PHÂN TÍCH NHỮNG MÂU THUẪN CƠ BẢN CỦA HỆ THỐNG THƯ
VIỆN VIỆT NAM HIỆN NAY
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, sự nghiệp Thư viện Việt Nam đã có những
bước phát triển đáng kể cả về chất lượng và số lượng. Tuy nhiên, sự phát
triển này vẫn chưa đáp ứng được kỳ vọng của toàn xã hội. Người dân vẫn ít
đến thư viện đọc sách, văn hóa đọc của người Việt đang đi xuống dần. Công
nghệ thông tin phát triển đem lại những thuận lợi cho sự phát triển thư viện,
nhưng bên cạnh đó cũng đem lại những thách thức vô cùng to lớn. Trong bài
viết này, tôi đi sâu phân tích những hạn chế yếu kém của các thư viện ở Việt
Nam, chỉ ra những mâu thuẫn cơ bản đang diễn ra trong hệ thống thư viện
Việt Nam hiện nay, đó là những lý do khiến cho hệ thống thư viện Việt Nam
trong những năm qua hoạt động kém phát triển, kém hiệu quả, để từ đó nêu
ra những giải pháp khắc phục làm tăng hiệu quả hoạt động của thư viện. Đây
cũng chính là ý nghĩa của xu hướng phát triển của sự nghiệp thư viện.
Hệ thống thư viện Việt Nam đang tồn tại rất nhiều vấn đề bất cập, từ
cơ sở vật chất, nguồn nhân lực cho đến cách quản lý... Tất cả những yếu tố
trên hợp lại khiến cho cỗ máy thư viện vốn đã cũ kỹ nay càng hoạt động
kém hiệu quả.
Các loại hình thư viện Việt Nam bao gồm:
1. Thư viện Công cộng:
a) Thư viện Quốc gia Việt Nam ;
b) Thư viện do Uỷ ban nhân dân các cấp thành lập.
1
2. Thư viện chuyên nghành, đa nghành:
a) Thư viện của viện, trung tâm nghiên cứu khoa học;
b) Thư viện của nhà trường và cơ sở giáo dục khác;
c) Thư viện của cơ quan Nhà nước;
d) Thư viện của đơn vị vũ trang;
đ) Thư viện của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp.
I.
1.1
THỰC TRẠNG CỦA THƯ VIỆN VIỆT NAM HIỆN NAY
Những thành tựu phát triển
1.1.1 Những ưu điểm
Theo số liệu của Vụ Thư viện, tính đến cuối năm 2010, cả nước đã
hình thành mạng lưới thư viện rộng khắp, bao gồm: gần 18.000 thư viện, tủ
sách công cộng; hơn 400 thư viện đại học và cao đẳng; gần 1.000 thư viện,
tủ sách trong lực lượng vũ trang; hơn 80 thư viện chuyên ngành; và gần
25.000 thư viện trường học phổ thông…Tương đương với số lượng thư viện,
tủ sách đó, chúng ta có hơn 30.000 cán bộ thư viện trình độ từ sơ cấp tới cử
nhân, thạc sĩ, tiến sĩ được đào tạo cơ bản trong nước và nước ngoài.
Từ một cơ sở đào tạo cán bộ thư viện bậc đại học duy nhất (Đại học
Văn hóa Hà Nội), đến nay cả nước đó có nhiều trường đào tạo cử nhân thư
viện, trong đó 3 trường có đào tạo thạc sĩ , riêng trường đại học Văn hóa Hà
Nội được giao nhiệm vụ đào tạo bậc tiến sĩ. Ngoài ra, chúng ta cũng có vài
2
chục trường văn hóa – nghệ thuật ở các tỉnh đào tạo cán bộ trung cấp và cao
đẳng thư viện.
Hành lang pháp lý cần thiết cho ngành thư viện phát triển đã được
hình thành với hàng loạt các văn bản pháp quy. Sau 10 năm Pháp lệnh Thư
viện được ban hành, hiện nay chúng ta đã có Luật Thư viện được thông qua
trong năm 2012. Song song với sự phát triển, các cơ quan quản lý nhà nước
về thư viện cũng đã được kiện toàn. Các thư viện đã được tổ chức theo
những mô hình thích hợp để thống nhất quản lý, chỉ đạo theo phương hướng:
“thống nhất, chuẩn hóa, chia sẻ và hội nhập”. Việt Nam đã thành lập Hội
Thư viện làm “nơi tập hợp những ý tưởng, khát vọng, chia sẻ kinh nghiệm,
tâm tư, tình cảm, là diễn đàn dân chủ, bảo vệ quyền lợi chính đáng của cán
bộ thư viện…”
Công nghệ thông tin trong nước phát triển mạnh mẽ, đã tạo điều kiện
rất thuận lợi để ngành thư viện tiếp cận, tranh thủ khai thác hạ tầng cơ sở
thông tin và trình độ công nghệ thông tin của nhân dân để phát triển thư viện
nhanh hơn theo hướng hiện đại hóa, điện tử hóa - xu hướng chung của thư
viện thế giới hiện nay.
1.1.2. Những hạn chế
Hạn chế lớn nhất của ngành Thư viện Việt Nam lúc này là người dân
ít sử dụng thư viện
Cơ sở vật chất của các thư viện vẫn chưa đồng đều
Trình độ thực tế của Cán bộ thư viện vẫn chưa cao so với các nước
trên thế giới
3
Lương của người cán bộ thư viện vẫn tương đối thấp hơn các ngành
khác.
1.2.
Những thách thức của ngành thư viện Việt nam
1.2.1. Có phương tiện mà chưa biết khai thác, có kinh phí mà chưa biết sử
dụng thích đáng, đặc biệt là chưa biết khai thác các phương tiện tìm tin hiện
đại.
Không phải ngẫu nhiên mà thư viện trở thành “khách lạ” trong cuộc
sống của đa số người dân. Nguyên nhân đầu tiên có thể thấy là cơ sở vật chất
của nhiều thư viện chẳng có gì lạ so với vài chục năm trước. Mang chức
năng là một trung tâm tri thức cho công chúng, nhưng số sách mới nhập về
các thư viện hiện nay vẫn dừng lại ở mức nhỏ giọt. Người đọc đến thư viện
để tra khảo, tìm kiếm tài liệu cũ hơn là cập nhật các thông tin mới.
Ngoài ra, Báo Sài Gòn Giải Phóng còn cho biết, một số lãnh đạo sẵn
sàng duyệt hàng chục triệu đồng cho các hoạt động bề nổi như làm các xe
tuyên truyền hoặc tổ chức đêm ca nhạc, nhưng lại không đồng ý chi vài trăm
ngàn để mua sách cho thư viện bởi hoạt động này không đem lại điểm thành
tích cho đơn vị. Hậu quả là các thư viện biến thành “nhà kho sách” hơn là
một trung tâm tri thức cho người dân.
1.2.2. Điều hành, khai thác
Chưa kể, lối suy nghĩ xem nhẹ vai trò thư viện của các lãnh đạo địa
phương đã khiến cho một số khu vực dân cư mất luôn cơ hội đến thư viện.
Đơn cử là trường hợp thành phố Đà Nẵng. Ngay khi thư viện mới vẫn còn
đang ở trên bản vẽ, lãnh đạo thành phố đã kịp quy hoạch ngay thư viện cũ
4
cho một công trình khác khiến cho hàng chục ngàn cuốn sách phải tạm nghỉ
một thời gian.
Vấn đề không phải là chuẩn nào, công nghệ đã đạt tới hay chưa, mà là
vấn đề ở cái đầu cách nhìn của các ông lãnh đạo, liệu họ có chịu chơi chung
với nhau? Vấn đề của thư viện Việt Nam không chỉ dừng lại ở nguyên nhân
thiếu phương tiện, thiếu kinh phí, mà còn ở góc độ ngược lại, “có phương
tiện mà chưa biết khai thác, có kinh phí mà chưa biết sử dụng thích đáng,
đặc biệt là chưa biết khai thác các phương tiện tìm tin hiện đại”.
Một trong những mục tiêu của “Chiến lược phát triển Ngành Thư viện
Việt Nam đến năm 2020” là “phấn đấu đến năm 2020, toàn bộ thư viện các
tỉnh, thành phố không chỉ được nối mạng với thư viện Quốc gia Việt Nam,
internet, số hóa 50% tài liệu quý hiếm, 100% thư viện cấp huyện ứng dụng
công nghệ thông tin”. Hình thức liên thư viện và số hóa thư viện đã được đề
cập đến từ rất lâu nhưng cho đến nay, việc thực hiện vẫn còn rất chậm chạp
và thiếu đồng bộ
Bên cạnh đó, những thủ tục rườm rà khi làm thẻ thư viện cộng với thái
độ phục vụ thiếu chuyên nghiệp của nhân viên thư viện cũng là một yếu tố
không nhỏ khiến cho người dân ngại đến trung tâm sách ít thân thiện này.
Nhiều người thà vào nhà sách đứng mỏi chân đọc ké còn hơn bị mất cả hứng
thú đọc khi vào thư viện.
1.2.3. Thách thức nảy sinh từ việc phát triển của công nghệ thông tin
Công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ đã và đang làm phong phú tài
liệu đọc, từ tài liệu giấy đã phát triển sang tài liệu điện tử, từ đọc sách nay
sang đọc trên máy tính và có thể đọc ở bất cứ đâu miễn là nơi đó có mạng
thông tin… Một bộ phận rất lớn người dân, đặc biệt lớp trẻ đang mất dần
5
thói quen đọc sách báo. Học sinh ngày nay thích chơi game trên máy tính
hơn là đến thư viện đọc sách. Văn hóa nghe nhìn đang lấn át văn hóa đọc.
Các thư viện đang mất dần bạn đọc.
1.2.4. Thách thức mới nảy sinh từ sự hội nhập quốc tế của đất nước
Trong xu thế chung, ngành thư viện Việt Nam tất yếu cần tăng cường
giao lưu, hội nhập với thư viện thế giới. Để chính thức hội nhập quốc tế,
trong lĩnh vực thư viện, chúng ta cũng cần tuân thủ theo các luật chung, cụ
thể là việc áp dụng các chuẩn quốc tế, như: DDC, AACR2, MARC.21 và sắp
tới có thể sẽ là RDA v.v. Đây là một thách thức, đòi hỏi cán bộ thư viện phải
dũng cảm đoạn tuyệt cái cũ để bước sang chặng đường mới. Chúng ta phải
học lại những điều tưởng như đơn giản nhất trong nghiệp vụ thư viện. Trước
sự gia tăng vốn tài liệu giấy, điện tử, online … bằng tiếng Anh và nhu cầu
giao lưu với bè bạn quốc tế ngày càng lớn, trình độ ngoại ngữ, trước hết là
tiếng Anh đang là một đòi hỏi cấp bách đối với cán bộ thư viện. Hiện nay, có
quá ít số cán bộ thư viện nước ta có đủ khả năng giao tiếp tối thiểu với bạn
đọc là người nước ngoài.
1.2.5.
Thách thức từ yêu cầu của thời kỳ kinh tế thị trường
Xã hội không đòi hỏi ngành thư viện làm ra của cải vật chất như các
doanh nghiệp nhưng xã hội đòi hỏi gắt gao hơn tính hiệu quả trong hoạt
động thư viện. Ví dụ, thư viện với tư cách người lính tiên phong sẽ làm gì để
góp phần chấn hưng văn hóa đọc? Làm sao để học sinh mê đọc sách hơn mê
chơi game? Thư viện trong các trường đại học sẽ đổi mới như thế nào để đáp
ứng yêu cầu đào tạo theo tín chỉ? Hàng năm, các thư viện phục vụ cho công
tác nghiên cứu khoa học ra sao? Trên mặt trận “tam nông”, mạng lưới thư
viện công cộng sẽ làm gì để góp sức cho nông nghiệp, nông dân và nông
6
thôn phát triển ? Làm sao để cán bộ thư viện được đào tạo trong nước từng
bước tiếp cận với chất lượng đào tạo trong khu vực ?
1.2.6.
Thách thức từ chất lượng cán bộ
TV nên theo dõi quá trình phát triển chuyên môn nghiệp vụ và kỹ
năng làm việc của cán bộ ở mỗi bộ phận để làm cơ sở cho việc hoạch định,
tổ chức các chương trình đào tạo, bồi dưỡng. Mọi cán bộ phải được học tập,
bồi dưỡng nghiệp vụ thường xuyên của TV.
Xem xét chi phí đào tạo và hiệu quả sử dụng cán bộ sau đào tạo để lập
kế hoạch đào tạo thích hợp với mỗi công việc. TV nên có kế hoạch luân
chuyển cán bộ giữa các bộ phận để cán bộ hiểu biết nhiều hơn về các khâu
nghiệp vụ TV, đồng thời cũng góp phần loại bỏ sự cát cứ, hoặc sự thiếu hợp
tác giữa các phòng ban, từ đó, đề ra biện pháp quản lý có hiệu quả. Đồng
thời, cần tạo môi trường bình đẳng để khuyến khích cán bộ.
Theo suy nghĩ của cá nhân, hiện nay nguyên nhân chính của việc
người dân ít đến thư viện đọc sách, văn hóa đọc kém phát triển là do hệ
thống thư viện trường học hiện nay hoạt động không hiệu quả. Bởi vì: thói
quen đọc sách phải được rèn luyện từ khi còn bé. Nhưng trong 18 năm học ở
nhà trường phổ thông học sinh đã không có thói quen đọc sách thì làm sao
khi lớn lên họ thích đọc sách. Khi họ có con, họ không dạy cho con mình
cách tìm thông tin, kiến thức trong sách thế là các em nhỏ lại tiếp tục một
vòng tuần hoàn của cha mẹ chúng. Cứ như thế thì ngày càng làm cho ngành
thư viện Việt Nam từ từ đi xuống.
Ta có thể nêu một vài nguyên nhân khiến thư viện trường học kém
phát triển:
7
Đầu tiên phải kể đến là do tư duy lãnh đạo. Hiện nay ngành thư viện
chúng ta được đầu tư giống như là việc xây nhà từ trên nóc xây xuống. Ta
đang tập trung phát triển, xây dựng hệ thống thư viện các trường Đại học,
thư viện tỉnh rất hiện đại mà bỏ quên tầm quan trọng của hệ thống thư viện
trường học.
Trong trường học, Thư viện thường không được xem trọng, sách báo
không được đầu tư nhiều, kho sách nghèo nàn lạc hậu. Đa số các trường đều
lấy phòng học làm thư viện.
Nhiều trường còn đem giáo viên ra làm thư viện
Chương trình học của nước ta chưa khuyến khích học sinh tự tìm tài
liệu tự học, tự nghiên cứu
Theo tôi một điều quan trọng nữa là lương của người cán bộ thư viện
trường học. Mặc dù luôn hô hào đầu tư cho thư viện trường học nhưng
lương của CBTV thì thấp, ở tỉnh của tôi CBTV còn không được hưởng phụ
cấp độc hại. Cùng làm việc trong một ngôi trường mà chế độ lương bị so
sánh, không được quan tâm dẫn đến việc không thích thú khi làm việc.
CBTV làm việc chỉ cho qua ngày, không quan tâm việc học sinh hay giáo
viên có vào thư viện hay không. Hiện nay game online lại càng phát triển do
vậy chẳng học sinh nào còn muốn đến thư viện, có chăng là vài học sinh giỏi
đến để mượn sách học nâng cao.
Vì vậy, theo tôi xu hướng phát triển của sự nghiệp thư viện Việt Nam
là phải ưu tiên phát triển hệ thống thư viện trường học trong cả nước
8
II.
XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA SỰ NGHIỆP THƯ VIỆN VIỆT
NAM HIỆN NAY
Như đã viết ở trên, tôi cho rằng cần cần quan tâm xây dựng thư viện
trường học thành thư viện hiện đại chứ không riêng gì thư viện công cộng,
thư viện các trường đại học, cao đẳng,... Ý nghĩa Thư viện hiện đại là đầy đủ
hơn, trong đó ứng dụng công nghệ thông tin chỉ là một nội dung rất cơ bản.
Khái niệm hiện đại ở đây bao hàm cả việc xây dựng cơ sở vật chất, công tác
tổ chức, quản lý và cả những khâu công tác truyền thống của thư viện. Trước
mắt, chúng ta cần tập trung xây dựng các thư viện hiện tại trở thành thư viện
điện tử và tiến tới liên kết, hình thành mạng lưới thư viện điện tử trong khu
vực Huyện.
Ðể thực hiện định hướng này, đối với từng thư viện cần giải quyết các
vấn đề lớn sau: Trước hết là vấn đề nhận thức và cán bộ. Tiếp thu một vấn
đề mới không phải lúc nào, nơi nào cũng suôn sẻ. Do vậy, khi bước vào xây
dựng thư viện điện tử, chúng ta phải chấp nhận một cuộc thay đổi lớn trên
tất cả các lĩnh vực, từ hình thức tới nội dung, từ nội dung đến phương pháp,
chắc chắn sẽ không đơn giản. Cần đồng tâm, nhất trí và quyết tâm cao mới
có thể thành công. Phải dứt khoát coi đây là con đường duy nhất, không có
sự lựa chọn nào khác để tồn tại và phát triển của mạng lưới Thư viện
2.1.
Nâng cao chất lượng công tác tuyển dụng
TV cần dựa trên cơ sở các qui chế, chính sách về tuyển dụng cán bộ,
qui định về tiêu chuẩn cán bộ của nhà nước, của ngành để xây dựng các qui
định, chính sách và tiêu chuẩn tuyển dụng phù hợp với điều kiện thực tế của
TV.
9
Mọi thông tin tuyển dụng, chế độ ưu tiên… cần được thông báo công
khai trên phương tiện thông tin đại chúng. Quá trình thi tuyển phải được
giám sát chặt chẽ và bảo đảm tính công bằng. Ưu tiên thu hút cán bộ có kinh
nghiệm, sinh viên giỏi nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Ứng viên trúng tuyển cần phải trải qua thời gian thử việc. Trong thời
gian trên nếu ứng viên không đáp ứng được yêu cầu công việc, cần xem xét
lại kết quả thi tuyển và có những biện pháp xử lý phù hợp, kể cả không công
nhận kết quả thi tuyển và tiếp nhận ứng viên vào TV.
2.2.
Bố trí và phân công cán bộ phù hợp với công việc
Xem xét, đánh giá trình độ chuyên môn của cán bộ một cách khách
quan, từ đó bố trí đảm bảo “đúng người đúng việc”. Việc bố trí cán bộ cho
các bộ phận của TV phải căn cứ vào tình hình thực tế, sao cho công việc mà
mỗi cá nhân đảm đương phù hợp với khả năng thực tế của họ. Các tiêu
chuẩn, điều kiện cụ thể đối với từng vị trí công tác cần được công bố công
khai. Những người được đề bạt phải là người phù hợp với những tiêu chí
chung đã đề ra.
Cần mạnh dạn giao công việc cũng như quyền hạn và trách nhiệm cho
cán bộ để họ có thể độc lập tự chủ trong công việc.
2.3.
Cải thiện môi trường làm việc
Tạo ra bầu không khí dân chủ, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa lãnh đạo TV
với cán bộ, giữa cán bộ với nhau để cán bộ cảm nhận được sự tôn trọng và
phát huy hết mọi tiềm năng của mình.
Xây dựng môi trường văn hoá TV thân thiện, góp phần nâng cao chất
lượng công tác và ý thức trách nhiệm của người cán bộ.
10
2.4.
Tăng cường kỷ cương
Qui định và phổ biến rộng rãi cho toàn thể cán bộ về nội qui, các điều
khoản về kỷ luật cán bộ và xử lý thật nghiêm minh, tránh tình trạng “đánh
trống bỏ dùi”.
2.5.
Chú trọng đãi ngộ, khen thưởng cán bộ
Biết được giá trị của cán bộ trong từng loại công việc để quyết định
mức khen thưởng hợp lý với các hình thức thưởng và đãi ngộ khác nhau,
tránh “cào bằng”... Đồng thời, thưởng cho những cán bộ có những sáng kiến
góp phần nâng cao chất lượng hoạt động TV, được bạn đọc khen ngợi, đồng
nghiệp tín nhiệm và được người quản lý trực tiếp xác nhận thông qua chất
lượng công việc cũng như tư cách đạo đức. Mức thưởng được xác định
thông qua quy chế chi tiêu nội bộ của TV. Nên duy trì các hình thức thưởng
khác như thưởng cuối năm, thưởng hoàn thành vượt kế hoạch, cũng như duy
trì thăm hỏi, động viên tinh thần đối với cá nhân và gia đình cán bộ nhân dịp
hiếu hỉ, lễ tết…
2.6.
Hoàn thiện cơ chế chính sách
Nhà nước cần có những biện pháp hỗ trợ về tổ chức, cơ sở vật chất
cũng như kinh phí hoạt động cho các TV, tủ sách cơ sở. TV cấp tỉnh, huyện
được tăng thêm biên chế. TV cấp xã phấn đấu có một biên chế tốt nghiệp
trung cấp TV hoặc trung học phổ thông được bồi dưỡng về chuyên môn
nghiệp vụ TV.
Vì vậy. Trong những năm qua, hệ thống TV Việt Nam đã đạt được
một số thành tựu về phát triển nguồn nhân lực nhưng vẫn còn rất nhiều hạn
chế, khiếm khuyết. Chúng ta cần quan tâm nhiều hơn và coi việc phát triển
11
nguồn nhân lực là một trong những nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu của hệ
thống. Xét cho cùng, TV có phát triển được hay không, vị thế của TV như
thế nào.... phụ thuộc phần lớn vào chất lượng nguồn nhân lực của TV.
Từ đó tôi cho rằng chất lượng cán bộ vẫn đang là sự thách thức lớn
nhất của ngành thư viện Việt Nam. Cán bộ thư viện nước ta nói chung đang
rất cần được hâm nóng nhiệt tình, cần được nâng cao đạo đức nghề nghiệp,
cần rèn luyện để nâng cao tính năng động, sáng tạo, thích ứng với yêu cầu
của thời kỳ mới, cần được bồi dưỡng sâu hơn, cao hơn về kĩ năng nghiệp vụ,
trình độ ngoại ngữ, tin học…
Trên bình diện toàn quốc, cần nêu mấy yêu cầu chung trong quá trình
phát triển của các thư viện. Những vấn đề sau đây sẽ thuộc về trách nhiệm tổ
chức thực hiện của các thư viện đầu ngành, các đơn vị Chủ tịch liên hiệp thư
viện các khu vực :
Ðó là vấn đề : "Thống nhất, chuẩn hoá, hội nhập".
Thống nhất: Trước hết là sự thống nhất trong chỉ đạo nghiệp vụ. Sau
nữa, là sự thống nhất nghiệp vụ trong từng mạng lưới dưới sự điều hành của
các thư viện đứng đầu. Vì sự thống nhất, có khi, có thư viện phải thay đổi
một số công đoạn nghiệp vụ, tôi thiết nghĩ các đơn vị đó cũng cần dũng cảm
thực hiện vì sự thống nhất chung của cả mạng lưới.
Chuẩn hoá: Sự thống nhất chỉ có thể đạt được trên cơ sở thực hiện
nghiêm túc các chuẩn mực về nghiệp vụ. Ở đây, vì mục tiêu chiến lược lâu
dài, chúng ta cần nhất trí trong việc lấy một số thành tựu tiêu biểu về nghiệp
vụ thư viện quốc tế làm chuẩn mực để tiếp cận. Như: Hướng tới việc sử
dụng bảng phân loại DDC ; Hướng tới việc biên mục theo AACR2; Hướng
tới việc sử dụng MARC 21.
12
Hội nhập: Các phần mềm thư viện có khả năng kết nối internet để hội
nhập rộng rãi với cộng đồng thư viện. Các thư viện trường học thường có ít
kinh phí bổ sung sách. Vì vậy, việc mượn liên thư viện sẽ tiết kiệm kinh phí
rất lớn.
KẾT LUẬN
Để phát triển sự nghiệp thư viện Việt Nam thì chúng ta cần phải có
những CBTV có trình độ nghiệp vụ cao, tinh thần yêu nghề, hết lòng vì sự
nghiệp thư viện. Hiện nay, đầu vào ngành thư viện thường lấy điểm không
cao, nhiều cán bộ thư viện có trình độ Đại học không chính qui. Ngành thư
viện chưa thu hút được nhân tài theo học. Vì vậy trong tương lai, ta cần quan
tâm về mặt chính sách cho đội ngũ CBTV. Bởi vì, họ là linh hồn của thư
viện. Thư viện có phát triển được hay không đều do nơi họ có trình độ cao
và nhiệt tình với công việc hay không. Thư viện phát triển, văn hóa đọc phát
triển sẽ kéo theo sự phát triển rất lớn về mặt văn hóa, giáo dục,...
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Kỷ yếu hội nghị triển khai công tác văn
hóa, thể thao và du lịch năm 2010. - H., 2009. - 199tr.
2. Bộ Văn hoá - Thông tin. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thư viện
công cộng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. - H, 2005.99tr.
3. Bộ Văn hoá - Thông tin. Hội nghị tổng kết hoạt động của hệ thống thư
viện công cộng toàn quốc năm 2004-2006. - Huế, 2007. - 112tr.
13
14