Tải bản đầy đủ (.docx) (16 trang)

Cơ hội, thách thức và định hướng phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4 0

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (139.87 KB, 16 trang )

Cơ hội, thách thức và định hướng phát triển trong bối
cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4.0

Thế giới đang bắt đầu bước vào cuộc cách mạng công nghiệp lần
thứ tư, một cuộc cách mạng sản xuất mới gắn liền với nh ững đ ột phá
chưa từng có về công nghệ, liên quan đến kết nối Internet, điện toán đám
mây, in 3D, công nghệ cảm biến, thực tế ảo... Cuộc cách mạng sản xuất
mới này được dự đoán sẽ tác động mạnh mẽ đến mọi quốc gia, chính ph ủ,
doanh nghiệp và người dân khắp toàn cầu, cũng như làm thay đổi căn bản
cách chúng ta sống, làm việc và sản xuất. Bản chất của cách m ạng công
nghiệp lần thứ tư là dựa trên nền tảng công nghệ số và tích h ợp tất cả các
công nghệ thông minh để tối ưu hóa quy trình, ph ương th ức s ản xu ất. K ỷ
nguyên mới của đầu tư, năng suất và mức sống gia tăng tất c ả là nh ờ vào
sự sáng tạo của con người và sẽ tác động sâu sắc đối v ới các h ệ th ống
chính trị, xã hội, kinh tế của thế giới.
Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hi ện đ ại
hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng. Cách mạng công nghiệp 4.0 mở ra cho
Việt Nam nhiều cơ hội thực hiện khát vọng phồn vinh của dân tộc nhưng
cũng là thách thức đối với sự chuyển đổi của nền kinh tế, Chính phủ và
doanh nghiệp.
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 là sự hội tụ của các công
nghệ tiên tiến trong các lĩnh vực số hóa, vật lý và sinh h ọc t ạo đi ều ki ện
thuận lợi cho phát triển công nghiệp thông minh, tạo ra nh ững kh ả năng
hoàn toàn mới trong sản xuất và kinh doanh, có tác động sâu sắc tới h ệ
thống chính trị, xã hội, kinh tế của thế giới.
Các quốc gia trên thế giới, tùy theo trình độ phát triển, th ực tiễn đất
nước, đều đã có những đối sách khác nhau nhằm tận dụng được xu th ế
của cuộc cách mạng công nghiệp này. Một số chiến lược của các qu ốc gia
trên thế giới như “Industrie 4.0” của Đức, “Manufacturing Innovation
Strategy 3.0” của Hàn Quốc, “Society 5.0” của Nhật Bản…
1




Có thể nói, các quốc gia phát triển và nhiều quốc gia đang phát triển
đều có những chương trình, kế hoạch ứng xử với công nghiệp 4.0, v ới m ục
đích vươn lên hoặc giữ vững vị thế dẫn dắt của mình.
Cách tiếp cận của các quốc gia đều tập trung vào xây d ựng môi
trường kinh doanh thuận lợi và hiệu quả nhằm thúc đẩy doanh nghiệp
đổi mới sáng tạo, thúc đẩy số hóa, ứng dụng các công nghệ s ố hóa trong
công nghiệp, dịch vụ như nâng cấp hạ tầng truyền thông băng thông rộng,
các chương trình nghiên cứu và phát triển trong các lĩnh v ực trí tu ệ nhân
tạo, tự động hóa, Internet vạn vật…; có chính sách bảo vệ và thúc đẩy s ử
dụng tài sản trí tuệ; hỗ trợ kinh phí hoặc lãi suất vay cho doanh nghi ệp
triển khai chuyển đổi số.
Bên cạnh đó, xây dựng các trung tâm thử nghiệm và triển khai công
nghiệp 4.0-nơi kết nối doanh nghiệp, viện, trường, th ử nghiệm các sản
phẩm mới, đào tạo nhân lực, thí điểm chính sách đối v ới công nghiệp 4.0.
Đặc biệt, tập trung xây dựng hành lang pháp lý, tiêu chuẩn đ ể tri ển
khai các sản phẩm của công nghiệp 4.0 vào cuộc sống nh ư khung pháp lý
để quản lý, xử lý đối với các loại tài sản ảo, tiền điện t ử, tiền ảo; khung
pháp lý cho các thiết bị không người lái; tiêu chuẩn về h ệ th ống t ự đ ộng
hóa; tiêu chuẩn về bảo mật thông tin cho các thiết bị Internet vạn v ật.
- Giải pháp gì để tiếp cận thành công cuộc cách mạng công nghiệp
lần thứ 4
Cách mạng công nghiệp 4.0 mở ra cho Việt Nam nhiều c ơ h ội th ực
hiện khát vọng phồn vinh của dân tộc như cơ hội trong việc nâng cao trình
độ công nghệ, năng lực sản xuất; tham gia trực tiếp hơn trong chuỗi cung
ứng; tạo cơ hội đầu tư hấp dẫn và đầy tiềm năng trong lĩnh v ực công ngh ệ
số và sản xuất công nghiệp với trình độ khoa học và công nghệ tiên tiến.
Tuy nhiên, đây cũng chính là thách thức đối v ới s ự chuy ển đ ổi c ủa
nền công nghiệp đang thâm dụng vốn và lao động của Vi ệt Nam, đ ặc biệt

là đối với Chính phủ và doanh nghiệp.
Đối với Chính phủ, việc xây dựng chính sách cần tầm nhìn ở góc đ ộ
cao hơn để đảm bảo các chính sách có thể hỗ trợ, thúc đẩy hoặc ít nh ất là
2


không cản trở các doanh nghiệp phát triển và chuy ển đổi “thông minh”
nhanh hơn, tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu trực tiếp hơn, đ ồng th ời
các chính sách cũng cần thích ứng với xu hướng phát tri ển của công ngh ệ
thông tin như các vấn đề về an ninh mạng, sở hữu thông tin, d ữ liệu…
Đối với doanh nghiệp, công nghiệp 4.0 là áp lực cạnh tranh khốc liệt
trên sân chơi toàn cầu khi các ưu thế về thị trường theo góc độ đ ịa lý bị các
công nghệ trong công nghiệp 4.0 xóa mờ, đó là áp lực về nguồn l ực đ ể
chuyển đổi, đó là áp lực về đổi mới thực sự sáng tạo đ ể tạo đ ột phá…
Trong bối cảnh đó, Chính phủ và doanh nghiệp Việt Nam bắt bu ộc
phải có sự chuyển đổi. Trước mắt là tự nâng cao năng l ực đ ể có ti ếp c ận
phù hợp, sau đó chủ động tận dụng cơ hội này.
Chính vì vậy, để chủ động ứng phó với các tác động c ủa cuộc cách
mạng công nghiệp lần thứ 4, nắm bắt cơ hội và vượt qua thách th ức, Thủ
tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị 16/CT-TTg chỉ ra các định h ướng giúp
Việt Nam tăng cường năng lực tiếp cận cuộc cách m ạng công nghi ệp l ần
thứ 4, trong đó có giải pháp về phát triển hạ tầng công nghệ thông tin; cải
thiện môi trường cạnh tranh kinh doanh để thúc đẩy s ự phát tri ển c ủa
doanh nghiệp; ưu tiên phát triển công nghiệp công nghệ số, nông nghi ệp
thông minh, du lịch thông minh, đô th ị thông minh; thúc đ ẩy h ệ sinh thái
khởi nghiệp sáng tạo; thay đổi nội dung, phương pháp giáo d ục và dạy
nghề nhằm tạo ra nguồn nhân lực có khả năng tiếp nhận các xu thế công
nghệ sản xuất mới.
- Tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp 4.0
Quan điểm chỉ đạo của Chính phủ là tập trung xây d ựng, phát tri ển

nền kinh tế số và công nghiệp thông minh, coi đây là nhi ệm v ụ tr ọng tâm,
cốt lõi của tái cấu trúc nền kinh tế gắn với chuy ển đ ổi mô hình tăng
trưởng theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hi ệu qu ả và s ức c ạnh
tranh.
Để làm được điều đó, Việt Nam cần xây dựng thế mạnh và giá tr ị cốt
lõi dựa trên nhân tố đột phá là đổi mới sáng tạo, trên c ơ s ở s ự ph ối h ợp
nhịp nhàng giữa Chính phủ và doanh nghiệp. Nhà nước cần ch ủ động h ơn

3


trong việc phối hợp với các doanh nghiệp, đặt doanh nghiệp làm trung
tâm trong xây dựng các chính sách.
Đặc biệt là các chính sách hướng tới phát triển công nghiệp 4.0,
chính sách hỗ trợ lãi suất cho các doanh nghiệp chuy ển đổi số hoá, chuy ển
giao và đổi mới công nghệ. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp c ần tích c ực,
chủ động hơn trong phối hợp với Chính phủ, chia sẻ với Chính ph ủ về
nguồn lực để phát triển hạ tầng, tiềm lực khoa học và công ngh ệ, đổi m ới
sáng tạo quốc gia. Quyết liệt đổi mới căn bản giáo dục và đào tạo, đ ặc bi ệt
là giáo dục STEM và dạy nghề. Phát triển một số sản phẩm có kh ả năng
cạnh tranh chiến lược ở tầm quốc gia.
Ngoài ra, cần mở rộng chiến lược hợp tác cụ thể với các quốc gia đi
đầu trong khu vực và thế giới để cùng phát triển những th ế mạnh của
Việt Nam, tận dụng cơ hội của cuộc cách mạng công nghiệp lần th ứ 4.
Đặc biệt, cần phải xây dựng một chiến lược tiếp cận Cách mạng
công nghiệp 4.0 phù hợp cho Việt Nam. Đây là cơ s ở quan trọng đ ể huy
động nguồn lực, hướng đến một mục tiêu chung là “khát v ọng ph ồn vinh
của toàn dân tộc” như Thủ tướng Chính phủ đã đề ra.
Cuộc CMCN 4.0 mà chúng ta vừa bước vào sẽ tạo ra một th ế gi ới mà
ở trong đó các hệ thống ảo và vật lý của chuỗi sản xuất trên toàn cầu có

thể hợp tác với nhau một cách linh hoạt. CMCN 4.0 không đơn thuần ch ỉ là
về các máy móc, hệ thống thông minh và được kết n ối, mà còn có ph ạm vi
rộng lớn hơn nhiều. Đồng thời là các làn sóng của nh ững đ ột phá xa h ơn
trong các lĩnh vực khác nhau từ mã hóa chuỗi gen cho t ới công ngh ệ nano,
từ các năng lượng tái tạo tới tính toán lượng tử. Nó đang và h ứa hẹn sẽ tạo
ra các lợi ích hết sức to lớn và tác động mạnh mẽ tới kinh t ế th ế gi ới cũng
như tới kinh tế Việt Nam.
CMCN 4.0 trước tiên sẽ tác động mạnh mẽ đến hoạt đ ộng s ản xu ất,
tạo nên sự thay đổi lớn trong phương thức sản xuất, s ự h ội t ụ gi ữa ứng
dụng vật lý và ứng dụng kỹ thuật số tạo nên sự xuất hiện Internet v ạn v ật
(Internet of Things - IoT) sẽ thay đổi nhanh chóng, sâu rộng toàn b ộ chuỗi
giá trị từ nghiên cứu phát triển đến sản xuất, logistics đến d ịch vụ khách
hàng, giảm đáng kể chi phí giao dịch, vận chuy ển, dẫn đến nh ững đi ều kỳ
diệu trong sản xuất và năng suất. Trong quá trình này, IoT sẽ tác động làm
4


biến đổi tất cả các ngành công nghiệp, từ sản xuất đến cơ s ở hạ tầng đến
chăm sóc sức khỏe. Với việc thay đổi phương th ức sản xuất khi có nh ững
công nghệ hiện đại có thể kết nối thế giới thực và ảo, để sản xuất con
người có thể điều khiển quy trình ngay tại nhà mình mà v ẫn bao quát t ất
cả mọi hoạt động của nhà máy thông qua sự vượt trội về Internet.
Đối với lĩnh vực thương mại, cuộc CMCN 4.0 này tr ước h ết giúp
giảm đáng kể chi phí giao dịch, vận chuy ển. Đối v ới lĩnh v ực đ ầu t ư, v ới
bản chất của cuộc cách mạng công nghiệp lần th ứ tư, công ngh ệ là m ảng
đầu tư trở nên hấp dẫn và đầy tiềm năng nhất của các nhà đ ầu t ư trong
thời gian tới, đặc biệt là công nghệ số và Internet. Song cuộc cách m ạng
này cũng có thể tạo ra sự bất công lớn hơn, đặc biệt là gây ra nguy c ơ phá
vỡ thị trường lao động. Khi tự động hóa thay thế con người trong toàn b ộ
nền kinh tế, người lao động sẽ bị dư th ừa và điều đó làm tr ầm tr ọng h ơn

khoảng cách giữa lợi nhuận so với đồng vốn và lợi nhuận so v ới s ức lao
động. Trong khi sự đổi mới công nghệ thường dẫn đến năng suất cao h ơn
và thịnh vượng hơn thì tốc độ thay đổi cũng sẽ tạo ra một áp lực l ớn do s ự
dịch chuyển của nguồn lực lao động. Người lao động tại các nhà máy trong
thời kỳ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư sẽ có nh ững việc làm m ới
với các yêu cầu khác và trong một môi trường làm việc hay cách t ổ ch ức
không còn giống như hiện nay.
Cuộc CMCN 4.0 sẽ phát triển mạnh mẽ do nhu cầu tìm ki ếm ph ương
thức sản xuất mới hiệu quả, bền vững hơn trước nh ững thách th ức nh ư
biến đổi khí hậu, già hóa dân số hay các vấn đề an ninh khác ngày càng
tăng lên. Cuộc cách mạng này sẽ mang tới nhiều cơ hội phát tri ển và h ội
nhập, nhưng đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức với các n ước đang
phát triển như Việt Nam.
Thách thức đối với Việt Nam
Trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh t ế
thế giới với việc hoàn tất nhiều hiệp định thương mại tự do quy mô l ớn
như TPP, FTA với EU, Liên minh kinh tế Á - Âu..., vi ệc ti ếp c ận thành t ựu
cách mạng sản xuất mới sẽ tạo ra công cụ đắc lực giúp Việt Nam tham gia
hiệu quả chuỗi giá trị toàn cầu và đẩy nhanh quá trình công nghi ệp hóa,
hiện đại hóa đất nước. Những cải cách công nghệ mang tính đột phá có
thể dẫn đến những điều kỳ diệu trong sản xuất và năng suất.
5


Về phía Chính phủ, dưới tác động của cuộc cách m ạng này, công tác
điều hành của Chính phủ của Việt Nam cũng sẽ có đ ược s ức m ạnh công
nghệ mới để tăng quyền kiểm soát, cải tiến hệ thống quản lý xã hội. Song
cũng như các chính phủ khác trên thế giới, Chính phủ Việt Nam cũng sẽ
ngày càng phải đối mặt với áp lực phải thay đổi cách tiếp cận hiện tại của
mình để hoạch định và thực hiện chính sách, trong đó quan tr ọng nh ất là

phải nâng cao vai trò của người dân trong quá trình này. Điều này sẽ càng
có ý nghĩa hơn khi Việt Nam đang tiến vào giai đoan phát tri ển m ới r ất
quan trọng đòi hỏi đổi mới mạnh mẽ về tư duy, quy ết tâm cao c ủa Chính
phủ nhằm công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Về phía doanh nghiệp, chi phí cho giao thông và thông tin sẽ gi ảm
xuống, dịch vụ hậu cần và chuỗi cung ứng sẽ tr ở nên hiệu quả h ơn, và các
chi phí thương mại sẽ giảm bớt, tất cả sẽ làm mở rộng th ị tr ường và thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế. Về phía cung ứng, nhiều ngành công nghi ệp đang
chứng kiến sự du nhập của các công nghệ mới, nó tạo ra nh ững cách hoàn
toàn mới để phục vụ cho nhu cầu trong hiện tại và thay đổi tri ệt đ ể các
chuỗi giá trị ngành công nghiệp đang hoạt động. Do đó, các doanh nghi ệp
Việt Nam sẽ tiếp cận được với các công nghệ hiện đại, cải thiện ph ẩm
chất, tốc độ, giá cả mà khi được chuy ển giao nó có giá tr ị h ơn.
Bên cạnh đó, người tiêu dùng cũng có được những quyền lợi nhất
định khi sự minh bạch ngày càng rõ hơn, quan tâm của người tiêu dùng, và
các khuôn mẫu mới về hành vi của người tiêu dùng (ngày càng xây d ựng
dựa trên quyền truy cập vào các mạng di động và dữ liệu) buộc các doanh
nghiệp phải thích nghi với cách mà họ thiết kế, tiếp th ị, và cung c ấp các
sản phẩm và dịch vụ. Khi công nghệ và tự động hóa lên ngôi, họ sẽ đối mặt
với áp lực cần nâng cao chất lượng, cải tiến và đổi mới các dây chuy ền
công nghệ, tuyển nhân lực có năng lực về công nghệ, đồng th ời ph ải đ ối
mặt với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt của doanh nghiệp n ước ngoài.
Những điều này là thực sự khó khăn trong bối cảnh doanh nghi ệp Việt
Nam vẫn còn thua kém rất lớn các doanh nghiệp n ước ngoài về công ngh ệ,
cũng như nhân lực và vốn đầu tư như hiện nay.
Tuy nhiên, CMCN 4.0 lần này cũng đang đặt ra nhiều thách th ức m ới
đối với các nước đang phát triển như Việt Nam. Đó là thách th ức t ụt h ậu
xa hơn, lao động chi phí thấp mất dần l ợi thế, khoảng cách công ngh ệ và
6



tri thức nới rộng hơn dẫn đến phân hóa xã hội sẽ sâu sắc h ơn... Chính ph ủ,
các doanh nghiệp, các trung tâm nghiên cứu và c ơ sở giáo dục t ại Vi ệt Nam
cần phải nhận thức được và sẵn sàng thay đổi và có chiến l ược phù h ợp
cho việc phát triển công - nông nghiệp, dịch vụ và kinh tế hay ngu ồn nhân
lực trong thời kỳ Internet vạn vật và cuộc CMCN 4.0.
Cuộc cách mạng công nghiệp (CMCN) lần thứ tư đã và đang đến. Đây là
cuộc cách mạng chưa từng có trong lịch sử nhân lo ại, nó sẽ di ễn bi ến r ất
nhanh, là sự kết hợp của công nghệ trong các lĩnh vực vật lý, số hóa và sinh
học, tạo ra những khả năng hoàn toàn mới và có tác động sâu s ắc đ ối v ới
các hệ thống chính trị, xã hội, kinh tế của thế giới.
Cuộc cách mạng sản xuất mới này được dự đoán sẽ tác động m ạnh
mẽ đến mọi quốc gia, chính phủ, doanh nghiệp và người dân khắp toàn cầu,
cũng như làm thay đổi căn bản cách chúng ta sống, làm vi ệc và s ản xu ất.
Ảnh hưởng của cuộc cách mạng công nghi ệp 4.0 đến sự phát
triển của văn hóa - xã hội Việt Nam
Cách mạng công nghiệp 4.0 (gọi tắt là cách mạng 4.0) d ựa trên n ền
tảng phát triển công nghệ thông tin, kỹ thuật số, in-tơ-nét, s ự kết nối toàn
cầu ở nhiều tầng bậc, nhiều lĩnh vực trong cùng một lúc. Cuộc cách m ạng
khoa học kỹ thuật lần thứ ba đã xóa nhòa ranh giới gi ữa các qu ốc gia, dân
tộc ở mặt tri thức khoa học và lĩnh vực kinh tế. Sản phẩm t ừ nền sản xuất
vật chất trong cuộc cách mạng này đã bao trùm toàn thế gi ới và m ỗi con
người đều có thể sử dụng nó từ bất kỳ nơi sản xuất nào một cách dễ dàng.
Tuy nhiên, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần th ứ ba v ới đặc tr ưng s ử
dụng hiệu quả nguồn năng lượng truyền thống, còn cách mạng 4.0 sử
dụng nguồn năng lượng mới, tạo ra vật liệu mới là cơ bản. Cách m ạng 4.0
chứng minh tri thức khoa học (đặc biệt là tri th ức nhân tạo) có s ức m ạnh
mang tính vật chất to lớn cho phép cải tạo thế giới ở trình độ cao, đúng
như C. Mác chỉ ra: công cụ nối dài các giác quan con người. Công ngh ệ sinh
học, công nghệ na-nô gắn với nó là sức bền v ật liệu ra đ ời. S ự xu ất hi ện

người máy, tự động hóa, dây chuyền sản xuất, điều khi ển h ọc ngày càng
nhanh chóng, mở rộng và trình độ cao. Nhờ công ngh ệ thông tin, k ết n ối,
mở rộng tầm giao lưu, giao tiếp giữa con người với con người qua m ạng
in-tơ-nét có xu hướng xóa nhòa ranh giới giữa dân tộc về văn hóa. Văn hóa
7


có tính bản địa, tính dân tộc rất sâu sắc thì hiện nay có nguy c ơ bị phai
nhạt rất lớn. Cùng với nó là các nước lớn muốn thể hiện vai trò, th ực hi ện
tham vọng về lợi ích, mục đích chính trị cũng nh ư ảnh h ưởng v ề văn hóa
ngày càng tăng. Các nước lớn sử dụng thành tựu cách m ạng 4.0 nh ư m ột
công cụ hữu hiệu quảng bá văn hóa của mình phục vụ cho mục đích chính
trị. Việc bảo vệ, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc của một quốc gia ph ải đối
mặt với những xu hướng ấy một cách toàn diện, trực tiếp và gay cấn nh ất
từ trước đến nay. Cách mạng 4.0 khiến bất cứ quốc gia, dân tộc và m ột cá
nhân con người không thể thờ ơ, đứng ngoài “vòng xoáy” của nó. Tuy
nhiên, tác động của cách mạng 4.0 không chỉ tạo ra thách th ức, mà còn có
cả cơ hội, thời cơ lớn. Sự kết nối nhờ thành tựu công ngh ệ thông tin, kỹ
thuật số cũng tạo ra những cơ hội cho tiếp xúc, h ọc h ỏi đ ược nhiều ở các
nước không chỉ về thành tựu văn minh, mà còn về giá trị văn hóa m ột cách
nhanh chóng, cập nhật.
Xây dựng nền văn hóa Việt Nam hiện nay đang phải đối m ặt v ới t ốc
độ phát triển nhanh chóng và sự tác động mạnh mẽ, trái chiều nhau gi ữa
tích cực và tiêu cực từ cách mạng 4.0 một cách nghiệt ngã nhất. Vấn đ ề
đặt ra là phải biết tận dụng cơ hội; vượt qua nguy cơ, thách th ức ngay t ừ
lựa chọn cách thức, con đường phát triển đến thực tiễn nền văn hóa Vi ệt
Nam. Xây dựng nền văn hóa Việt Nam trước tác động c ủa cách m ạng 4.0
phải có tính chủ động cao, định hướng sớm và khoa h ọc thì m ới có nh ững
bước đi vững chắc trong thực tiễn. Quán triệt và vận dụng quan đi ểm Đ ại
hội XII của Đảng về: “Chủ trương của Đảng gắn tăng tr ưởng kinh t ế v ới

phát triển văn hóa, phát triển, xây dựng con người và th ực hi ện tiến b ộ,
công bằng xã hội đã trở thành tư tưởng chỉ đạo cho nhiều ch ương trình,
kế hoạch phát triển. Sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị cùng với s ự
đầu tư của Nhà nước, sự tham gia của nhân dân là nh ững nhân t ố quy ết
định tạo ra những chuyển biến của sự nghiệp phát triển văn hóa, xây d ựng
con người”(1) và củng cố, phát triển tính chủ động cho m ỗi con ng ười, m ỗi
tổ chức, đơn vị, từ Trung ương đến từng địa phương,... một cách tích c ực,
sát thực.
Xây dựng nền văn hóa Việt Nam trong lịch sử cũng nh ư hiện nay, đ ặc
biệt, trước tác động của cách mạng 4.0 là hướng đến m ục đích, n ội dung
nhất quán: bảo đảm được tính dân tộc, giữ gìn “bản sắc dân tộc” m ột cách
vững chắc. Việt Nam là một điển hình trong lịch s ử nhân loại v ề b ảo v ệ,
giữ gìn bản sắc, tính chất dân tộc của nền văn hóa. Ngay t ừ buổi đ ầu c ủa
8


lịch sử người dân Việt Nam đã phải đấu tranh với những âm m ưu, hành
động đồng hóa về văn hóa của các nước lớn để giữ v ững độc l ập ch ủ
quyền đất nước; giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Lịch s ử ấy đã hun đúc
nên một sắc thái văn hóa rất độc đáo, như tinh th ần yêu n ước; đ ại đoàn
kết toàn dân tộc; nhân đạo, nhân văn; yêu hòa bình,... ở m ỗi con ng ười qua
các thế hệ khác nhau. Những nội dung ấy là giá trị gốc, có ý nghĩa nh ư m ột
“hằng số, mẫu số chung” cho mọi th ời kỳ phát triển văn hóa dân t ộc Vi ệt
Nam. Tính dân tộc của nền văn hóa đã thẩm thấu sâu vào cốt cách, tâm
hồn, phương thức ứng xử của mỗi con người Việt Nam qua các thời đại và
tạo nên sức mạnh tổng hợp chiến thắng các cuộc chiến tranh xâm l ược,
âm mưu đồng hóa về văn hóa của các thế l ực thù địch. Trên th ế gi ới ch ưa
có dân tộc nào như Việt Nam bị thống trị cả nghìn năm Bắc thuộc mà v ẫn
vùng dậy giành độc lập, tự chủ. Giải thích hiện t ượng đ ặc thù này ch ỉ có
thể bằng nội dung, sức mạnh của văn hóa; bản sắc, tính dân tộc của n ền

văn hóa Việt Nam. Lịch sử dân tộc không cho phép con ng ười hi ện nay bó
tay, bất lực trong xây dựng nền văn hóa Việt Nam. Mỗi con ng ười Vi ệt Nam
phải xác định rõ trách nhiệm đối với truyền thống dân tộc đ ể tiếp nối lịch
sử; luôn vững tin, sáng tạo vượt qua thách th ức, tận d ụng c ơ h ội và ti ến
lên ngang tầm thời đại. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng xác định: “..., m ọi
người Việt Nam đều hiểu biết sâu sắc, tự hào, tôn vinh lịch sử, văn hóa dân
tộc. Khẳng định, tôn vinh cái đúng, cái tốt đẹp, tích c ực, cao th ượng; nhân
rộng các giá trị cao đẹp, nhân văn”
Xây dựng nền văn hóa dân tộc Việt Nam trước tác động của cách
mạng 4.0 phải thường xuyên củng cố, kiên định với mục tiêu: Xây d ựng
nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; th ấm nhuần tinh
thần dân tộc,... như trong các nghị quyết đại hội của Đảng xác đ ịnh. Th ấm
nhuần tinh thần dân tộc phải được tiếp nhận, chuy ển hóa thành thái đ ộ,
động cơ, niềm tin, ý chí và hành vi ứng xử của mỗi con ng ười Vi ệt Nam
một cách bền vững nhất. Cách mạng 4.0 luôn tạo ra nh ững cái m ới, s ản
phẩm mới, hấp dẫn, lôi cuốn và rất dễ dẫn đ ến tình tr ạng “sùng ngo ại”
không chỉ ở phương diện văn minh, mà còn ở lĩnh v ực văn hóa, l ối sống,
cách giao tiếp, ứng xử... Nghị quyết Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Một số cơ
quan truyền thông có biểu hiện thương mại hóa, xa rời tôn ch ỉ, mục đích,
chưa làm tốt chức năng định hướng dư luận và xây dựng con người”; “Tình
trạng nhập khẩu, quảng bá, tiếp thu dễ dãi, thiếu chọn lọc sản ph ẩm văn
hóa nước ngoài đã tác động tiêu cực đến đời sống văn hóa của một bộ
9


phận nhân dân, nhất là lớp trẻ”(3). Nếu không nh ận th ức đ ược và không
có định hướng, điều chỉnh sớm, khoa học thì mục tiêu về tính dân tộc, bản
sắc dân tộc khó có thể thực hiện được. Khi đó tình trạng m ờ nhạt tinh
thần dân tộc, thậm chí là quay lưng lại truyền th ống l ịch s ử m ột cách vô
cảm, vô định là không thể tránh khỏi. Quá trình tận dụng cơ hội, tiếp nh ận

thành tựu văn minh, tinh hoa của cách mạng 4.0 để làm giàu tri th ức và
tiến lên phía trước là tất yếu, cần thiết, nhưng luôn phải gi ữ v ững c ốt
cách, tâm hồn, phẩm giá, khí phách con người Việt Nam trong xây d ựng
nền văn hóa dân tộc. Mỗi con người Việt Nam ph ải tự nghiêm kh ắc kh ắc
phục những biểu hiện lệch chuẩn ngay trong bản thân mình, đ ồng th ời
phải tích cực đấu tranh phê phán với những biểu hiện lệch lạc trong c ộng
đồng, xã hội. Quán triệt quan điểm Đại hội XII của Đảng v ề: “Đ ấu tranh
phê phán, đẩy lùi cái xấu, cái ác, thấp hèn, lạc h ậu; chống các quan đi ểm,
hành vi sai trái, tiêu cực ảnh hưởng xấu đến xây dựng nền văn hóa, làm tha
hóa con người. Có giải pháp ngăn chặn và đẩy lùi s ự xuống cấp v ề đ ạo đ ức
xã hội, khắc phục những mặt hạn chế của con người Việt Nam”(4) vào xây
dựng nền văn hóa Việt Nam hiện nay một cách thiết th ực nhất. Dựa vào
định hướng của Đảng về: “Đúc kết và xây dựng hệ giá trị văn hóa và h ệ giá
trị chuẩn mực của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hi ện đ ại
hóa và hội nhập quốc tế”(5) để cụ thể hóa vào từng tổ chức, đơn vị, cơ
quan, địa phương với những chuẩn giá trị mang đặc trưng riêng. Hệ giá tr ị
văn hóa, hệ giá trị chuẩn mực của con người ấy thống nh ất giữa cái chung
của dân tộc với nét đặc thù để nhận biết, xem xét, đánh giá nh ững bi ểu
hiện hợp chuẩn hay không hợp chuẩn một cách thuận l ợi nh ất. M ỗi con
người Việt Nam lấy nó làm tiêu chí, chuẩn mực và điều ch ỉnh suy nghĩ,
hành vi của mình hướng đến mục tiêu: thấm nhuần tinh th ần dân t ộc.
Thống nhất về chuẩn mực giá trị làm tiêu chí đánh giá đ ể tạo d ư lu ận xã
hội có tính đồng thuận trong tôn vinh những tấm g ương sáng và phê phán
những biểu hiện lệch lạc trước tác động của cách mạng 4.0.
Xây dựng nền văn hóa Việt Nam trước tác động của cách mạng 4.0 bắt đ ầu
từ mỗi con người đến toàn xã hội để không cho bất c ứ ai, nh ất là th ế h ệ
trẻ, rơi vào thế giới “ảo”; lối sống “ảo”,... Cách mạng 4.0 rất dễ làm cho con
người bị “thôi miên”, không phân biệt được cái đúng và cái sai; cái t ốt và cái
xấu; cái thực và cái hư; cái dân tộc và cái phi dân tộc tr ước thế gi ới m ới, xa
lạ - thế giới “ảo”. Kết nối mạng, mở rộng giao lưu và giao tiếp ở tất c ả các

10


lĩnh vực, phương diện làm cho con người nh ư lạc vào cõi “mê cung”, khó
làm chủ. Đặc biệt sự xuất hiện những hiện tượng mới lạ, nh ư: đồng tiền
“ảo”; thanh toán “ảo”; kinh doanh “ảo”, lối sống “ảo” càng kích thích th ế h ệ
trẻ khó có thể thoát ra sự u mê, vô định. Một cá nhân thu mình trong phòng
kín, nhưng mở rộng được giao lưu, trao đổi qua mạng làm cho quan h ệ,
ứng xử có tính “thực” trong môi trường văn hóa c ộng đ ồng, xã h ội m ờ nh ạt
dần. Ngôn ngữ giao tiếp, tình cảm cá nhân bộc bạch không bị chi ph ối b ởi
cái “tinh tế”, cái chuẩn mực văn hóa, đạo đức và làm cho tính hiện th ực,
tính tổng hòa các quan hệ xã hội trong bản chất con người, nh ư C. Mác đã
chỉ ra, có nguy cơ phai nhạt nhanh chóng. Cách mạng 4.0 có xu h ướng pha
loãng quan hệ, sự ứng xử văn hóa, đạo đức trong cộng đồng, xã h ội và xa
cách dần với thuần phong mỹ tục của truy ền thống dân tộc. Nhi ều thói
quen trong nhận thức rất dễ bị thay đổi. Nh ững chuẩn mực giá trị văn hóa,
đạo đức được tôn thờ qua nhiều thế hệ cũng có những nguy cơ bị mai m ột.
Con người trong cộng đồng, xã hội dần mất đi nét đẹp trong giao tiếp c ủa
“tình làng, nghĩa xóm” có tính “thực” và thay vào đó là quan h ệ công vi ệc
đơn thuần. Sự giao tiếp rộng, nhưng hạn chế chiều sâu, tầm cao về “tính
hiện thực của bản chất con người” và thay vào đó là quan h ệ “ ảo”.
Những biện pháp bảo vệ văn hóa dân tộc
1- Xây dựng nền văn hóa Việt Nam trước tác động của cách m ạng 4.0 ph ải
hướng đến khắc phục những xu hướng đang làm mờ nhạt tính hiện th ực
của bản chất con người trong tính tổng hòa các quan hệ xã h ội. Tiếp nh ận,
khai thác thông tin từ thành tựu của cách mạng 4.0 có tác d ụng to l ớn cho
phát triển trí tuệ, nhưng phải được cảnh báođể không làm mất đi nền
tảng gốc của bản chất người, bản sắc văn hóa dân tộc. Kết h ợp gi ữa đ ịnh
hướng nhận thức với tổ chức các hoạt động mang ý nghĩa, giá tr ị văn hóa,
đạo đức; phù hợp với thuần phong, mỹ tục một cách sát h ợp đ ể giáo d ục

con người giữ vững phẩm giá, tư chất, bản chất dân tộc Việt Nam. Quán
triệt quan điểm của Đảng trong Nghị quyết Đại hội XII về: “Xây d ựng môi
trường văn hóa, đời sống văn hóa lành mạnh... trong mỗi địa ph ương, trong
từng cộng đồng làng, bản, khu phố, cơ quan, đơn v ị, doanh nghiệp, khu
công nghiệp và mỗi gia đình, góp phần giáo dục, rèn luy ện con ng ười v ề
nhân cách, đạo đức, lối sống”(6) vào khắc phục những xu h ướng có tính
11


“ảo, phi hiện thực” của quan hệ giữa người và người là m ột ph ương di ện
quan trọng của xây dựng nền văn hóa Việt Nam trước tác đ ộng c ủa cách
mạng 4.0.
2- Xây dựng nền văn hóa Việt Nam trước tác động của cách m ạng 4.0 ph ải
được tổ chức thực hiện với tính chất của một phong trào quần chúng sâu
rộng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước. M ỗi con ng ười,
mỗi tổ chức, đơn vị, nhà trường, doanh nghiệp,... phải là một ch ủ th ể tích
cực thấm nhuần tinh thần dân tộc trong xây dựng nền văn hóa dân t ộc
Việt Nam. Sức mạnh trong xây dựng nền văn hóa Việt Nam phải có tính
tổng hợp với sự tương tác có tính đồng thuận, cùng chung một h ướng và
trở thành phong trào quần chúng sâu rộng trên th ực tiễn toàn xã h ội. S ự
lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước là điều kiện, nhân tố quy ết đ ịnh
nhất đến tạo dựng sức mạnh tổng hợp của toàn dân t ộc trong xây d ựng
nền văn hóa Việt Nam. Tiếp tục phát triển, phát huy phong trào: “Toàn dân
đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” lên tầm cao mới. Nh ững thành t ựu đã
đạt được tiếp tục nhân lên và những hạn chế, bất cập cần nghiên c ứu và
đúc kết thành kinh nghiệm bổ ích để đưa vào th ực tiễn phong trào qu ần
chúng sâu, rộng. Quan điểm của Đảng về: Văn hóa là n ền t ảng tinh th ần xã
hội vừa là định hướng, vừa là nội dung cho xây dựng nền văn hóa Vi ệt Nam
trước cách mạng 4.0. Toàn bộ các sáng tạo của con ng ười Vi ệt Nam trên
các lĩnh vực đều phải dựa trên cơ sở và hướng đến làm giàu giá tr ị văn hóa

dân tộc Việt Nam thì văn hóa mới thật sự trở thành nền tảng tinh th ần xã
hội. Kể cả những người Việt Nam sinh sống, học tập, nghiên c ứu ở n ước
ngoài, tham gia ngày càng sâu vào các bước phát triển của cách m ạng 4.0,
nhưng vẫn phải hướng về cội nguồn để luôn mang tầm hồn, cốt cách, khí
phách của con người Việt Nam. Mục đích cũng nh ư động lực cho các sáng
tạo phải xuất phát từ nền tảng và hướng đến mục đích phát tri ển văn hóa
dân tộc Việt Nam.
3- Xây dựng nền văn hóa Việt Nam trước tác động của cách m ạng 4.0 ph ải
gắn với cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận hiện nay. Đấu tranh phê phán
những quan điểm sai trái, phản động hiện nay không chỉ đơn thuần thuộc
lĩnh vực chính trị, mà còn của lĩnh vực văn hóa. Lịch s ử dân tộc, đặc bi ệt t ừ
khi dưới sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng nền văn hóa Việt Nam luôn g ắn
12


liền với cuộc đấu tranh bảo vệ, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Hi ện nay,
các thế lực thù địch lợi dụng thành tựu cách mạng 4.0 cả v ề n ội dung và
sức mạnh truyền thông để lôi kéo con người Việt Nam nói chung, th ế h ệ
trẻ nói riêng quay lưng lại quá khứ, truyền thống; tạo ra sự m ơ hồ trong
hiện tại và thái độ thờ ơ với tương lai dân tộc, đất n ước với các hình th ức
khác nhau. Âm mưu chống phá được giấu khá tinh vi qua nh ững l ời lẽ,
ngôn ngữ “mỹ miều”, như tự do, dân chủ, nhân quyền,... rất khó nh ận th ấy.
Chúng không chỉ trực tiếp xuyên tạc, phủ nhận bản chất cách mạng, khoa
học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đ ường lối, quan
điểm của Đảng, mà còn tung hô, cổ súy cho lối sống ph ương Tây. Xây d ựng
nền văn hóa Việt Nam trước tác động của cách mạng 4.0 tập trung vào
nâng cao chất lượng định hướng; hiệu quả quản lý mạng xã hội và c ủng cố
thái độ kiên quyết, nâng tầm trình độ đấu tranh, phê phán của mỗi ch ủ
thể, con người hiện nay. Xây dựng nền văn hóa Việt Nam phải lôi cuốn, t ập
hợp toàn bộ con người Việt Nam cả trong nước và ngoài n ước cùng tham

gia hoạt động chung một mục đích phát triển đất n ước, gi ữ v ững b ản s ắc
văn hóa dân tộc. Có chương trình giáo dục cơ bản nâng tầm cao trí tuệ, t ư
duy cho mỗi thế hệ để thực hiện chiến lược lâu dài tạo nguồn nhân lực có
chất lượng cao làm chủ cách mạng 4.0 và đấu tranh, phê phán nh ững quan
điểm sai trái trong chính trị, văn hóa.
4- Xây dựng nền văn hóa Việt Nam trước tác động c ủa cách m ạng 4.0 còn
bắt đầu từ phát triển kinh tế, giữ vững ổn định chính trị, an ninh, tr ật t ự
xã hội. Văn hóa dân tộc bao giờ cũng là cái ph ản ánh, n ảy sinh trên c ơ s ở
kinh tế, nền tảng chính trị, đặc biệt trước tác động trực tiếp của cách
mạng 4.0 đến cơ cấu kinh tế nói chung và các công ngh ệ trong các dây
chuyền sản xuất nói riêng. Tác động ấy luôn tiềm ẩn xu thế “tụt h ậu” v ề
kinh tế. Những công nghệ sản xuất có tính chất quy trình l ặp đi l ặp l ại sẽ
nhanh chóng được thay thế bởi tự động hóa. Xu hướng ấy đ ối v ới n ước ta
là các ngành may mặc, ngành điện tử,... có nguy c ơ trực ti ếp. So v ới các
ngành, nghề khác, các ngành này đang chiếm tỷ trọng khá l ớn, t ập trung
nhiều nhân lực hơn cả. Nếu không có tầm nhìn sớm, nhìn xa thì sẽ có nguy
cơ hàng loạt người lao động phải ra khỏi dây chuy ền sản xu ất, không có
việc làm và hậu quả của nó là rất lớn không chỉ về kinh tế, mà còn v ề
chính trị, văn hóa.

13


Xây dựng nền văn hóa Việt Nam trước tác động của cách mạng 4.0 trong
chiến lược tổng thể của phát triển kinh tế, chính trị, xã h ội. Nh ững d ấu
hiệu có tính cảnh báo trước về lao động yếu thế, dôi dư, th ừa lao động
cần được xem xét cả dưới góc độ xây dựng nền văn hóa Việt Nam. Xây
dựng nền văn hóa Việt Nam trước tác động của cách mạng 4.0 ở n ước ta
hiện nay cần chủ động sớm và từ gốc là giải quyết việc làm cho người lao
động. Giải quyết việc làm không đơn thuần là vấn đề kinh tế, mà còn là

văn hóa, như C. Mác đã chỉ rõ: văn hóa là xã h ội hóa lao đ ộng. Văn hóa là
những người trong độ tuổi lao động phải được lao động.
5- Xây dựng nền văn hóa Việt Nam trước tác động của cách m ạng 4.0 trong
quan hệ với thực hiện chiến lược phát triển con người của Đ ảng và g ắn
với chất lượng giáo dục và đào tạo. Con người vừa là sản phẩm, v ừa là ch ủ
thể của môi trường xã hội. Trước tác động của cách mạng 4.0 thì vấn đ ề
chất lượng con người là rất quan trọng. Con người trong xây d ựng n ền văn
hóa Việt Nam trước tác động của cách mạng 4.0 phải toàn di ện c ả v ề
phẩm chất, đạo đức, lối sống, tinh thần dân tộc và năng lực làm ch ủ khoa
học và công nghệ hiện đại. Con người ấy chỉ có đ ược thông qua giáo d ục
và đào tạo tương thích với trình độ quốc tế trong bối c ảnh toàn c ầu hóa
sâu rộng hiện nay.
Vận dụng quan điểm của Đảng về giáo dục và đào tạo là qu ốc sách hàng
đầu vào thực tiễn nâng cao chất lượng con người Việt Nam, đáp ứng nhu
cầu phát triển đất nước và hội nhập quốc tế. Tư tưởng chỉ đạo v ề: “Phát
triển giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân l ực, bồi
dưỡng nhân tài”(7) phải được cụ thể hóa vào từng khâu, t ừng bước phù
hợp. Cần xác định rõ tỷ lệ phần trăm các môn Khoa học xã hội và nhân văn
nói chung, môn lịch sử nói riêng trong tổng th ể ch ương trình, n ội dung
xứng đáng với vị trí, tầm quan trọng trong các cấp giáo dục, đ ặc bi ệt là b ậc
phổ thông. Chất lượng, hiệu quả của giáo dục và đào tạo sẽ t ạo d ựng các
thế hệ con người có chất lượng cao theo tiêu chí, yêu c ầu c ủa phát tri ển
nói chung và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tr ước tác động c ủa cách
mạng 4.0 nói riêng./.
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) đang di ễn ra
mạnh mẽ trên toàn thế giới, tác động sâu rộng đến tất cả các lĩnh
14


vực kinh tế - xã hội nước ta, nhất là tạo sự thay đổi khá l ớn trong s ản

xuất công nghiệp.
Trước bối cảnh đó, chúng ta cần nhận thức rõ, có cái nhìn tổng th ể v ề xu
thế của CMCN 4.0, đánh giá tác động của nó đến đ ời sống kinh tế - xã h ội
cũng như từng tổ chức, doanh nghiệp, từ đó có giải pháp đón đ ầu thích
hợp. CMCN 4.0 đang xóa nhòa khoảng cách giữa th ế gi ới th ực v ới th ế gi ới
ảo thông qua những công nghệ tiên tiến, đổi mới, sáng tạo không ng ừng.
Mức độ ảnh hưởng, lan tỏa của CMCN 4.0 diễn ra trên quy mô toàn c ầu,
với tốc độ nhanh hơn những gì đã xảy ra từ trước đến nay và d ự báo sẽ
làm thay đổi toàn bộ hệ thống sản xuất, quản lý và quản tr ị. CMCN 4.0 d ựa
trên nền tảng công nghệ số và tích hợp tất cả các công ngh ệ thông minh
để tối ưu hóa quy trình, phương thức sản xuất với những công nghệ đang
và sẽ có tác động lớn như in 3D, sinh học, vật liệu m ới, t ự động hóa, rôbốt…
Theo Bộ Công thương, Việt Nam đang ở giai đoạn đầu của CMCN 4.0, v ới
nội dung cơ bản là tạo ra cấu trúc và sự vận hành m ới cho n ền s ản xu ất
dựa trên ứng dụng công nghệ cao, mạng lưới vạn vật kết nối in-t ơ-nét
(IoT), trí tuệ nhân tạo… CMCN 4.0 đang trong giai đoạn kh ởi phát, là c ơ h ội
quý báu mà Việt Nam cần nhanh chóng đón bắt đ ể tranh th ủ đ ẩy nhanh
tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa sớm đạt mục tiêu tr ở thành n ước
công nghiệp theo hướng hiện đại. Tuy nhiên, nếu không đ ịnh h ướng rõ
mục tiêu, cách thức tiếp cận và tham gia thông qua chuyển d ịch c ơ cấu
kinh tế, đổi mới giáo dục, phát triển khoa h ọc và công ngh ệ phù h ợp thì
sức ép đặt ra cho Việt Nam là rất lớn. Đại diện Ch ương trình Phát tri ển
của Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam chia sẻ, CMCN 4.0 đang t ạo ra
thay đổi lớn trong hệ thống toàn cầu, nhưng với các quốc gia đang phát
triển, đây là thách thức về khả năng cạnh tranh. Sự gia tăng bất bình đẳng
giữa các quốc gia và trong từng quốc gia. Do đó, h ướng t ới năng su ất cao
hơn và khả năng phục hồi của xã hội là một trong nh ững b ước đi h ữu ích
và nhanh nhất để thu hẹp khoảng cách kiến th ức về các nút th ắt mà các
ngành và doanh nghiệp của Việt Nam phải đối mặt nhằm tăng kh ả năng
cạnh tranh.

Theo Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin (Bộ Công th ương),
làn sóng công nghiệp 4.0 sẽ đi cùng mô hình “Kinh tế chia sẻ” - mô hình th ị
trường kết hợp sở hữu và chia sẻ quyền sử dụng hàng hóa và dịch v ụ
15


nhằm gia tăng lợi ích cho các bên tham gia. Đây đ ược coi là mô hình kinh
doanh mới, điển hình cho CMCN 4.0 đang diễn ra. T ại Vi ệt Nam, đ ến th ời
điểm này, kinh tế chia sẻ chưa thật sự phát triển, mặc dù việc cho thuê
những tài sản ít sử dụng đã và đang tồn tại. Trong bối cảnh CMCN 4.0 đang
diễn ra ngày càng mạnh mẽ, việc hoàn thiện chính sách đi ều ch ỉnh nh ững
mô hình kinh doanh mới như nêu trên vẫn là m ột thách th ức l ớn đ ối v ới
các nhà hoạch định chính sách.
Trong CMCN 4.0, chỉ cần có cách tiếp cận độc đáo, khác biệt và kh ả thi,
Việt Nam sẽ tận dụng được các cơ hội để bứt phá phát triển. CMCN 4.0
gắn chặt với năng lực trí tuệ; của cải do trí tuệ sáng tạo chi ếm tỷ lệ ngày
càng lớn trong tổng GDP. Như vậy, thách thức ở đây là nếu muốn ứng dụng
được công nghệ 4.0, đòi hỏi người lao động phải có trí tuệ thì m ới tham
gia vào quá trình sản xuất. Một số chuyên gia kinh tế cho rằng, Vi ệt Nam
cần xây dựng chiến lược số chuyển đổi phù hợp, có chính sách qu ản tr ị
thông minh với việc có thể chế hiện đại, chính quyền hiệu quả, công khai,
minh bạch; xây dựng hạ tầng kết nối số và an ninh mạng, tạo nguồn nhân
lực số, xây dựng công nghiệp công nghệ số, nông nghiệp thông minh, du
lịch thông minh, đô thị thông minh, hệ sinh thái đổi m ới sáng t ạo và kh ởi
nghiệp...
Nghị quyết phiên họp Chính phủ gần đây cũng đã khẳng định, Việt Nam
cần chủ động có định hướng, có giải pháp thiết thực để n ắm bắt c ơ h ội,
làm giảm các tác động tiêu cực của CMCN 4.0, trước hết là có b ước đ ột phá
về công nghệ thông tin. Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã chỉ
đạo các bộ trưởng, lãnh đạo các ngành cần nhận thức rõ về CMCN 4.0, tập

trung hơn, tránh tình trạng chỗ nào cũng nói CMCN 4.0 nh ưng h ỏi làm gì
cho chính bộ mình, ngành mình thì không ai hiểu.

16



×