Tải bản đầy đủ (.doc) (13 trang)

KHOA HỌC TRỞ THÀNH LLSX TRỰC TIẾP VÀ VẬN DỤNG XEM XÉT CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI KINH TẾ VIỆT NAM.DOC

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (123.12 KB, 13 trang )

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Mở Đầu
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã tạo ra bớc nhảy vọt lớn trong lực
lợng sản xuất. Vị trí của khoa học trong lực lợng sản xuất ngày càng tăng lên.
thực chất của cuộc cách mạng là ở chỗ đã tạo ra kỉ nguyên mới của sản xuất tự
động hóa với việc phát triển và ứng dụng điều khiển học và vô tuyến điện tử.
Khoa học trở thành điểm xuất phát cho những biến đổi to lớn trong sản xuất, tạo
ra những ngành sản xuất mới, kết hợp khoa học kĩ thuật thành một thể thống nhất
đa đến những phơng pháp công nghệ mới đem lại những hiệu quả cao trong sản
xuất, phát hiện và đề ra những phơng pháp khai thác nguồn năng lợng mới, chế
tạo vật liệu mới, tạo ra sự thay đổi trong chức năng của ngời sản xuất. Con ngời
không còn thao tác trực tiếp trong hệ thống kinh tế mà chủ yếu là sáng tạo, điều
khiển quá trình đó một cách tự động, tri thức khoa học trở thành một tất yếu
trong hoạt động của ngời sản xuất. Và hiện nay khoa học đang là lực lợng sản
xuất trực tiếp.
Nhận thức đợc điều đó, các nớc đang tập trung phát triển khoa học của
mình và ứng dụng vào sản xuất tạo thế và lực riêng cho mỗi quốc gia. Mà Việt
Nam không phải là ngoại lệ.
Khoa học trở thành LLSX trực tiếp và vận dụng xem xét
công cuộc đổi mới kinh tế Việt Nam.
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nội dung
1. Khoa học là gì? Khoa học đang trở thành LLSX trực tiếp.
Mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ:
Khoa học là một khối liên kết kiến thức đợc gom góp từ những nỗ lực
năng động của con ngời để hiểu đợc thế giới dựa trên quan sát và thí nghiệm.
Mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ đợc hiểu nh là mối quan hệ giữa
thông tin và công nghệ.
Nền sản xuất xã hội là phơng thức trao đổi vật chất, năng lợng và thông tin
giữa xã hội và tự nhiên. Chính trong quá trình sản xuất, con ngời bằng trí tụê và


lao động đợc định hớng bởi trí tuệ đã không ngừng biến đổi các dạng vật chất,
năng lợng, thông tin. Năng lợng là số đo của các dạng vật chất trong các dạng
khác nhau. Trong phơng thức sản xuất xã hội, sự vận động biến đổi của vật chất
đợc thực hiện thông qua các hệ thống công nghệ. Bởi vậy, bất kỳ một bớc nhảy
vọt nào của hệ thống năng lợng cũng đều diễn ra với một cuộc cách mạng trong
công nghệ. Thông tin- là một dạng biểu hiện của vật chất đang vận động. Thông
tin xã hội gắn liền với sự vận động của dạng vật chất có tổ chức cao nhất - bộ óc
con ngời.
Trong quá trình phát triển lịch sử của xã hội loài ngời đã từng diễn ra năm
bớc nhảy vọt về chất của thông tin xã hội, đợc biểu hiện dới năm hình thức thông
tin điển hình từ thấp đến cao: tiếng nói, chữ viết, kỹ thuật in ấn, các thiết bị
truyền thông bằng điện và điện tử, mạng internet. Cùng với đó là năm giai đoạn
phát triển của công nghệ với năm hệ thống công nghệ khác nhau về chất và phù
hợp với chúng là những hệ thống năng lợng đã và đang tồn tại trong lịch sử xã
hội. Đó là giai đoạn một với hệ thống công nghệ tự nhiên thô sơ, giai đoạn hai
với hệ thống công nghệ cơ khí thủ công, giai đoạn ba với hệ thống công nghệ cơ
khí máy móc ở trình độ cơ khí hoá, giai đoạn bốn với hệ thống công nghệ cơ khí
máy móc ở trình độ điện khí hoá tự động hoá bậc thấp, giai đoạn năm với hệ
thống công nghệ trí tuệ, bao gồm công nghệ thông tin và các loại công nghệ cao
khác.
2
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
So sánh các giai đoạn phát triển cơ bản của thông tin và công nghệ, chúng
ta thấy chúng có mối quan hệ chặt chẽ và phù hợp với nhau cả về mặt thời gian
và nội dung, tính chất. Các cuộc cách mạng này biểu hiện trình độ phát triển
ngày càng cao hơn của vật chất.
Sự biến đổi phù hợp này là cơ sở để có thể gọi các cuộc cách mạng đó là
cuộc cách mạng thông tin - công nghệ. Thông qua các cuộc cách mạng này mối
quan hệ khoa học - công nghệ ngày càng bền chặt và sâu sắc hơn.
Mối quan hệ giữa khoa học, công nghệ với LLSX. Vấn đề khoa học

trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp.
Khoa học và công nghệ tham gia vào quá trình biến đổi, cải tạo thế giới tự
nhiên và phát triển xã hội vì chúng là những yếu tố quan trọng của LLSX xã hội,
chúng có mặt ở tất cả mọi thành phần của LLSX: trong TLSX ( công cụ, kỹ
thuật ), trong con ngời. Cùng với sự phát triển của xã hội, khoa học và công nghệ
( KH - CN ) ngày càng có vai trò quan trọng trong LLSX xã hội.
Mối quan hệ giữa cách mạng thông tin - công nghệ và cách mạng
LLSX.
Với cuộc cách mạng thông tin - công nghệ ( CM TT - CN ) lần thứ nhất
đã dẫn đến cuộc cách mạng LLSX lần thứ nhất. Con ngời biết chế tạo công cụ
sản xuất ( CCSX ) từ những vật liệu có sẵn trong tự nhiên: gỗ, đất đá, xơng -
thành các công, tên, hòn đá mài thành các công cụ để săn bắt thú rừng.
Bằng những CCSX thô sơ đó, bầy ngời nguyên thuỷ đã tách mình ra khỏi
thế giới động vật.
Cuộc CM TT - CN lần thứ hai, LLSX của xã hội đã có sự thay đổi về chất.
Con ngời biết chế tạo ra CCSX bằng kim loại thủ công: cày cuốc, cối xay nớc,
cối xay gió - nhờ đó việc khai thác tự nhiên của con ngời có hiệu quả hơn.
Cuộc CM TT - CN lần thứ ba làm đảo lộn LLSX xã hội. CCSX cơ khí máy
móc ra đời, nó trải qua ba trình độ phát triển: cơ khí hoá, điện khí hoá và tự động
hoá. Nhờ đó, đã tạo ra những bớc tiến khổng lồ trên con đờng chinh phục tự
nhiên và phát triển xã hội.
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Cuộc CM TT - CN lần thứ năm chuyển sang sử dụng nguồn tiềm năng trí
tuệ - trí lực, LLSX có một bớc đột biến quan trọng cha từng có trong lịch sử. Lần
đầu tiên, trí năng đợc trao cho máy móc. Đây là thời kỳ tri thức khoa học trở
thành LLSX trực tiếp.
Nh vậy, ngày nay, khoa học đã trở thành LLSX trực tiếp.
Khoa học đang trở thành LLSX trực tiếp trong nền sản xuất hiện đại.
Trớc đây, nền sản xuất xã hội còn ở trình độ thấp, khoa học không thể trực

tiếp đi vào sản xuất mà phải qua khâu thực nghiệm khoa học. Quá trình này diễn
ra rất chậm chạp, khoa học chỉ có thể biểu thị nh một LLSX tiềm năng. Hiện nay,
khi sản xuất xã hội đạt đến trình độ phát triển cao, sản xuất đặt ra những vấn đề
mới, phức tạp, đòi hỏi khoa học phải có phơng thức sản xuất phù hợp. Khoa học
không phục vụ sản xuất, nó đã tham gia một cách tích cực và chủ động và trở
thành yếu tố quan trọng nhất của quá trình sản xuất.
Mặt khác, hiện nay, xu hớng phát triển của khoa học là thống hợp khoa
học, tổng hợp tri thức. Vì vậy khoa học đã phát triển đến một trình độ nhất định
và đủ sức giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra.
Khoa học trở thành LLSX đợc biểu hiện dới nhiều hình thức: 1.3.1.
Tri thức khoa
học đợc vật thể hoá thành các công cụ, máy móc tinh vi hiện đại nh:
máy vi tính, siêu tính, các loại công nghệ tự động hoá, rôbốt; các loại công
nghệ mới: công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới. điều này đã mang lại hiệu
quả và năng suất lao động cao, chất lợng tốt. Mặt khác tạo ra các loại vật liệu
mới không có sẵn trong tự nhiên, giảm thời gian lao động xã hội cần thiết. Thực
tế sản xuất ở các nớc công nghiệp phát triển, tri thức khoa học ngày càng chiếm
một hàm lợng cao trong giá trị sản phẩm. Lao động cơ bắp từng bớc đợc thay thế
bởi lao động trí tuệ. Cụ thể những năm đầu của thế kỷ 20 khi sự phát triển của
khoa học công nghệ cha gắn chặt với sản xuất thì lao động chân tay chiếm một tỷ
lệ cao tới 9/10 giá trị sản phẩm. Đến những năm 90 khi ở nhiều nớc đang diễn ra
cuộc CM KHKT thì tỷ lệ đó giảm xuống còn 1/5 trong khi số lợng sản phẩm tăng
10 lần. Dự kiến tỷ lệ đó còn tiếp tục giảm mạnh. Ngày nay, đối tợng lao động là
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
sản phẩm của lao động, của khoa học công nghệ trong đó hàm lợng vật liệu tự
nhiên giảm. Vì vậy, nền kinh tế tiết kiệm đợc tài nguyên, tài nguyên thiên nhiên
không còn là điều kiện tiên quyết mà phụ thuộc chủ yếu vào tài nguyên con ngời
với năng lực trí tuệ cao. Hiện nay lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, lao động cơ
bắp vì thế ngày càng mất giá.

Một tác nhân vô cùng quan trọng đối với sản xuất trong điều kiện nền kinh
tế thị trờng hiện nay là thông tin, đặc biệt là thông tin khoa học công nghệ và
thông tin thị trờng. Nhờ nắm bắt đợc thông tin mới có thể kịp thời thay đổi công
nghệ để sản xuất ra những sản phẩm phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của ngời
tiêu dùng giúp cho lu thông hàng hoá nhanh chóng. Trong thời đại thông tin, chỉ
cần chậm một bớc trong việc nắm bắt thông tin cũng có thể phải trá giá đắt nh
thua lỗ mất bạn hàng, thiệt hại, thậm chí dẫn đến phá sản.
1.3.2 Một biểu hiện quan trọng của việc khoa học trở thành LLSX
trực tiếp là ở chỗ, khoa học cùng với quá trình giáo dục và đào tạo đã tạo ra
những ngời lao động mới: những con ngời lao động trí tuệ sáng tạo, vừa có tri
thức chuyên sâu một ngành nghề, vừa có hiểu biết rộng, tầm nhìn xa, bao quát,
nhạy bén, vững vàng trong nghề nghiệp. Hiện nay, ngoài chủ thể của quá trình
sản xuất, con ngời là đối tợng khai thác của chính bản thân mình. Trí tuệ con ng-
ời trở thành nguồn năng lợng vô tận của mọi sự biến đổi KH-CN và sản xuất.
Mặt khác, hoạt động trực tiếp tạo ra sản phẩm không còn là công việc của riêng
ngời lao động mà là của một bộ phận ngời: Những ngời trực tiếp quản lý, những
kỹ s, những nhà công nghệ. Ngời lao động chính là lực lợng sản xuất mạnh mẽ
nhất, to lớn nhất, là nguồn lực của mọi nguồn lực, là động lực của mọi động lực
phát triển xã hội..
1.3.3 khoa học học cò n trực tiếp tham gia vào quá trình tổ chức, quản lý
điều hành sản xuất. đó cũng là một biểu hiện của việc biến khoa học
thành lực lợng sản xuất trực tiếp. Việc tổ chức, quản lý, điều hành sản xuất ngày
nay ở bất kỳ cấp độ nào: trong một dây chuyền sản xuất, một xí nghiệp, một
phân xởng, hay trong một liên hợp các xí nghiệp.. đều cần đến tri thức khoa học,
nhất là tri thức khoa học quản lý. Lao động quản lý chiếm u thế so với lao động
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
sản xuất trực tiếp trong nền kinh tế tri thức. Sự xích lại gần nhau giữa ngời lao
động và nhà quản lý làm cho giá trị thặng d đợc tạo ra do lao động sống sản xuất
trực tiếp và lao động vật hoá, lao động quản lý. Nh vậy LL-SX có tính xã hội hoá,

quốc tế hoá cao.
Việc khoa học đang trở thành LL-SX trực tiếp là một đặc trng cơ bản của
nền sản xuất hiện đại, đồng thời cũng chứng tỏ rằng khoa học công nghệ ngày
càng gắn bó và đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của xã hội.
2. Tại sao KH-CN lại trở thành LLSX trực tiếp?
Trong những giai đoạn lịch sử trớc đây, do sự phát triển còn lệch pha giữa
KH-CN với sản xuất mà phần nào sức mạnh của KH-CN đối với sản xuất nói
riêng, đối với sản xuất xã hội nói chung còn bị hạn chế. Ngày nay, khi sự phát
triển đồng điệu của KH-CN đã tạo nên cuộc cách mạng KH-CN hiện đại làm
biến đổi tận gốc LLSX xã hội thì ảnh hởng của những cuộc cách mạng này nên
sự phát triển của thế giới là vô cùng mạnh mẽ, quyết liệt và cũng có thể nói là vô
hạn.
Vậy, tại sao cuộc cách mạng KH-CN ngày nay lại có đợc sức mạnh kì diệu
đó?
Một là, trong cuộc cách mạng KH-CN hiện đại, các yếu tố KH-CN và sản
xuất đã thâm nhập, gắn bó bền chặt với nhau với vai trò dẫn đờng của khoa học.
Nó không chỉ đợc hiểu đơn thuần là kĩ thuật ( các phơng tiện vật chất kĩ thuật)
mà gồm 4 yếu tố cơ bản: phần cứng của công nghệ( kĩ thuật) và 3 yếu tố của
phần mềm là con ngời, thông tin và tổ chức quản lý. Với việc KH-CN trở thành
LLSX trực tiếp và việc khai thác và sử dụng triệt để 3 yếu tố của phần mềm đã
làm cho cuộc cách mạng của KH-CN thực sự trở thành cuộc cách mạng về trí tuệ
với vai trò quyết định của tri thức( kinh tế tri thức, vốn tri thức, năng lợng tri thức
hay trí năng, vật liệu tri thức...). sự khai thác nguồn trí năng là đặc trng cơ bản
của cuộc cách mạng KH-CN hiện đại. đó chính là sự biến đổi tận gốc LLSX xã
hội - làm tiền đề, cơ sở cho mọi sự biến đổi khác trong xã hội.
Hai là,với cuộc cách mạng khoa học_ công nghệ hiện đại , các yếu tố
riêng biệt của quá trình sản xuất đợc kết hợp chặt chẽ hu cơ với nhau thành một
6

×