Tải bản đầy đủ (.doc) (31 trang)

đổi mới kinh tế việt nam với phép phủ định biện chứng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (176.17 KB, 31 trang )

TL22
LỜI NÓI ĐẦU
Việc đổi mới nền kinh tế Việt Nam từ nền kinh tế kế hoạch tập trung
quan liêu bao cấp sang nền thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng cộng sản Việt Nam đã lựa chọn từ đại hội
Đảng VI (1996) đang từng bước thúc đẩy sự phát triển kinh tế ở Việt Nam. Thực
tiễn tình hình kinh tế của nước ta trong những năm qua cho thấy công cuộc đổi
mới kinh tế của Việt Nam đang đi trên con đường đúng đắn. Cơng cuộc cơng
nghiệp hố - hiện đại hoá đất nước đang dần dần thu được những thành quả
đáng chú ý. Từ một nước phải nhập khẩu gạo trong những năm đầu giải phóng
đất nước, đến nay, Việt Nam đã trở thành một trong ba nước xuất khẩu gạo
hàng đầu thế giới, sánh vai cùng với Mỹ và Thái Lan. Quan hệ thương mại của
nước ta cũng ngày càng được mở rộng với chủ trường “ Việt Nan muốn làm bạn
với tất cả các nước trên thế giới”. Nước ta nhập WTO tổ chức thương mại thế
giới – và đến khi đó thì nền kinh tế của Việt Nam sẽ có những bước tiến mới,
hứa hẹn một sự tăng trưởng cao. Không chỉ trong lĩnh vực kinh tế mà trong
những ngành khoa học cơ bản cũng dần dần được đầu tư thích đáng hơn và có
sự chú ý hơn của Nhà nước, bằng chứng là ngân sách Nhà nước cho những
ngành này đã tăng lên đáng kể so với những năm đầu thập kỷ 90. Để đạt được
những thành tích đáng kể như vậy ngồi sự nỗ lực gồng mình trong xu thế hội
nhập với thế giới để khơng trở thành “kể bị đào thải” thì một trong những điều
kiện quan trọng để đưa nước ta có được vị thế dần dần được khẳng định trong
khu vực là do Đảng và Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã kiên
trì đường lối lãnh đạo, quán triệt tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin, coi đó là
nền tảng tư tưởng và làm kim chỉ nam cho mọi lý luận khoa học và xã hội mặc
dầu đã có khơng ít những sự nghi ngờ, dèm pha về chủ nghĩa Mác – Lênin, đặc
biệt khi Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ. Trong quá trình lãnh đạo đất
nước để thực hiện mục tiêu “ dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh”,
tiến lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã kiên định đường lỗi lãnh đạo, kế thừa và
phát huy chủ nghĩa Mác – Lênin và biết áp dụng thực tiễn phép biện chứng của
1




Mác – xít một cách linh hoạt trong những đường lối, định hướng, chính sách
hoạch định phát triển kinh tế xã hội khẳng định việc đổi mới nền kinh tế nước ta
sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội
chủ nghĩa là hồn tồn đúng đắn - trong đó chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác –
Lênin luôn là nền tảng vững chắc là kim chỉ nam dẫn đường.
Nhận thức tầm quan trọng của chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác Lênin,
đặc biệt là phép phù định biện chứng đối với công cuộc đổi mới của Việt Nam,
và đây cũng là những lý luận cơ bản mà mỗi học sinh khi bước chân vào giảng
đường đại học cần phải nắm được, Bộ môn Triết học Mác Lênin – trong Đại học
Kinh tế Quốc dân đã có chủ trương cho sinh viên nghiên cứu và ngoài những
giời giảng dậy trên lớp, bộ môn đã nâng lên thành một đề tài nghiên cứu khoa
học cho sinh viên. Trong quá trình nghiên cứu đề tài, em rất vui khi được tiếp
xúc với những lý luận cơ bản và cần thiết và rất vui mừng khi được nâng cao
kiến thức với một đề tài “đổi mới kinh tế việt nam với phép phủ định biện
chứng”.Tuy nhiên, vì đây là lần đầu tiên thử sức với một đề tài vừa mang tính lý
luận, vừa mang tính thực tiễn cao nên em khơng tránh khỏi sai sót, em mong các
thầy (cô) thông cảm và giúp đỡ em trong q trình hồn thiện tư duy và kiến
thức của mình.
Em xin chân thành cảm ơn thầy (cơ)

2


A.CƠ SỞ LÝ LUẬN
PHẦN I: QUY LUẬT PHỦ ĐỊNH VÀ PHỦ ĐỊNH
I. Khái niệm phủ định biện chứng và những đặc điểm của nó
1. Khái niệm
Triết học Mác thấy rõ sự chuyển hoá từ những thay đổi thành những thay

đổi về vật chất, sự đấu tranh của các mặt đối lập dẫn tới mâu thuẫn được giải
quyết, sự vật cũ mất đi và sự vật mới ra đời. Mỗi sự thay thế ấy làm thành một
mắt khâu trong sợi dây xích phát của hiện thực và của sự tư duy. Sự ra đời của
cái mới là kết quả của sự phủ định cái cũ, cái lỗi thời. Sự phủ định trong tự
nhiên lẫn trong xã hội là sự phủ định làm mất đi cái cũ và xuất hiện cái mơí, tiến
bộ hơn.Sự phủ định như vậy là hình thức giải quyết các mâu thuẫn nội tại của
bản thân sự vật bị phủ định. Từ những sự nhận đinh trên chủ nghĩa duy vật đã
đưa ra khái niệm: Phủ định biện chứng là quá trình tự thân vận động phủ định,
tự thân phát triển, là mắt khâu trên con đường dẫn tới sự ra đời của cái mới, tiến
bộ hơn so với cái bị phủ định.
2. Đặc điểm
Phủ định biện chứng có hai đặc trưng cơ bản
+ Thứ nhất, nó mang tính khách quan, là điều kiện của sự phát triển.
Phủ định biện chứng là q trình mang tính khách quan do mâu thuẫn của
bản thân sự vật tự quy định. Hơn nữa, phương thức phủ định sự vật cũng không
tuỳ thuộc ý muốn của con người. Khi đề cập tới vấn đề này, chúng ta lưu ý
rằng, mỗi sự vật có phương thức phủ định riêng, do đó mà có sự phát triển. Sự
phủ định là kết quả hoạt động của quy luật mâu thuẫn và quy luật lượng chất cũ
và xuất phát từ xu hướng vận động của sự vật, hiện tượng, từ chính trong nội lực
của sự vật.
Nguyên nhân của sự chuyển hố đó là do sự phát triển của mâu thuẫn bên
trong của sự vật do sự biến hoá của một số điều kiện bên trong nào đó làm cho
một số đặc trưng, đặc tính hoặc hình thức vốn có mất ý nghĩa tích cực đáng
được khẳng định trong quá trình phát triển mà trở thành những cái tiêu cực ngăn
3


cản sự phát triển nhất định, mọi sự vật mới có ý nghĩa tích cực mới là cái ngăn
cản sự phát triển nhất định, mọi sự vật mới có ý nghĩa tích cực mới là cái nên
khẳng định vượt qua khỏi điều kiện phát triển đó thì ý nghĩa tích cực của nó sẽ

mất đi và chuyển thành cái tiêu cực, cái cần phải phủ định. Vì vậy cần phải
chuyển hố sang mặt đối lập của nó, cần phải có đặc trưng, đặc tính khác đối lập
với bản thân nó, hoặc hình thức khác mới có thể phát triển lên được nếu khơng
thì sự phát triển sẽ gặp trở ngại, sẽ thành ra sai lầm hay lệch lạc.
+ Thứ hai, nó mang tính kế thừa là nhân tố liên hệ giữa cái cũ và cái mới.
Kế thừa là việc cái mới ra đời từ cái cũ đã giữa lại trong đó những yếu tố
tích cực tiến bộ từ cái cũ tạo đi phù hợp với hoàn cảnh mới.
Phủ định biện chứng khơng phải là thủ tiêu, sự phá hoại hồn toàn của cái
bị phủ định. Trái lại, để dẫn tới sự ra đời của cái mới, quá trình phủ định biện
chứng bao hàm trong đó nhân tố giữ lại những nội dung tích cực của cái bị phủ
định. Phủ định biện chứng, do vậy, là sự phủ định mang tính kế thừa. Với ý
nghĩa như vậy, phủ định đồng thời là khẳng định. Diễn đạt tư tưởng đó, Lênin có
viết “ không phải sự phủ định sạch trơn, không phải sự phủ định không suy nghĩ,
không phải sự nghi ngờ là cái đặc trưng và cái bản chất trong phép biện chứng...
mà là sự phủ định coi như là vòng khâu của liên hệ, vòng khâu của sự phát triển,
với sự duy trì cái khẳng định”.
Giá trị của sự kế thừa biện chứng được quy định bởi vai trò của nó trong
sự ra đời của cái mới. Thật ra, nó đã tham gia vào việc tạo ra cái hiện tại, nó tạo
thành mối liên hệ sống động trong thời gian. Một trong những hình thức quan
trọng của cái được kế thừa trong đời sống xã hội là truyền thống. Truyền thống
là cái chứa đựng trong bản thân mình những năng lực to lớn để tạo ra cái mới.
Trong qúa trình đổi mới hiện nay, chúng ta phải biết kế thừa những di sản
tích cực của dân tộc cũng như của thế giới. Nhưng có lúc, có nơi đã coi nhẹ việc
khai thác vốn quý báu của dân tộc, có quan điểm phủ định sạch trơn. Ngược lại,
có lúc có nơi lại phục hồi cả những phong tục tập quán đã lỗi thời, không biết
đứng trên yêu cầu mới của cách mạng mà cải biến và sử dụng những vốn cũ đó
cho thích hợp.
4



II. Quy luật phủ định của phủ định và hình thức “xoáy ốc” của sự
phát triển.
1. Nội dung
Phủ định biện chứng nói lên một giai đoạn, một nấc thang trong quá trình
phát triển. Với tư cách là kết quả của “ phủ định lần thứ nhất”, cái mới cũng
chứa đựng trong bản thân mình xu hướng dẫn tới những lần phủ định tiếp theo –
phủ định của phủ định. Chỉ có thơng qua phủ định của phủ định mới dẫn tới việc
ra đời một sự vật, trong đó có sự lặp lại một số đặc trưng cơ bản của cái xuất
phát ban đầu nhưng trên cơ sở cao hơn. Đến đây mới hoàn thành một chu kỳ
phát triển. Khuynh hướn chung như vậy của sự phát triển được khái quát thành
nội dung cơ bản của quy luật phủ định của phủ định.
Sự phát triển biện chứng thông qua những lần phủ định biện chứng, như
trên đã nói, là sự thống nhất giữa loại bỏ, kế thừa và phát triển. Mỗi lần phủ định
biện chứng được thực hiện sẽ mang lại những nhân tố tích cực mới. Do đó, sự
phát triển thông qua những lần phủ định biện chứng sẽ tạo ra xu hướng tiến lên
không ngừng.
Đặc điểm quan trọng nhất của sự phát triển biện chứng thơng qua phủ
định chính là sự phát triển dường như quay lại cái cũ, nhưng trên cơ sở cao hơn.
Nói một cách khái quát, qua một số lần phủ định, sự vật hoàn thành một chu kỳ
phát triển. Phủ định lần thứ nhất tạo ra sự đối lập với cái ban đầu, đó là một
bước trung gian trong sự phát triển.
Quy luật phủ định của phủ định khái quát tính chất tiến lên của sự phát
triển. Sự phát triển đi lên không phải diễn ra theo đường thẳng, mà theo đường
“xoáy ốc”. Đề cập đến con đường đó của sự phát triển biện chứng, Lênin viết. “
Sự phát triển hình như diễn lại những giai đoạn đã qua, nhưng dưới một hình
thức khác, một trình độ cao hơn; sự phát triển có thể nói là theo đường trôn ốc
chứ không theo đường thẳng”.
Diễn tả quy luật phủ định bằng đường xốy ốc chính là hình thức cho
phép biểu đạt được rõ ràng nhất các đặc trưng của qúa trình phát triển biện
5



chứng: tính kế thừa, tính lặp lại nhưng khơng quay trở lại và tính chất tiến lên
của sự phát triển. Mỗi vịng mới của đường xốy ốc thể hiện một trình độ cao
hơn của sự phát triển, đồng thời dường như quay lại cái đã qua, dường như lặp
lại vòng trước. Sự tiếp nối nhau của các vòng thể hiện tính vơ tận của sự phát
triển, tính vơ tận của sự tiến lên từ thấp đến cao.
Quy luật phủ định của phủ định diễn tả sự phát triển theo đường xốy ốc
thơng qua phủ định của phủ định nhưng cần tránh khuynh hướng hiểu sự phát
triển một cách máy móc. Số lượng cần phủ định trong một chu kỳ phát triển một
cách máy móc. Số lượng các lần phủ định trong một chu kỳ phát triển cụ thể
trong thực tế có thể nhiều hơn hai, điều đó tuỳ theo tính chất của một q trình
phát triển cụ thể, nhưng ít nhất cũng phải hai lần.
Từ những lập luận trên đây, chúng ta có thể hiểu nội dung cơ bản của quy
luật phủ định của phủ định như sau: quy luật này nói lên mối liên hệ sự kế thừa
giữa cái bị phủ định, do sự kế thừa đó sự phủ định biện chứng không phải là sự
phủ định sạch trơn bác bỏ tất cả sự phát triển trước đó, mà là điều kiện cho sự
phát triển, nó duy trì và giữ gìn nội dung tích cực của các giai đoạn trước, lắp lại
một số đặc điểm cơ bản của cái xuất phát nhưng trên cơ sở mới cao hơn; do vậy,
sự phát có tính chất tiến lên khơng phải theo đường thẳng mà là đường xoáy ốc.
2. Ý nghĩa của quy luật phủ định của phủ định
Trong hoạt động lý luận cũng như trong thực tiễn, chúng ta cần lưu ý rằng
cái mới nhất định sẽ thay thế cái cũ, cái tiến bộ nhất sẽ chiến thắng cái lạc hậu,
cái mới ra đời từ cái cũ, nó kế thừa tất cả những gì tích cực của cái cũ. Do đó,
cần chống lại thái độ phủ định sạch trơn cái cũ.
Trong khi đấu tranh với cái cũ, chúng ta vừa phải biết sàng lọc, biết giữ
lấy những gì tích cực là có giá trị của cái cũ, cải tạo cái cũ cho phù hợp với
những điều kiện mới; chống thái độ “ hư vơ chủ nghĩa” trong khi nhìn nhận lịch
sự, đánh giá quá khứ. Chẳng hạn trước tình trạng tam thời khủng hoangả thoái
trào hiện nay của chế độ XHCN ở Liên Xô cũ và Đông Âu không chỉ những kẻ

chống cộng có cả một số người vốn là Macxít cũng ra sức phủ nhận những thành
quả to lớn của CNXH đã tạo dượng được ở những nước đó. Họ không thấy rằng
6


trong hơn 70 năm tồn tại, CNXH ở Liên Xô đã để lại những giá trị tích cực có
giá trị lâu dài đối với lịch sử toàn thế giới.

PHẦN II. NHỮNG LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG
I. Nền kinh tế kém phát triển mang tính tự cấp, tự túc
ền kinh tế tự nhiên là hình thái kinh tế đầu tiên trong tiến trình phát triển
kinh tế – xã hội của lồi người. Nền kinh tế tự nhiên là loại hình kinh tế tiến
hành sản xuất sản phẩm để thoả mãn nhu cầu của bản thân người sản xuất. Các
mối quan hệ sản xuất kinh tế đều mang hình thái quan hệ hiện vật. Đây là nền
kinh tế thị trường có thị trường là kiểu hệ thống kinh tế đặc thù mà ở đó nhà
nước chính thức có quyền lực kinh tế vơ cùng to lớn, nhưng trong thực tế quyền
lực đó là sự bác bỏ về việc tưởng một cái gì đó là việc thực hiện tích cực một sự
lựa chọn. Mọi hoạt động của kinh tế đều được điều chỉnh bởi nhà nước, từ giá cả
tất nhiên gồm cả giá ngoại hối và việc phân phối hàng tiêu dùng.
II. Nền kinh tế hàng hoá.
Nền kinh tế hàng hoá là một bước ngoặt phát triển cao hơn của kinh tế tự
nhiên. Kinh tế hàng hoá là một kiểu tổ chức kinh tế – xã hội mà trong đó hình
thái phổ biến của sản xuất ra sản phẩm để bán để trao đổi trên thị trường. Trong
nền kinh tế hàng hoá gần như toàn bộ sản phẩm lao động xã hội và dịch vụ đều
mang hình th hàng hố, tức là hầu như tất cả các mỗi quan hệ kinh tế đều được
thực hiện dưới hình thái quan hệ hàng hố, tiền tệ trên thị trường.
III. Nền kinh tế thị trường tự do
Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng hố phát triển ở trình tự cao
được điều tiết bởi cơ chế thị trường ở đó sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và
sản xuất cho ai được quyết định thông qua thị trường cơ sở quan hệ cung cầu,

giá cả.
Cơ chế thị trường là tổng thể các nhân tố, quan hệ cơ bản vận động dưới
sự chi phối của quy luật thị trường trong môi trường cạnh tranh nhằm mục tiêu
lợi nhuận. Nhân tố cơ bản của cơ chế thị trường là cung cầu và giá cả thị trường.
Trong nền kinh tế thị trường là hàng loạt những quy luật kinh tế vốn có của nó
7


như: quy luật giá trị, quy luật kinh tế cung cầu, quy luật cạnh tranh... cơ chế hoạt
động của nền kinh tế thị trường tuân theo những quy luật trên.

8


IV. Nền kinh tế thị trường hỗn hợp.
Đây là nền kinh tế thị trường thị trường phát triển ở trình độ cao mà ở đó
chú trọng tới vai trị quản lý của Nhà nước đối với kinh tế bên cạnh những quy
luật vốn có của thị trường.Thị trường lúc này chịu sự điều tiết của cả “bàn tay vơ
hình” và “ bàn tay hữu hình”mà tuy theo mục đích phát triển kinh tế xã hội của
mỗi quốc gia mà trong từng thời kỳ, tương quan giữa việc sử dụng “ bàn tay vơ
hình” và “bàn tay hữu hình” được điều chỉnh. Nền kinh tế này còn gọi là nền
kinh tế hỗn hợp.

9


B. PHÉP PHỦ ĐỊNH BIỆN CHỨNG ĐỐI VỚI CÔNG
CUỘC ĐỔI MỚI KINH TẾ Ở VIỆT NAM
I. Sự ra đời của nền kinh tế hàng hoá là tất yếu khách quan, phủ định
lại nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp đã khơng cịn phù hợp trong

thời kỳ q độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
1. Những tồn tại và bất cập của nền kinh tế tập trung quan liêu bao
cấp ở Việt Nam
Sau kháng chiến thắng lợi, dựa vào kinh nghiệm của các nước XHCN, đất
nước ta bắt đầu xây dựng mơ hình kinh tế kế hoạch hố tập trung dựa trên hình
thức sở hưũ cơng cộng về tư liệu sản xuất. Với sự nỗ lực của nhân dân ta có
thêm sự giúp đỡ tận tình của các nước XHCN khác mơ hình kế hoạch hố đã
phát huy được tính ưu việt của nó, từ một nền kinh tế lạc hậu và phân tán, bằng
công cụ kế hoạch hố nhà nước đã tập trung vào tay mình một lực lượng vật
chất quan trọng về đất đai, tài sản và tiền bạc để ổn định và phát triển nền kinh
tế.
Nền kinh tế kế hoạch hoá trong thời kỳ đầu thực hiện ở nước ta đã tỏ ra
phù hợp, nó đã tạo ra một bước chuyển biến quan trọng về mặt kinh tế xã hội.
Đồng thời nó cũng thích hợp với nền kinh tế thời chiến và đóng vai trò quan
trọng trong việc tạo ra chiến thắng vĩ đại của dân tộc. Nó đã cho phép Đảng và
nhà nước huy động ở mức độ cao nhất sức người và sức của cho tiền tuyến.
Nhưng sau ngày giải phóng Việt Nam bức tranh mới về hiện trạng kinh tế
XH đã thay đổi. Trong một nền kinh tế cùng một lúc tồn tại cả 3 loại hình kinh
tế tự cấp, tự túc, nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung và nền kinh tế hàng hố. Đó
là thực tế khách quan tồn tại sau năm 1975 nhưng chúng ta vẫn tiếp tục chủ
trương xây dựng nền kinh tế chỉ huy như ở Miền Bắc trước đây. Do các quan hệ
kinh tế đã thay đổi rất nhiều, việc áp dụng cơ chế quản lý cũ vào điều kiện kinh
tế đã thay đổi làm xuất hiện hàng loạt các hiện tượng tiêu cực.
Trong nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp có sự phân phối một cách
mạnh mẽ mọi sản phẩm lao động, giá cả thì bị ấn định trước theo những chỉ tiêu
của Nhà nước, điều này dẫn đến việc những quy luật kinh tế khách quan như
10


quy luật giá cả, quy luật cung cầu, quy luật giá trị vi phạm nghiêm trọng, làm

cho tình hình lưu thơng tiền tệ, giá cả khơng kiểm sốt được, đặc biệt là trong
những năm 80, lạm phát của nước ta đã lên đến 3 con số làm cho đời sống nhân
dân vơ cùng khó khăn và tình hình kinh tế nước ta lâm vào tình trạng khủng
hoảng. Nền sản xuất kém phát triển được sự bảo hộ của nhà nước lại càng trở
nên trì trệ. Bộ máy quản lý doanh nghiệp khơng hiệu quả, cồng kềnh, có nhiều
cấp trung gian và khơng năng động, phong cách thì cửa quyền dưới chính sách
bù lỗ của nhà nước ngày càng khơng đem lại bất cứ một hiệu quả kinh tế nào.
Đồng thời do chủ quan cúng nhắc không cân nhắc tới sự phù hợp của cơ
chế quản lý kinh tế, chúng ta đã khơng quản lý có hiệu quả các nguồn tài nguyên
sản xuất của đất nước, trái lại đã dẫn tới việc sử dụng lãng phí một cách nghiêm
trọng các nguồn tài nguyên đó. Tài nguyên thiên nhiên bị phá hoại, môi trường
bị ô nhiễm, sản xuất kém hiệu quả, nhà nước thực hiện bao cấp tràn lan. Những
việc đó gây ra rất xấu cho nền kinh tế, sự tăng trưởng kinh tế gặp rất nhiều khó
khăn, sản phẩm trở nên khan hiếm, ngân sách bị thâm hụt nặng nề, thu nhập từ
nền kinh tế khơng đủ tiêu dùng, tích luỹ hàng năm hầu như khơng có vốn đầu tư
chủ yếu vào vay và viện trợ của nước ngoài. Để cuối những năm 80, giá cả leo
thang, khủng hoảng kinh tế đi liền với lạm phát cao đã làm cho đời sống nhân
dân bị giảm sút thậm chí một số địa phương nạn đói đang rình rập. Ngun nhân
sâu xa về sự xuy thái nền kinh tế là do áp dụng dập khn một mơ hình kinh tế
chưa thích hợp và kém hiệu quả.
Trước sự suy thoái kinh tế nghiêm trọng như trên, thêm vào đó viện trợ
nước ngồi bị giảm sút đã đặt nền kinh tế nước ta với sự bức bách đòi hỏi phải
đổi mới.
2. sự ra đời của nền kinh tế hàng hố nhiều thành phần có sự quản lý
của Nhà nước là một xu hướng phát triển yếu khách quan.
Trước những tồn tại và bất cập trên của nền kinh tế chỉ huy, tại Đại hội
Đảng VI (1996) đã chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và thực
hiện chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá sang cơ chế hạch
toán kinh doanh XHCN. Đến đại hội đảng VII Đảng ta xác định rõ việc đổi mới
11



cơ chế kinh tế ở nước ta là một tất yếu khách quan và trên thực tế đã diễn ra ở
đó, tức là chuyển nền kinhtế kế hoạch hố tập trung sang nền kinh tế thị trường
có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN. Đây là một sự thay đổi về
nhận thức có ý nghĩa rất quan trọng trong lý luận cũng như trong thực tế lãnh
đạo của Đảng trên mặt trận làm kinh tế. Xét dưới góc độ triết học, việc chuyển
sang nền kinh tế thị trường là đúng đắn và phù hợp với quy luật phủ định của
phủ định và xu thế của thời đại.
Thứ nhất, nếu không thay đổi cơ chế kinh tế vẫn giữ cơ chế kinh tế cũ thì
khơng thể nào có đủ sản phẩm để tiêu dùng chứ chưa muốn nói đến tích luỹ vốn
để mở rộng sản xuất.
Thứ hai, do đặc trưng của nền kinh tế tập trung còn rất cứng nhắc nên nó
chỉ có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong gia đoạn ngắn và chỉ có tác
dụng phát triển nền kinh tế theo chiều rộng.
Thứ ba, xét về sự tồn tại thực tế ở nước ta, những nhân tố của kinh tế thị
trường. Về vấn đề này có rất nhiều ý kiến đánh giá khác nhau. Nhiều ý kiến cho
rằng thị trường nước ta là thị trường mới hình thành cịn non yếu và là thị trường
sơ khai.
Thứ tư, xét về mối quan hệ kinh tế đối ngoại ta thấy nền kinh tế nước ta
đang hoà nhập với nền kinh tế thị trường thế giới, sự giao lưu về hàng hoá, dịch
vụ và đầu tư trực tiếp của nước ngoài làm cho sự vận động của nền kinh tế nước
ta gần gũi hơn với nền kinh tế thị trường thế giới.
Thứ năm, xu hướng chung phát triển kinh tế thế giới là sự phát triển kinh
tế của mỗi nước không thể tách rời với sự phát triển hoà nhập quốc tế, sự cạnh
tranh giữa các quốc gia đã làm thay đổi hẳn về chất, khơng cịn là dân số đơng,
vũ khí nhiều, qn đội mạnh mà là tiềm lực kinh tế.
Thứ sáu, sự vận động của nền kinh tế hàng hố theo cơ chế thị trường
khơng thể nào giải quyết được những vấn đề do chính cơ chế đó và bản thân đời
sống kinh tế – xã hội đặt ra. Đó là tình trạng thất nghiệp lạm phát khủng hoảng,

ô nhiễm môi trường, sự bùng nổ dân số cũng như hiện tượng XH khác. Những
tình trạng và hiện tượng trên ở mức độ khác nhau trực tiếp hay gián tiếp đều có
12


tác dụng ngược trở lại làm cản trở sự phát triển bình thường của xã hội nói
chung và của nền kinh tế hàng hố nói riêng, vì vậy, sự tác động của nhà nước
một chủ đề có khả năng nhận thức và vận dụng các quy luật khách quan vào
nền kinh tế là một tất yếu của sự phát triển kinh tế XH. Thiếu sự can thiệp của
Nhà nước vào kinh tế chẳng khác nào khi vỗ tay mà chỉ dùng một tay.
Như vậy, nhìn lại ta thấy, Việt Nam trong thời kỳ dài tiến hành xây dựng
nền kinh tế cơ chế kế hoạch hoá tập trung, phủ định “bàn tay vơ hình” của thị
trường, cơ chế này đã có một vai trò lịch sử trong những năm 1950 – 1979 và đã
có tác dụng đáng kể trong việc tập trung các nguồn lực phục vụ cho sự nghiệp
xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH và đáp ứng nhu cầu của cuộc kháng
chiến giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Song cơ cấu này đã được duy trì
quá lâu, làm cho từ tập trung ở mức cần thiết chuyển sang tập trung cao độ, phát
sinh quan liêu bao cấp kìm hãm và cản trở sự phát triển kinh tế trong thời bình.
Đứng trước yêu cầu và nhiệm vụ mới, khi cách mạng đã chuyển giai đoạn và
trong bối cảnh tình hình quốc tế có nhiều thay đổi, đồng thời nhận thức sâu sắc
phép phủ định biện chứng là cái mới sẽ tất yếu khách quan ra đời thay thế cho
cái cũ khơng cịn phù hợp nữa, vì vậy, trong Đại hội lần thứ VI của Đảng
(1986), Đảng và Nhà nước ta đã mạnh dạn đưa ra đường lối đổi mới, điều chỉnh
cơ cấu kinh tế để chuyển nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh
tế hàng hố nhiều thành phần, cơng nhận sự tồn tại của thành phần kinh tế tư
nhân và có những chính sách mở rộng hợp tác quốc tế nhằm đưa nền kinh tế
nước ta dần dần hội nhập với nền kinh tế thế giới. Theo hướng căn bản của sự
đổi mới cơ chế quản lý đã được đại hội VI của Đảng xác định và tiếp tục được
Đại hội VII của Đảng khẳng định: “ tiếp tục xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu
bao cấp, hình thành đồng bộ và vận hành có hiệu qủa cơ chế thị trường có sự

quản lý của nhà nước”. Những thay đổi chính sách quan trọng đã được đề ra
trong đường lối mới là.
Khẳng định sự phát triển lâu dài nền kinh tế nhiều thành phần. Điều này
có ý nghĩa là xoá bỏ sự kỳ thị trước đây đối với kinh tế tư nhân, đồng thời đặt
kinh tế nhà nước vào mơi trường cạnh tranh bình đẳng.
13


Khẳng định các quan hệ thị trường có vai trị quan trọng thúc đẩy sự phát
triển của sản xuất và trao đổi hàng hố. Đổi mới chính sách cơ cấu theo hướng
tập trung các nguồn lực gia và ba mục tiêu lớn: phát triển nông nghiệp phát triển
sản xuất hàng tiêu dùng, đẩy mạng xuất khẩu và mở rộng quan hệ kinh tế đối
ngoại, ổn định môi trường kinh tế và xã hội thông qua việc cố gắng đạt các mục
tiêu: cắt giảm lạm phát, giảm thiếu hụt ngân sách, giảm mức bộ chi tiền mặt và
ngân cao mức sống của nhân dân.
Những thay đổi có tính chất chiến lược về chính sách theo tinh thần các
kết luận của đại hội VI diễn ra kể từ năm 1998, và sau đó tiếp tục thúc đẩy của
các nghị quyết đại hội lần VII của Đảng cộng sản Việt Nam. Định hướng lớn
trong chính sách kinh tế mà đại hội VII đề ra.
Thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần định hướng
XHCN. Xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng và quyền quản lý của nhà nước
trong lĩnh vực kinh tế, bảo đảm mọi tư liệu sản xuất đều có chủ, mọi đơn vị kinh
tế đều có chủ.
Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
từng bước cơng nghiệp hố, thốt khỏi tình trạng nơng nghiệp lạc hậu.
Phát triển kinh tế hàng hố nhiều thành phần đi đơi với việc tăng cường
vai trò quản lý của nhà nước về kinh tế – xã hội.
Đại hội VII của Đảng cộng sản Việt Nam đã khái quát đường lối đổi mới
kinh tế sau đại hội VII, tiếp tục đổi mới kinh tế với điểm trung tâm là hình thành
nền kinh tế hàng hố nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự

quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN. Thực hiện quan điểm chiến lược
đó, Đảng và nhà nước Việt Nam đã có những chủ trương cần thiết để từng bước
chuyển nền kinh tế tự nhiên, lực lượng sản xuất bị vô chủ ở nhiều cấp độ khác
nhau sang nền kinh tế thị trường qua ba bước cơ bản.
- Cải cách cơ cấu sở hữu, biến nền kinh tế về cơ bản dựa trên chế độ sở
hữu toàn dân và tập thể đối với tư liệu sản xuất thành nền kinh tế nhiều thành
phần dựa trên đa dạng hố hình thức sở hữu tư liệu sản xuất.

14


- Đổi mới kinh tế chuyển từ trạng thái nhà nước, chỉ huy nền kinh tế chủ
yếu bằng mệnh lệnh hành chính, bằng kế hoạch hố tuyệt đối và tập trung cao
sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN.
- Từng bước chuyển sang nền kinh tế tự cấp, tự túc, ưu tiên cơng nghiệp
nặng sang nền kinh tế hàng hố và hình thành một hệ thống kinh tế mở.
Tóm lại, kể từ khi đại hội VI đến đại hội VIII của Đảng cộng sản Việt
Nam, hướng phát triển kinh tế ở Việt Nam cơ bản là chuyển từ nền kinh tế hiện
vật, tự túc với cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước.
II. Tính kế thừa trong cơng cuộc đổi mới kinh tế ở Việt Nam
1. Đặc trưng của nền kinhtế hàng hố nhiều thành phần có sự quản lý
của Nhà nước ở Việt Nam
a. Nền kinh tế nước ta đang trong quá trình chuyển biến từ nền kinhtế
kém phát triển, mang tính tự cấp tự túc sang nền kinh tế hàng hoá, vận động
theo cơ chế thị trường.
Thật vậy, đi lên CNXH không qua giai đoạn phát triển TBCN nên nước
ta thiếu cái “ cốt vật chất” của một nền kinh tế phát triển, cơ cấu hạ tầng vật chất
và xã hội thấp kém, phân công lao đọng xã hội chưa sâu sắc, các mối quan hệ
kinh tế kém phát triển, thị trường còn đơn điệu. Đồng thời chúng ta còn mắc
phải những sai lầm, chủ quan duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan, mà đặc

biệt là quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất, khơng tn thủ theo “ q trình lịch sử tự nhiên” trong
sự phát triển xã hội nói chung và trong nền kinh tế nói riêng. Điều này địi hỏi
phải có một sự đổi mới sâu sắc và tồn diện cho phù hợp với yêu cầu của quy
luật khách quan, phù hợp với xu thế thời đại ngày nay.
b. Nền kinh tế hàng hoá dựa trên cơ sở nền kinh tế nhiều thành phần.
Cơ sở khách quan của sự tồn tại nhiều thành phần là do nhiều hình thức
sở hữu khác nhau về tư liêụ sản xuất. Đại hội đảng VII đã khẳng định các thành
phần kinh tế đang tồn tại khách quan tương ứng với tình chất và trình độ phát

15


triển của lực lượng sản xuất trong giai đoạn lịch sử hiện nay có là: quốc doanh,
tập thể, cá thể, tư nhân, TBCN và tư bản nhà nước.
Nền kinh tế nhiều thành phần đang trong sự vận động của cơ chế thị
trường ở nước ta là nguồn lực tổng hợp to lớn để đưa nền kinh tế vượt khỏi thực
trạng thấp kém, đưa nền kinh tế hàng hoá phát triển kể cả trong điều kiện ngân
sách nhà nước hạn hẹp.
Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vừa phản ánh tính đa dạng phong
phú trong việc đáp ứng nhu cầu xã hội vừa phản ánh tính chất phức tạp trong
việc quản lý theo định hướng XHCN. Do đó, việc phát triển kinh tế hàng hố
nhiều thành phần phải đi đơi với tăng cường quản lý nhà nước về kinh tế xã hội.
Để hạn chế và khắc phục những hậu quả của mặt trái kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần vận động theo cơ chế thị trường mang lại, giữ cho công cuộc đổi mới
đi đúng phương hứng và phát huy bản chất tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội, đại hội
đảng VII nhấn mạnh: nhà nước phải thực hiện tốt vai trò quản lý kinh tế – xã hội
bằng pháp luật, kế hoạch chính sách, thơng tin, tun truyền, giáo dục và các
công cụ khác.
c. Nền kinh tế phát triển theo hướng mở rộng quan hệ kinh tế với nước

ngoài bằng nhiều hình thức.
Biệt lập trong trong sự phát triển kinh tế là cha đẻ của đói nghèo. Do đó,
việc mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài dưới nhiều dạng khác nhau đối với
nước ta như là một tất yếu trong sự phát triển. Tất yếu là vì sản xuất và trao đổi
hàng hoá tất yếu vượt khỏi phạm vi quốc gia, mang tính chất quốc tế, đơng thời
đó cũng là tất yếu của sự phát triển nhu cầu nhanh chóng đưa nền kinh tế nước
ta hồ nhập với nhịp điệu của nền kinh tế thế giới.
d. Nền kinh tế hàng hoá phát triển theo định hướng XHCN thơng qua bản
chất và vai trị quản lý của nhà nước.
Sự vận động của nền kinh tế hàng hoá theo cơ chế thị trường không thể
nào giải quyết hết được những vấn đề do chính cơ chế đó và bản thân đời sống
KT –XH đặt ra. Đó là tình trạng thất nghiệp, lạm phát, khủng hoảng, ô nhiễm
môi trường.... cũng như hiện tượng xã hội khác. Những tình trạng và hiện tượng
16


trên ở những mức độ khác nhau, trực tiếp hay gián tiếp đều có tác động ngược
trở lại, làm cản trở sự phát triển bình thường của một xã hội chung và của nền
kinh tế hàng hố nói riêng. Vì vậy, sự tác động của nhà nước vào nền kinh tế là
một tất yếu để làm cho nền kinh tế lành mạng hơn, giảm bớt những thăng trầm,
đột biến xấu trên con đường phát triển của nó.
2. Tính kế thừa khi chuyển nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp
sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý nhà nước ở Việt Nam.
Trước đây do chủ quan nóng vội muốn xây dựng một nền kinh tế thuần
khiết XHCN, nhà nước ta đã xây dựng một nền kinh tế hoạt động theo cơ chế kế
hạch hoá tập trung cao độ với thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể là chủ
yếu mà không chú ý tới yếu tố thị trường, hàng hoá sản xuất ra được định giá
sẵn và không tuân theo những quy luật của thị trường. Trên thực tế, cơ chế kinh
tế đó đã là vật cản đối với sự phát triển kinh tế. Do đó, nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần ra đời mang tính khách quan nó là kết quả của giải quyết mâu

thuẫn tự có của nền kinh tế tự cung tự cấp. Tuy nhiên, khi chuyển sang nền kinh
tế hàng hoá nhiều thành phần khơng có nghĩa là phủ định sạch trơn tất cả những
gì của nền kinh tế cũ mà một sự chuyển đổi có tính chất kế thừa, trên cơ sở khắc
phục, sử đổi những tồn tại, sai lầm vốn có và phát huy những mặt tốt, mặt tích
cực của nó, điều này được thể hiện như sau.
Trước hết đó là việc cơng nhận sự tồn tại của thành phần kinh tế khác bên
cạnh hai thành phần kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể.
Xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần hiện nay ở Việt Nam gồm các
thành phần kinh tế: thành phần kinh tế tư bản tư nhân... Như vậy mặc dù đã phủ
định loại bỏ những mặt yếu kém của nền kinh tế trước và phát triển nó một cách
tồn diện tốt hơn. Hai thành phần kinh tế quốc doanh và thành phần kinh tế tập
thể vẫn giữa vai trò chủ đạo trong đường lối phát triển kinh tế. Nhưng bước đổi
mới quan trọng của Đảng và Nhà nước là việc thừa nhận sự tồn tại của thành
phần kinh tế khác như kinh tế tư bản tư nhân. Với sự chuyển đổi đó, phân cơng
lao động xã hội với tư cách là cơ sở kinh tế của sản xuất hàng hố chẳng những
khơng mất đi, trái lại ngày càng phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu. Ở nước
17


ta ngày càng có nhiều ngành nghề mới ra đời và phát triển. Bên cạnh những
ngành nghề mới ra đời và phát triển đó, những ngành nghề cổ truyền có tiếng
khơng chỉ trong nước mà cả thế giới, có tiềm năng lớn mà trước đây bị cơ chế
kinh tế cũ làm mai một nay được phục hồi và phát triển. Trong nội bộ từng khu
vực, từng ngành, địa phương, phân cơng lao độngngày càng chi tiết hơn. Điều
đó được phản ánh ở tính phong phú, đa dạng và chất lượng cao hơn của sản
phẩm lao động đưa ra trên thị trường. Sự chun mơn hố và hợp hố lao động
đã vượt khỏi phạm vi quốc gia trở thành quốc tế.
Cùng với việc công nhận sự tồn tại của các thành phần kinh tế khác nhau
là sự đa dnạg hoá các hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động
như sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu cá thể của những người sản xuất

hàng hoá nhỏ, sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, sở hữu hỗn hợp khác: tư bản
nhà nước, công ty cổ phần.
Đây cũng là một bước ngoặt quan trọng để giải phóng sức lao động, tạo
điều kiện cho quan hệ sản xuất phát triển phù hợp với trình độ của lực lượng sản
xuất và phù hợp với yêu cầu phát triển của thời đại.
Ngoài việc chuyển đổi tư tưởng mạnh mẽ về việc đa dạng hóa các hình
thức sở hữu, các thành phần kinh tế, tính kế thừa trong cơng cuộc đổi mới ở
nước ta cịn được thể hiện trong việc tiếp tục duy trì và phát huy cơng cụ kế
hoạch một cách linh hoạt bằng việc kết hợp “bàn tay vơ hình” với “ bàn tay hữu
hình”. Nền kinh tế nước ta, từ nền kinh tế kế hoạch hố tập trung phụ thuộc
hồn tồn vào sự quản lý của nhà nước đã chuyển sang nền kinh tế hàng hố
nhiều thành phần, tơn trọng những quy luật khách quan của thị trường như quy
luật cung cầu, quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh... nhưng không phải để cho
những quy luật này tự do chi phối điều tiết thị trường mà ở đây có sự can thiệp
của nhà nước. Nhà nước xuất hiện vừa với tư cách là một chủ thể kinh tế hoạt
động kinh doanh trên thị trường, vừa với tư cách là một chủ thể qủan lý, bằng
những chính sách linh hoạt của mình để điều tiết hoạt động thị trường. Nhà nước
khơng cịn đưa ra kế hoạch sản xuất cái gì, sản xuất bao nhiều mà vấn đề này sẽ

18


được thực hiện bởi thị trường. Nhà nước can thiệp với tư cách định hướng, điều
tiết triên cơ sở đưa ra các kế hoạch dài hạn.
Như vậy, nền kinh tế mới khơng thổi phồng, tuyệt đối hố vai trị kinh tế
của nhà nước tới mức phủ nhận thủ tiêu vai trị chủ thể kinh tế của các cơng ty,
xí nghiệp, các tổ chức sản xuất kinh doanh độc lập. Thực hiện quản lý kinh tế
của nhà nước trong cơ chế quản lý tập chung quan liêu bao cấp là sai lầm. Trái
lại vịn vào việc xây dựng và phát triển vận động của các quy luật khách quan mà
lại bỏ vai trò quản lý kinh tế của nhà nước cũng không đúng. Ở Việt Nam hiện

nay để xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần với sự
quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN tức là một mặt phải tiếp tục củng
cố lại nền kinh tế thị trường với sự quản lý của nhà nước, mặt khác phải khơng
ngừng phát huy vai trị của nhà nước, của đảng, luôn bảo đảm niềm tin của
người dân lao động.
Hơn nữa, cơ chế thị trường với sự quản lý của nhà nước theo định hướng
XHCN đang trở thành cơ chế vận hành của nền kinh tế nước ta. Việc bổ sung
pháp luật tiếp tục đổi mới cơ chế và ngân sách về kế hoạch hoá, về giá, tỉ giá, tài
chính, ngân hàng, lao động, tiền cơng, đất đai... đang tạo môi trường thuận lợi
cho các doanh nghiệp phát huy tính năng động tự chủ tự chịu trách nhiệm trong
sản xuất kinh doanh.
3. Những thành tựucủa công cuộc đổi mới.
Với sự chuyển đổi sâu sắc trong đường lối phát triển kinh tế, chúng ta đã
d đạt giả quyết được hàng loạt các vấn đề kinh tế cơ bản như:
- Thúc đầy q trình XH hố sản xuất nhanh chóng, làm cho sự phân cơng
lao động, chun mơn hố sản xuất cũng sâu sắc, hình thành các mối liên hệ
kinh tế và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các doanh nghiệp và người sản xuất, tạo
tiền đề và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các doanh nghiệp và người sản xuất, tạo
tiền đề cho sự hợp tác ngày càng chặt chẽ.
- Thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất trong nền kinh tế hàng hoá
sự tác động của quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu buộc
người sản xuất phải năng động, luôn cải tiến kỹ thuật, tiết kiệm, nâng cao năng
19


suất lao động, cái tiến chất lượng và hình thức mẫu mã hàng hoá cho phù hợp
với nhu cầu xã hội, tìm mọi cách đưa ra thị trường những loại hàng hố mới
thích hợp với thị hiếu người tiêu dùng... kết quả là thúc đẩy lực lượng sản xuất
phát triển sản xuất với thị trường.
- Thúc đẩy q trình tích tụ, tập trung sản xuất, mở rộng giao lưu kinh tế

trong nước và hoà nhập nền kinh tế thế giới.
- Giải phóng các mối quan hệ kinh tế ra khỏi sự trói buộc của nền sản xuất
khép kín với kìm hãm sự phát triển cho việc tổ chức và quản lý một nền kinh tế
ở trình độ cao thực hiện với hình thức quan hệ hàng hố tiền tệ.
Thực tế cho thấy, nền kinh tế nước ta sau công cuộc đổi mới khơng
những đứng vững mà cịn đạt được những thành tựu nổi bật, khắc phục nhiều
mặt đình đốn, suy thoái, tốc độ tăng trưởng khá và liên tục, điển hình là: Lạm
phát được đẩy lùi từ 67% năm 1991 xuống 17,5% năm 1992 và còn 5,2% năm
1993. Đến nay lạm phát của nước ta chỉ còn 0,1% .Tổng sản phẩm trong nước
tăng bình quân hàng năm 7,2% sản xuất nơng nghiệp phát triển tương đối tồn
diện, vấn đề lương thực được giải quyết tốt, sản lượng lương thực năm 1993 xấp
xỉ 25 triệu tấn, vượt mức đề ra trong năm 1995.
Cơ cấu kinh tế đang biến đổi, một số ngành sản xuất kinh doanh mới xuất
hiện. Quan hệ kinh tế đối ngoại được mở rộng theo hướng đa dạng hoá và đa
phương hoá. Để khắc phục được hầu hết hậu quả do thị trường truyền thống bị
giảm sút đột ngột; mở rộng giao lưu với nhiều bạn hàn mới, tăng kim ngạch xuất
khẩu hàng năm xấp xỉ 20%. Tính đến năm 1993 đã cấp 836 giấy phép đầu tư
nước ngoài với tổng số vốn đầu tư đăng ký là 7,5 tỉ USD nhưng tới năm 1996
đã cấp 16454 giấy phép đầu tư nước ngoài với tổng số vốn đăng ký đã là 21,8 tỉ
USD, bước đầu thu hút thêm viện trợ phát triển và vốn vay ưu đãi từ các chính
phủ; lập lại quan hệ bình thường với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế.
Tuy vậy theo nhận định của Đảng ta thì cơ cấu kinh tế nhiều thành phần
đang trong giai đoạn hình thành, các doanh nghiệp nhà nước đều được xắp xếp
và đăng ký lại. Đã giảm bớt một số lượng lớn nhưng doanh nghiệp làm ăn thua
lỗ kéo dài. Số đơn vị kinh doanh có hiệu quả tăng lên. Khu vực kinh tế nhà nước
20




×