không hiểu về cơ chế tín dụng của ngân hàng. Nguồn vốn tín dụng đã
góp phần quan trọng trong việc hỗ trợ các DN mở rộng khả năng về vốn để tiến hành
21


hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, việc tài trợ vốn bằng kênh cho vay trực tiếp
này chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu vốn của DN, bởi vì nhu cầu của thị trường đa
dạng và phong phú vì vậy việc huy động vốn từ ngân hàng là rất cần thiết và là nhu

cầu cấp bách của các DN nói chung và DN nói riêng. Với phương thức HTLS sau đầu
tư và BLTD đầu tư cho các ngành nghề, không phân biệt khu vực ưu đãi đã tạo điều
kiện và khuyến khích rất lớn để mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh của DN. Mặt
khác, với phương thức hỗ trợ này đã giúp các DN chủ động tìm hiểu, tiếp cận và sử
dụng các dịch vụ mà ngân hàng cung ứng.
Góp phần quan trọng định hướng và điều tiết các hoạt động của DN vào ngành
nghề và khu vực cần phát triển theo định hướng của NN. NN quản lý và điều tiết nền
kinh tế bằng các công cụ quản lý vĩ mô điều hành nền kinh tế nhằm đạt được các mục
tiêu đã đề ra. Chính sách tín dụng là một trong những công cụ quan trọng để phát triển
nền kinh tế nhằm phát triển nền kinh tế theo định hướng đã đề ra.
Nhà nước sử dụng chính sách tín dụng nhằm định hướng các DN tạo lập và phát
triển những ngành nghề được khuyến khích, phát triển ở những khu vực, vùng miền
khó khăn góp phần phát triển cân bằng cho các ngành nghề, giảm bớt sự chênh lệch
phát triển giữa nông thôn và thành thị, miền núi và đồng bằng.
Vốn TDNN có tác dụng đầu tư khuyến khích phát triển các ngành nghề mà đặc
biệt là đầu tư cho xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng. Bên cạnh đó, vốn TDNN có
tác dụng hỗ trợ cho các lĩnh vực, các ngành khó khăn cần sự hỗ trợ để phát triển.
Nâng cao khả năng hoạt động kinh doanh và khả năng cạnh tranh của DN trên
thị trường. Nguồn vốn tín dụng đầu tư vào phát triển cơ sở hạ tầng tạo điều kiện môi
trường thuận lợi cho các DN tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Mặt khác,
nguồn vốn này còn có vai trò quan trọng hỗ trợ cho các DN trong các lĩnh vực như đào
tạo cán bộ quản lý, đào tạo nguồn nhân lực, hỗ trợ về thông tin cơ chế, chính sách chế
độ, thông tin về giá cả, công nghệ, kỹ thuật,… Nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của
mình trên thị trường. Gia nhập WTO, một trong những vũ khí cạnh tranh của DN là
trình độ quản trị, khả năng điều hành của người chủ DN và năng lực chuyên môn của
đội ngũ nhân sự. Hỗ trợ đào tạo là hỗ trợ gián tiếp góp phần nâng cao trình độ quản lý,
trình độ tay nghề của người lao động. Thông qua các chương trình này, sẽ đào tạo nên
các nhà quản lý giỏi, nâng cao tay nghề cho người lao động giúp DN hoạt động và
phát triển bền vững.
22



1.4. Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới trong thực hiện chính sách
tín dụng nhà nước
1.4.1. Khảo sát mô hình tổ chức thực hiện chính sách tín dụng nhà nước của
một số quốc gia
1.4.1.1.Ngân hàng Phát triển Nhật Bản (DBJ)
- Lịch sử hình thành:
Nhằm khắc phục tình trạng không đủ vốn cung cấp cho việc tái thiết cơ sở vật
chất thiệt hại do chiến tranh các tổ chức tài chính tư nhân của Nhật Bản đã quyết định
thành lập Ngân hàng tài chính tái thiết (RFB) vào năm 1947. Đây là cơ quan tài chính
chính sách đầu tiên của Nhật. Đến năm 1951 Ngân hàng Phát triển (JDB) được thành
lập theo Luật Ngân hàng phát triển Nhật Bản với tư cách là Ngân hàng kế thừa RFB.
Năm 1999 hợp nhất JDB và Công ty tài chính Phát triển Hokkaido -Tohoku thành
Ngân hàng Phát triển Nhật Bản (DBJ).
- Mô hình, hình thức sở hữu và quản lý:
Ngân hàng Phát triển Nhật Bản (DBJ) là một tổ chức tài chính của Chính phủ
và thuộc sở hữu 100% của Chính phủ (mô hình công ty 100% vốn nhà nước). DBJ có
một viện nghiên cứu trực thuộc (Viện Nghiên cứu kinh tế Nhật Bản), một uỷ ban và 22
ban ở hội sở chính. Ngoài ra, DBJ có 7 chi nhánh và 6 văn phòng khác ở Nhật và 5 văn
phòng tại nước ngoài. Là một tổ chức tài chính của Chính phủ sở hữu 100% nên DBJ
chịu sự quản lý toàn diện của Bộ Tài chính. Việc sử dụng vốn, xác định danh mục cho
vay, bổ nhiệm các nhân sự cao cấp (Hội đồng quản lý), kế hoạch ngân sách hàng năm,
bảo đảm khả năng thanh toán và bảo lãnh khi vay vốn của DBJ đều thuộc thẩm quyền
của Bộ Tài chính. DBJ là một NHPT điển hình trong suốt quá trình hoạt động của
mình và không giống các ngân hàng phát triển khác.
- Nguồn vốn, tài chính:
Toàn bộ nguồn vốn cấp ban đầu của DBJ do Bộ Tài chính cấp và Bộ Tài chính là
cơ quan thay mặt Chính phủ sở hữu 100% vốn cấp cho DBJ. Khoản vốn cấp ban đầu
khi thành lập là 10 tỷ Yên của DBJ do Bộ Tài chính cấp và trong vòng 5 năm đã nâng

số vốn này lên 234 tỷ Yên - một số tiền đáng kể vào thời điểm đó. Số vốn cấp này
Chính phủ dựa vào kinh nghiệm rút ra từ Ngân hàng Tài chính tái thiết (RFB), tiền
thân của DBJ. Nguồn vốn của RFB phụ thuộc rất lớn vào phát hành trái phiếu. Kể từ
khi phần lớn trái phiếu được Ngân hàng Trung ương Nhật Bản bảo chứng, lạm phát
23


không thể kiểm soát nổi ngày càng trầm trọng. Nhằm ngăn chặn tình trạng tương tự,
DBJ được cấp một khoản vốn ban đầu đủ lớn để đảm bảo không phải phụ thuộc nhiều
vào phát hành trái phiếu. Số vốn 234 tỷ 55 Yên được duy trì cho trong 38 năm cho tới
năm 1993. Hiện tại, số vốn đó là 342 tỷ Yên (khoảng 3 tỷ USD) và Bộ Tài chính là
chủ sở hữu duy nhất. Bên cạnh vốn cấp, DBJ cũng huy động vốn thông qua đi vay và
phát hành trái phiếu nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh, do đó Bộ Tài chính chịu
trách nhiệm đối với toàn bộ các khoản nợ của DBJ.
- Đối tượng tài trợ và lĩnh vực hoạt động:
DBJ là một công cụ rất quan trọng của Nhà nước trong hỗ trợ dài hạn cho phát
triển một số ngành then chốt, cần nhiều vốn ở thời kỳ đầu giai đoạn tăng trưởng kinh
tế cao. Thông qua DBJ, Chính phủ Nhật Bản thực hiện chính sách phát triển kinh tế
từng thời kỳ, dưới hình thức tài trợ trung và dài hạn; kể cả đầu tư góp vốn. Về nguyên
tắc, DBJ cho vay vốn đầu tư dài hạn cho khu vực tư nhân nhưng theo đúng luật của
DBJ đã quy định là không cạnh tranh với các tổ chức tài chính tư nhân và chỉ bổ sung
cho hoạt động của các tổ chức này. DBJ là cơ quan của Chính phủ nhưng được đảm
bảo tính tự chủ trong việc quyết định cho vay, việc cho vay chỉ được thực hiện khi xác
định được khả năng trả nợ của khoản vay. Trong suốt quá trình hoạt động cho đến nay,
DBJ luôn thận trọng trong việc thay đổi các lĩnh vực ưu tiên trong hoạt động cho vay
theo từng thời kỳ.
Hiện nay, ngân hàng này đang tài trợ để cải thiện đời sống xã hội và các ngành
công nghiệp chiến lược như điện, vận tải, giao thông đường thuỷ, ngành than, thép và
một số ngành công nghiệp cơ bản khác…
1.4.1.2. Ngân hàng Phát triển Hàn Quốc (KDB)

- Lịch sử hình thành, hình thức sở hữu và mô hình:
Được thành lập năm 1954 theo Luật đặc biệt Ngân hàng phát triển Hàn Quốc
(KDB) ban đầu là ngân hàng của Chính phủ thành lập nhằm mục đích khôi phục nền
kinh tế sau chiến tranh với Triều Tiên. Hiện nay KDB đã cổ phần hóa và trở thành
ngân hàng hoạt động trên 02 lĩnh vực công và tư. KDB hoạt động dưới sự giám sát của
Bộ Tài chính và kinh tế, Uỷ ban giám sát tài chính, hai cơ quan này thực hiện giám sát
hoạt động của KDB theo đúng quy định tại Luật KDB
- Nguồn vốn và tài sản:

24


KDB có vốn điều lệ 20.000 tỷ won (tương đương 15 tỷ USD). Ngoài vốn điều lệ,
nguồn vốn hoạt động của KDB chủ yếu được vay từ Chính phủ, ngân hàng trung ương
Hàn Quốc; phát hành trái phiếu trong nước và quốc tế do Chính phủ bảo lãnh. Khi trả
nợ, KDB được ưu tiên trả nợ các tổ chức tài chính khác trước, trả nợ ngân hàng Hàn
Quốc và Chính phủ sau. Lãi suất cho vay của KDB là lãi suất thị trường, do KDB tự
quyết định.
- Lĩnh vực tài trợ và phạm vi hoạt động:
Hàn Quốc trở thành nước công nghiệp với tiềm năng kinh tế kỹ thuật phát triển.
Trong sự phát triển đó có sự đóng góp của hai yếu tố quan trọng là chiến lược tăng
trưởng dựa vào xuất khẩu và chính sách tạo nguồn vốn hợp lý, trong đó có công cụ
Ngân hàng Phát triển Hàn Quốc. KDB cấp tín dụng chủ yếu là trung và dài hạn, kể cả
cho vay vốn lưu động đối với các dự án lớn thuộc các ngành sản xuất chủ lực và công
nghệ hóa học, công nghiệp chiến lược, cơ sở hạ tầng quốc gia, các doanh nghiệp nhỏ
và vừa; tài trợ thương mại. KDB còn hoạt động tư vấn tài chính, tái cơ cấu tài chính
doanh nghiệp. Thập kỷ 70, thương mại thế giới phát triển hết sức mạnh mẽ, nền kinh
tế thị trường ở các nước đã bước vào giai đoạn phát triển mới cùng với tiến trình tự do
hoá tài chính và tư nhân hoá khá nhanh chóng. Các ngân hàng phát triển đã đẩy mạnh
hơn chức năng hỗ trợ đầu tư sản xuất hàng xuất khẩu và hỗ trợ xuất khẩu, phát triển

ngành nghề mới. Hàn Quốc đã thành lập thêm Ngân hàng Xuất nhập khẩu Hàn Quốc
(KEXIM, tách ra từ KDB, 1974) nhằm đẩy mạnh một cách chuyên biệt việc hỗ trợ
xuất nhập khẩu hàng hoá và góp phần cầu nối kinh tế Nam-Bắc Triều Tiên.
1.4.1.3. Ngân hàng Phát triển Trung Quốc
- Lịch sử hình thành:
CDB được thành lập vào tháng 3 năm 1994. Là tổ chức chịu sự điều hành trực
tiếp từ Quốc vụ viện, CDB phải trình báo các hoạt động lên Quốc vụ viện theo quy
định. Hội đồng quản lý được thành lập như một đơn vị điều hành nội bộ; bao gồm các
thành viên đại diện cho: Ủy ban kế hoạch Nhà nước, Ủy ban thương mại và kinh tế
Nhà nước, Bộ ngoại thương và hợp tác kinh tế, Kiểm toán. CDB hoạt động theo Luật
đặc biệt, nhằm tập trung thực hiện việc cho vay TDNN và cho vay lại vốn ODA. Các
ngân hàng bàn giao việc cho vay ưu đãi cho Ngân hàng Phát triển và chỉ thực hiện
công tác tín dụng ngân hàng. Trung Quốc coi đây là một việc làm quan trọng để đi sâu

25


×