Tải bản đầy đủ (.pdf) (93 trang)

Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tại trường tiểu học đào phú lộc thành phố móng cái, tỉnh quảng ninh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.32 MB, 93 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2

NGUYỄN THỊ NGUYỆT

QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH
TẠI TRƢỜNG TIỂU HỌC ĐÀO PHÚC LỘC
THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

HÀ NỘI, 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2

NGUYỄN THỊ NGUYỆT

QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH
TẠI TRƢỜNG TIỂU HỌC ĐÀO PHÚC LỘC
THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH

ĐỀ CƢƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 01 14

Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. TRẦN KIỂM

HÀ NỘI, 2017




LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên: NGUYỄN THỊ NGUYỆT, học viên cao học, chuyên ngành Quản
lý giáo dục tại Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2
Tôi xin cam đoan trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành
luận văn này dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Trần Kiểm thì kết quả
nghiên cứu đạt được trong luận văn là do chính bản thân tôi thực hiện và chưa
có ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Người cam đoan

Nguyễn Thị Nguyệt


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Viết đầy đủ

Viết tắt

Kỹ năng sống

KNS

Tổ chức y tế thế giới

WHO

Tổ chức văn hoá, khoa học và giáo dục

UNESCO


Quỹ nhi đồng liên hợp quốc

UNICEF


MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG
CHO HỌC SINH TIỂU HỌC ..................................................................................... 6
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu ................................................................................. 6
1.2. Một số vấn đề lý luận về giáo dục tiểu học ............................................................. 9
1.2.2. Trường Tiểu học trong hệ thống giáo dục quốc dân ...................................... 11
1.2.3. Đặc điểm học sinh tiểu học ............................................................................ 12
1.3. Một số vấn đề lý luận về giáo dục kỹ năng sống .................................................. 15
1.3.1. Khái niệm về kỹ năng sống ............................................................................ 15
1.3.2. Nội dung kỹ năng sống cần giáo dục ở trường tiểu học ................................. 16
1.4. Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học .......................................... 24
1.4.1. Khái niệm quản lý giáo dục ............................................................................ 24
1.4.2. Các yêu cầu quản lý giáo dục kỹ năng sống................................................... 25
1.4.3. Chức năng, nhiệm vụ của Hiệu trưởng nhà trường trong quản lý kỹ năng sống
cho học sinh .............................................................................................................. 26
1.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu
học .................................................................................................................. 31
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC
SINH TẠI TRƢỜNG TIỂU HỌC ĐÀO PHÚC LỘC THÀNH PHỐ MÓNG CÁI,
TỈNH QUẢNG NINH ................................................................................................. 34
2.1. Khái quát về trường tiểu học Đào Phúc Lộc thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng
Ninh .............................................................................................................................. 34
2.2. Thực trạng kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ........................ 36

2.2.1. Thực trạng kỹ năng sống của học sinh ........................................................... 36
2.2.2. Thực trạng giáo dục kỹ năng sống tại Trường ............................................... 39
2.2.3. Nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học .............................. 41
2.3. Thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ...................................... 43
2.3.1. Thực trạng xây dựng kế hoạch giáo dục và quản lý giáo dục kỹ năng sống cho
học sinh ..................................................................................................................... 43
2.3.2. Thực trạng tổ chức các lực lượng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ........ 43
2.3.3. Thực trạng chỉ đạo giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ............................... 44
2.3.4. Thực trạng kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động kỹ năng sống cho học sinh45
2.4. Thực trạng các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học
sinh................................................................................................................................ 46


Chƣơng 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC
SINH TẠI TRƢỜNG TIỂU HỌC ĐÀO PHÚC LỘC THÀNH PHỐ MÓNG CÁI,
TỈNH QUẢNG NINH ................................................................................................. 50
3.1. Nguyên tắc đề xuất biện pháp ............................................................................... 50
3.1.1. Đảm bảo tính mục đích ................................................................................ 50
3.1.2. Đảm bảo tính đồng bộ ................................................................................... 50
3.1.3. Đảm bảo tính khả thi và hiệu quả ................................................................ 50
3.1.4. Đảm bảo tính kế thừa và phát triển .............................................................. 51
3.2. Biện pháp cụ thể .................................................................................................... 51
3.2.1. Nâng cao nhận thức của các lực lượng giáo dục về vị trí, vai trò kỹ năng sống
và nội dung, phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học. ............... 51
3.2.2. Xây dựng kế hoạch chung của Trường và các khối lớp về giáo dục kỹ năng
sống cho học sinh ..................................................................................................... 56
3.2.3. Xây dựng, phát triển đội ngũ giáo viên có năng lực giáo dục kỹ năng sống
cho học sinh.............................................................................................................. 59
3.2.4. Tổ chức các lực lượng, kết hợp nhà trường, gia đình, xã hội trong việc giáo
dục kỹ năng sống cho học sinh ................................................................................. 61

3.2.5. Thường xuyên kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục kỹ năng sống cho học
sinh .............................................................................................................. 63
3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp ............................................................................ 66
3.4. Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý giáo dục kỹ
năng sống ...................................................................................................................... 67
3.4.1. Các bước tiến hành khảo nghiệm ................................................................... 67
3.4.2. Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp quản lý hoạt
động GD KNS .......................................................................................................... 68
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ............................................................................ 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................... 76
PHỤ LỤC ................................................................................................................... 78


LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, Đảng, Nhà nước và
nhân dân ta luôn tập trung mọi nguồn cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực
hiện sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, giữ gìn và phát huy các
giá trị độc lập dân tộc, có năng lực xã hội để thực hiện mục tiêu xây dựng những
con người Việt Nam với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo
đức trong sáng, có ý chí kiên lực tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, phát huy
được tiền năm của dân tộc, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá
nhân để làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có
kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tổ chức kỷ luật, có sức
khỏe, kiên định với chủ nghĩa xã hội.
Học sinh tiểu học ở trường tiểu học là lớp thiếu niên đang trong giai đoạn
hình thành nhân cách, bộc lộ về tính cách, các em có xu hướng thích tìm hiểu
xung quanh, thích tham gia các hoạt động tập thể. Trong bối cảnh xã hội phức
tạp hiện nay, mặt trái của nền kinh tế thị trường với những tác động tiêu cực của
nó đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến tàng lớp thiếu niên.

Thành phố Móng Cái là một trong những trụ cột kinh tế của tỉnh Quảng
Ninh, là trung tâm kinh tế mậu dịch biên giới, cửa ngõ giao thương quốc tế giữa
Việt Nam nói riêng và các nước ở khu vực Đông Nam Á nói chung với Trung
Quốc, bên cạnh những tích cực về một nền kinh tế năng động, môi trường văn
hóa văn minh, xã hội phát triển tạo thuận lợi cho việc học tập và sinh hoạt của
học sinh, thì những tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường, những ảnh
hưởng của phim ảnh bạo lực, của tệ nạn xã hội, mạng xã hội ít nhiều đang tấn
công vào gia đình và trường học của các học sinh. Nó làm cho một số học sinh
chưa nhận thức được đúng hướng đi của mình, dễ làm lệch lạc nhân cách của
các em. Thành phố Móng Cái là nơi giao thương, tập trung nhiều đầu mối kinh
tế, văn hóa, giao thông của các địa phương của tỉnh Quảng Ninh, của Việt Nam
với Trung Quốc cũng chịu nhiều ảnh hưởng văn hóa của giới trẻ.
1


Muốn thành công và sống có chất lượng trong xã hội hiện đại ngày nay,
con người phải có kỹ năng sống (KNS). KNS vừa mang tính xã hội, vừa mang
tính cá nhân. Giáo dục KNS trở thành mục tiêu và là một nhiệm vụ trong giáo
dục nhân cách toàn diện.
Nội dung giáo dục KNS đã được nhiều quốc gia trên thế giới đưa vào giáo
dục cho học sinh trong các trường phổ thông, dưới nhiều hình thức khác nhau.
Chương trình hành động Dakar về giáo dục cho mọi người (Senegal – 2000) đã
đặt ra trách nhiệm cho mỗi quốc gia phải đảm bảo cho người học tiếp cận với
chương trình giáo dục KNS phù hợp và KNS cần được coi như một nội dung
của chất lượng giáo dục.
Ở Việt Nam, để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp
ứng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và nhu cầu phát triển của người học, giáo dục
phổ thông đã và đang được đổi mới mạnh mẽ theo bốn trụ cột của giáo dục thế
kỷ XXI, mà thực chất là cách tiếp cận KNS, đó là: Học để biết, học để làm, học

để tự khẳng định mình và học để cùng chung sống. Mục tiêu giáo dục phổ thông
đã và đang chuyển hướng từ chủ yếu là trang bị kiến thức sang trang bị những
năng lực cần thiết cho các em học sinh. Phương pháp giáo dục phổ thông cũng
đã và đang đổi mới theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng
tạo của người học, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, tăng cường khả năng
làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác
động đến tình cảm, đam lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh. Nội dung
giáo dục KNS đã được tích hợp trong một số môn học và hoạt động giáo dục
cho tiềm năng trong trường phổ thông; việc giáo dục KNS cho học sinh phổ
thông còn được thực hiện thông quan nhiều chương trình, dự án như: giáo dục
bảo vệ môi trường, giáo dục phòng chống HIV/AIDS, giáo dục phòng chống ma
túy, giáo dục phòng tránh tai nạn thương tích…
Thực tế cho thấy tuy nhà trường đã có nhiều cố gắng, song vấn đề giáo
dục nhân cách nói chung, trong đó có giáo dục kỹ năng sống cho học sinh còn
nhiều bất cập. Do đó, tác giả chọn nghiên cứu đề tài “Quản lý giáo dục kỹ năng
2


sống cho học sinh tại trường tiểu học Đào Phúc Lộc thành phố Móng Cái,
tỉnh Quảng Ninh” làm luận văn cao học của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn đề xuất biện pháp quản lý giáo
dục KNS cho học sinh tại trường tiểu học Đào Phúc Lộc thành phố Móng Cái,
tỉnh Quảng Ninh.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quản lý giáo dục KNS cho học sinh tiểu học.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý giáo dục KNS cho học sinh tại trường tiểu học Đào
Phúc Lộc thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.

4. Giải thuyết khoa học
Quản lý giáo dục KNS cho học sinh tại trường tiểu học Đào Phúc Lộc
thành phố Móng Cái hiện nay đã có đổi mới và thu được một số kết quả đáng
khích lệ, tuy nhiên vẫn còn những hạn chế nhất định. Nếu được đề xuất các biện
pháp quản lý giáo dục KNS phù hợp với thực trạng hiện nay thì sẽ góp phần
nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục cho học sinh nói chung.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học
sinh tại trường tiêu học.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng giáo dục KNS và thực trạng quản lý hoạt
động giáo dục KNS cho học sinh tại trường tiểu học Đào Phúc Lộc thành phố
Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.
- Đề xuất và khảo nghiệm biện pháp quản lý giáo dục KNS cho học sinh
trường tiểu học Đào Phúc Lộc thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6.1. Giới hạn về chủ thể quản lý
Đề tài nghiên cứu các biện pháp quản lý dành cho Hiệu trưởng

3


6.2. Giới hạn về nội dung nghiên cứu
Kỹ năng sống là lĩnh vực rất rộng. Vì thời gian và khả năng hạn chế, đề
tài chỉ nghiên cứu quản lý giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh trường tiểu
học Đào Phúc Lộc thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.
6.3. Giới hạn thời gian khảo sát
Trong đề tài này tác giả chỉ nghiên cứu để đề xuất các biện pháp quản lý
giáo dục KNS cho học sinh trường tiểu học Đào Phúc Lộc thành phố Móng Cái,
tỉnh Quảng Ninh thông qua những kết quả giáo dục của Trường trong các năm
học từ 2011 – 2012 đến 2015 – 2016.

7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Các phương pháp nghiên cứu lý luận
Bằng việc nghiên cứu đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước phát
triển giáo dục nói chung và phát triển giáo dục tiểu học nói riêng trong giai đoạn
hiện nay; các công trình khoa học về giáo dục, giáo dục KNS cho học sinh, các
công trình khoa học về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý trường học, quản lý
giáo dục KNS cho học sinh; phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ
thống hóa, khái quát hóa được sử dụng với mục đích xác định cơ sở lý luận về
hoạt động quản lý giáo dục KNS cho học sinh ở nhà trường.
7.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp điều tra bằng phiếu khảo sát
Đây là một phương pháp rất hiệu quả nhằm nắm rõ những nhìn nhận về
công tác quản lý hoạt động giáo dục KNS của Phòng Giáo dục và Đào tạo, Ban
Giám hiệu, Tổng phụ trách Đội, một số giáo viên và đại diện cha mẹ học sinh
các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Móng Cái để từ đó có những điều
chỉnh sát thực, kịp thời trong luận văn.
7.2.2. Phương pháp phỏng vấn
Phương pháp này được sử dụng để thu thập thêm thông tin về thực trạng
công tác quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh của lãnh đạo, chuyên
viên Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố, Hiệu trưởng các trường tiểu học
thành phố Móng Cái.
4


7.2.3. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Bằng phương pháp xin ý kiến chuyên gia, trao đổi, thu nhập các số liệu
thực tiễn; các phương pháp này được sử dụng với mục đích đánh giá thực trạng
KNS và thực trạng quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh của Hiệu
trưởng các trường tiểu học tại thành phố Móng Cái; đồng thời xem xét mức độ
cần thiết và khả thi của các biện pháp mà tác giả sẽ đề xuất trong luận văn.

7.2.4. Phương pháp thông kê toán học trong quản lý giáo dục
Bằng việc sử dụng phương pháp thống kê toán học, một số phần mềm tin
học, các phương phương pháp này nhằm xử lý các số liệu đã điều tra và ý kiến
chuyên gia trong luận văn.
8. Cấu trúc luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục và kỹ năng sống cho học
sinh tiểu học
Chương 2: Thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tại
trường tiểu học Đào Phúc Lộc, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.
Chương 3: Biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tại
trường Tiểu học Đào Phúc Lộc, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.

5


Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO
HỌC SINH TIỂU HỌC
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Trên thế giới
Kỹ năng sống và vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho con người đã xuất
hiện và được nhiều người quan tâm từ xa xưa nhờ học ăn, học nói, học gói, học
mở, học dăm ba chữ để làm người, học để đối nhân xử thế, học để đối phó với
thiên nhiên. Đó là những kỹ năng đơn giản nhất mang tính chất kinh nghiệm,
phù hợp với đời sống và giai cấp của xã hội ở những thời điểm khác nhau.
Nghiên cứu kỹ năng ở mức độ khái quát, đại diện cho hướng nghiên cứu này có
P.Ia.Galperin, V.A.Crutexki, P.V.Petropxki,…P.Ia.Galperin trong các công trình
nghiên cứu của mình chủ yếu đi sâu vào vấn đề hình thành tri thức và kỹ năng
theo lý thuyết hình thành hành động trí tuệ theo giai đoạn. Nghiên cứu kỹ năng ở

mức độ cụ thể, các nhà nghiên cứu kỹ năng ở các lĩnh vực hoạt động khác nhau
như kỹ năng lao động gắn với những tên tuổi các nhà tâm lý - giáo dục
V.V.Tseburseva, Trần Trọng Thuỷ, kỹ năng học tập gắn với G.X.Cochiuc,
N.A.Menchinxcaia, Hà Thị Đức, Kỹ năng hoạt động sư phạm gắn với tên tuổi
X.I.Kixegops, Nguyễn Như An, Nguyễn Văn Hộ.
Kỹ năng sống có chủ yếu trong các chƣơng trình hành động của
UNESCO (Tổ chức văn hoá, khoa học và giáo dục của Liên hợp quốc), WHO
(Tổ chức y tế thế giới), UNICEF (Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc) cũng như
trong các chương trình hành động của các tổ chức xã hội trong và ngoài
nước…ở hướng nghiên cứu này, các tác giả chủ yếu xây dựng hệ thống các kỹ
năng của từng loại hoạt động, mô tả chân dung các kỹ năng cụ thể và các điều
kiện, quy trình hình thành và phát triển hệ thống các kỹ năng đó … Trong
chương trình này chỉ giới thiệu những kỹ năng cơ bản như: Kỹ năng nhận thức,
kỹ năng giao tiếp, Kỹ năng xác định giá trị và kỹ năng ra quyết định.
Giáo dục KNS ở Lào được bắt đầu quan tâm từ năm 1997 với cách tiếp
cận nội dung quan tâm đến giáo dục cách phòng chống HIV/AIDS được tích
6


hợp trong chương trình giáo dục chính quy. Năm 2001 giáo dục KNS ở Lào
được mở rộng sang các lĩnh vực như giáo dục dân số, giới tính, sức khoẻ sinh
sản, vệ sinh cá nhân, giáo dục môi trường vv..
Giáo dục KNS ở Campuchia được xem xét dưới góc độ năng lực sống của
con người, kỹ năng làm việc vì vậy giáo dục KNS được triển khai theo hướng là
giáo dục các kỹ năng cơ bản cho con người trong cuộc sống hàng ngày và kỹ
năng nghề nghiệp.
Giáo dục KNS ở Malaysia được xem xét và nghiên cứu dưới 3 góc độ:
Các kỹ năng thao tác bằng tay, kỹ năng thương mại và đấu thầu, kỹ năng sống
trong đời sống gia đình.
Ở Bangladesh: Giáo dục KNS được khai thác dưới góc độ các kỹ năng

hoạt động xã hội, kỹ năng phát triển, kỹ năng chuẩn bị cho tương lai.
Ở Ấn Độ: Giáo dục KNS cho học sinh được xem xét dưới góc độ giúp cho
con người sống một cách lành mạnh về thể chất và tinh thần, nhằm phát triển
năng lực người. Các KNS được khai thác giáo dục là các kỹ năng: Giải quyết
vấn đề, tư duy phê phán, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng quan
hệ liên nhân cách vv…
Khái niệm “Kỹ năng sống” thực sự được hiểu với nội hàm đa dạng sau
hội thảo “Chất lượng giáo dục và kỹ năng sống” do UNICEF, Viện chiến lược
và chương trình giáo dục tổ chức từ ngày 23-25 tháng 10 năm 2003 tại Hà
Nội. Từ đó người làm công tác giáo dục ở Việt Nam đã hiểu đầy đủ hơn về kỹ
năng sống.
1.1.2.Trong nước
Ngay từ những năm 60 của thế kỷ 20, tổ chức UNESCO đã vạch rõ ba
thành tố của học vấn, đó là : kiến thức, kỹ năng và thái độ, trong đó thái độ và
kỹ năng đóng vai trò then chốt [36]. Chính thái độ tích cực, năng động, dấn
thân,... và những kỹ năng cần thiết trong học tập và làm việc, trong quan hệ giao
tiếp, trong xử trí, ứng phó trước những đòi hỏi, thử thách của cuộc sống đã chủ
yếu giúp cho người học tự tin để vững bước tới một tương lai có định hướng.
Riêng về giáo dục kỹ năng sống tuy chỉ mới xuất hiện từ những năm 1990 của
7


thế kỷ trước song đã nhanh chóng lan rộng ra khắp thế giới. Và có nơi, giáo dục
kỹ năng sống không chỉ là một sinh hoạt ngoại khóa mà còn là một môn học
chính qui ở nhà trường.
Ở Việt Nam, dù giáo dục kỹ năng sống được du nhập vào ngay sau đó
nhưng triết lý và phương pháp giáo dục kỹ năng sống ít nhiều hãy còn lạ lẫm đối
với xã hội ta nên chưa được sự quan tâm đúng mức [21, tr.2]. Hơn nữa, giáo dục
tại Việt Nam nhìn chung còn kém phát triển. Ngoại trừ một số rất ít các trung
tâm giáo dục phi chính quy như Trung tâm ABS Training, Trung tâm dạy nghề

GDVT Swisscontact, Công ty Tâm Việt ở Hà Nội, Công ty bảo hiểm nhân thọ
Dai-ichi Việt Nam phối hợp với Báo Người lao động, Trung tâm học tập cộng
đồng ở một số địa phương... hay một số trường giáo dục trẻ khuyết tật, một số ít
trường tiểu học trọng điểm ở Hà Nội,... có các chương trình giáo dục kỹ năng
sống. Còn lại, các trường phổ thông nhất là các trường từ bậc tiểu học trở lên
chưa quan tâm nhiều cũng như chưa tạo ra được môi trường học tập trang bị đầy
đủ kỹ năng sống cho thanh thiếu niên học sinh. Cho nên giới trẻ Việt Nam nhìn
chung còn kém so với thanh thiếu niên tại các nước phát triển. Trong khi đó, bản
lĩnh sống của thanh thiếu niên trong xã hội ngày càng chuyên môn hoá cao như
xã hội Việt Nam hiện nay không thể thiếu được và cần phải được nâng cao hơn
ở hai mảng kỹ năng đó là kỹ năng chuyên môn và kỹ năng mềm mà có thể gọi
chung là những kỹ năng cuộc sống [35].
Kể từ năm học 2008-2009, Bộ GD-ĐT nước ta đã phát động trong các
trường phổ thông trên toàn quốc phong trào "Xây dựng trường học thân thiện,
học sinh tích cực" nhằm mang lại cho học sinh cả nước một "môi trường giáo
dục an toàn thân thiện, hiệu quả, phù hợp điều kiện địa phương và đáp ứng nhu
cầu xã hội". Hưởng ứng phong trào này, Trung tâm Giáo dục môi trường và các
vấn đề xã hội đã phối hợp với Ban dự án Phát triển giáo dục THPT nhanh chóng
xây dựng kế hoạch tổ chức hoạt động nhằm hỗ trợ triển khai đến cơ sở một số
nội dung thiết thực. Một trong những hoạt động đó là chương trình Tập huấn
giáo dục kỹ năng sống và bình đẳng giới tổ chức tại Hà Nội vào 5 ngày đầu
tháng 10/2008 cho các giáo viên cốt cán một số trường THPT của 11 tỉnh phía
8


Bắc tham gia. (Trong thời gian tới, nội dung hoạt động trên sẽ được Trung tâm
triển khai tiếp tục cho các tỉnh)
Từ năm học 2002-2003 ở Việt Nam đã thực hiện đổi mới giáo dục phổ
thông (Tiểu học và Trung học cơ sở) trong cả nước. Trong chương trình Tiểu
học đổi mới đã hướng đến giáo dục kỹ năng sống thông qua lồng ghép một số

môn học có tiềm năng như: Giáo dục đạo đức, Tự nhiên-Xã hội (ở lớp 1-3) và
môn Khoa học (ở lớp 4-5). Kỹ năng sống được giáo dục thông qua một số chủ
đề: “Con người và sức khoẻ”. Đề tài cấp bộ Ts. Nguyễn Thanh Bình nghiên cứu
về thực trạng kỹ năng sống cho học sinh và đề xuất một số giải pháp về giáo dục
kỹ năng sống cho học sinh.
Nhìn chung giáo dục KNS cho con người nói chung, cho học sinh nói
riêng đã được các nước trên thế giới và Việt Nam quan tâm khai thác, nghiên
cứu dưới các góc độ khác nhau, nhưng với vấn đề giáo dục KNS cho học sinh ở
các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh thì chưa
có đề tài nào nghiên cứu vì vậy tôi chọn đề tài này để nghiên cứu.
1.2. Một số vấn đề lý luận về giáo dục tiểu học
1.2.1. Khái niệm về giáo dục
Trong lao động và trong cuộc sống hàng ngày, con người tích luỹ được
kinh nghiệm sống, kinh nghiệm lao động, từ đó nảy sinh nhu cầu truyền đạt
những hiểu biết cho nhau.Nhu cầu đó là nguồn gốc phát sinh của hiện tượng
giáo dục. Giáo dục là cơ hội giúp cho mỗi cá nhân phát triển toàn diện, cơ hội
để hoàn thiện bản thân.Ban đầu giáo dục diễn ra một cách tự phát theo lối
quan sát bắt chước, về sau giáo dục diễn ra một cách tự giác, có kế hoạch, có
tổ chức theo mục đích định trước và trở thành một hoạt động có ý thức. Ngày
nay, giáo dục trở thành hoạt động đặc biệt, đạt tới trình độ cao về tổ chức, nội
dung, phương pháp và trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng
của xã hội loài người.
Có thể xem xét giáo dục theo các khía cạnh sau:
+ Về bản chất: giáo dục là quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm
lịch sử - xã hội của các thế hệ. Thế hệ trước truyền đạt các kinh nghiệm lịch sử 9


xã hội cho thế hệ sau và thế hệ sau lĩnh hội các kinh nghiệm đó để tham gia vào
đời sống xã hội, lao động sản xuất và các hoạt động khác. Sự truyền đạt và lĩnh
hội các kinh nghiệm đã được tích luỹ trong quá trình lịch sử phát triển của xã

hội loài người là nét đặc trưng cơ bản của giáo dục với tư cách là một hiện tượng
xã hội.
Muốn duy trì xã hội tiến bộ, thế hệ sau phải lĩnh hội tất cả những kinh
nghiệm lịch sử - xã hội mà thế hệ trước đã tích luỹ và truyền đạt đồng thời làm
phong phú thêm các kinh nghiệm đó.
+ Về hoạt động: giáo dục là quá trình tác động đến các đối tượng giáo dục
để hình thành cho họ những phẩm chất và năng lực cần thiết.
+ Về phạm vi: giáo dục bao hàm nhiều cấp độ:
- Ở cấp độ rộng nhất: giáo dục là quá trình hình thành nhân cách dưới ảnh
hưởng của các yếu tố chủ quan và khách quan, có ý thức và không ý thức. Đó là
quá trình xã hội hoá con người.
- Ở cấp độ thứ hai: giáo dục là hoạt động có mục đích của xã hội với
nhiều lực lượng giáo dục tác động có kế hoạch, có hệ thống tới con người nhằm
hình thành nhân cách. Đó là giáo dục xã hội.
- Ở cấp độ thứ ba: giáo dục là quá trình tác động có kế hoạch, có phương
pháp của các nhà sư phạm trong nhà trường tới học sinh, sinh viên (HSSV)
nhằm giúp họ nhận thức, phát triển trí tuệ và hình thành phẩm chất nhân cách. Ở
cấp độ này, giáo dục bao gồm quá trình dạy học và giáo dục theo nghĩa hẹp.
Ngày nay, cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, người ta hiểu giáo dục là
cho tất cả mọi người được thực hiện ở bất cứ không gian và thời gian nào thích
hợp với từng loại đối tượng, bằng các phương tiện dạy học khác nhau, với các
kiểu học tập đa dạng và linh hoạt, thích ứng với mọi biến đổi.
- Ở cấp độ thứ 4, giáo dục là quá trình hình thành phẩm chất đạo đức cho
học sinh thông qua việc tổ chức cuộc sống và hoạt động của học sinh. Giáo dục
trong phạm vi này được thực hiện trong phạm vi nhà trường, gia đình và ngoài
xã hội. Dù xét ở khía cạnh nào, giáo dục không ngừng thích nghi với các thay
đổi của xã hội, luôn là nhân tố then chốt của sự phát triển.
10



- Từ điển Từ và ngữ Hán Việt của tác giả Nguyễn Lân (1989) có nêu :
“Giáo dục là quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức
nhằm bồi dưỡng cho người học những phẩm chất đạo đức và tri thức cần thiết để
họ có khả năng tham gia mọi mặt đời sống của xã hội” [16, tr.269].
- Trong Giáo dục học : Giáo dục là quá trình toàn vẹn tác động đến thế hệ
trẻ về đạo đức, tư tưởng, động cơ, tình cảm, thái độ và những hành vi, thói quen
cư xử đúng đắn trong xã hội [14, tr.52].
1.2.2. Trường Tiểu học trong hệ thống giáo dục quốc dân
1.2.2.1. Vị trí, vai trò của trường tiểu học
Theo Điều 2 trong Điều lệ trường Tiểu học năm 2010 “Trường tiểu học
là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân, có tư cách pháp
nhân, có tài khoản và con dấu riêng” [6]
1.2.2.2. Nhiệm vụ và quyền hạn của trường tiểu học
Theo Điều 3 của Điều lệ trường Tiểu học năm 2010, trường tiểu học
có những nhiệm vụ và quyền hạn sau:
1. Tổ chức giảng dạy, học tập và hoạt động giáo dục đạt chất lượng
theo mục tiêu, chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học do Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.
2. Huy động trẻ em đi học đúng độ tuổi, vận động trẻ em khuyết tật,
trẻ em đã bỏ học đến trường, thực hiện phổ cập giáo dục và chống mù chữ
trong cộng đồng. Nhận bảo trợ và giúp các cơ quan có thẩm quyền quản lý
các hoạt động giáo dục của các cơ sở giáo dục khác thực hiện chương trình
giáo dục tiểu học theo sự phân công của cấp có thẩm quyền. Tổ chức kiểm
tra và công nhận hoàn thành chương trình tiểu học cho học sinh trong nhà
trường và trẻ em trong địa bàn trường được phân công phụ trách.
3. Xây dựng, phát triển nhà trường theo các quy định của Bộ Giáo dục
và Đào tạo và nhiệm vụ phát triển giáo dục của địa phương.
4. Thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục.
5. Quản lý cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh.
6. Quản lý, sử dụng đất đai, cơ sở vật chất, trang thiết bị và tài chính

theo quy định của pháp luật.
11


7. Phối hợp với gia đình, các tổ chức và cá nhân trong cộng đồng
thực hiện hoạt động giáo dục.
8. Tổ chức cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và học sinh tham
gia các hoạt động xã hội trong cộng đồng.
9.Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp
luật.[6]
1.2.3. Đặc điểm học sinh tiểu học
1.2.3.1 Đặc điểm về sự phát triển của các quá trình nhận thức.
Do có sự thay đổi về nội dung và tính chất của hoạt động chủ đạo lên hoạt
động nhận thức nói chung và các quá trình nhận thức riêng lẻ đều có sự thay đổi
cơ bản:
* Sự phát triển của tri giác:
- Ưu điểm: Tri giác của học sinh tiểu học có sự thay đổi đáng kể, từ chỗ tri
giác chung chung, đại thể ít đi vào chi tiết tới tri giác có phân tích có tổng hợp.
- Hạn chế: Tính trực quan vẫn chiếm vị trí rõ nét trong quá trình tri
giác, tri giác thời gian kém vẫn cứ lẫn lộn hôm qua, hôm kia, ngày mai, ngày
kia, ngày xưa…những đối tƣợng quá lớn hay quá nhỏ thì tri giác kém, khả
năng phân tích khi tri giác kém nên các em hiếm khi phân biệt những hình thù
giống nhau.
* Sự phát triển của trí nhớ
- Ưu điểm: Ở lứa tuổi này trí nhớ có chủ định đƣợc hình thành và phát
triển, càng về cuối cấp thì ghi nhớ ý nghĩa càng tăng.
- Hạn chế: Ở lứa tuổi này ghi nhớ không chủ định chiếm vị trí rõ nét, các
em thƣờng ghi nhớ máy móc theo trang, cái yếu tố trực quan vẫn chiếm vị trí rất
rõ nét trong quá trình ghi nhớ.
* Sự phát triển của chú ý

- Ưu điểm: Chú ý có chủ định đang phát triển, các em đƣợc rèn luyện
phẩm chất của chú ý.
- Nhược điểm: Chú ý không chủ định vẫn chiếm ưu thế, các phẩm chất
của chú ý chưa phát triển mạnh, sức tập trung chú ý còn non nớt dễ bị phân tán,
12


đặc biệt ở lứa tuổi này các em rất mẫn cảm nên những ấn tượng trực quan quá
mạnh thường là kìm hãm khả năng phân tích và khái quát ở các em, khối lượng
chú ý v ng còn nhiều hạn chế, khả năng phân phối chú ý còn kém.
* Sự phát triển tưởng tượng
- Ưu điểm: Lứa tuổi học sinh tiểu học là lứa tuổi có sự phát triển phong
phú về tưởng tượng “Ở lứa tuổi này hòn đất cũng biến thành con người, đây là
lứa tuổi thơ mộng và rất giàu tưởng tượng” - Tố Hữu Gần về cuối cấp tưởng tượng gần với hiện thực hơn, tưởng tượng sáng tạo
phát triển cao hơn.
- Hạn chế: Tưởng tượng còn mang tính trực quan - cụ thể, về mặt cấu tạo
biểu tượng trong tưởng tượng thì chủ yếu là các em bắt chước hay lập lại, thay
đổi chút ít, chủ đề tưởng tượng còn nghèo nàn, tản mạn và ít có tổ chức.
* Sự phát triển của tư duy
- Ưu điểm: Tư duy trừu tượng bắt đầu hình thành.
- Hạn chế: Năng lực trừu tượng hoá và khái quát hoá còn yếu, tư duy còn
mang tính xúc cảm, trẻ xúc cảm sinh động với tất cả những điều suy nghĩ.
1.2.3.2 Những đặc điểm về nhân cách nổi bật của học sinh tiểu học.
* Đời sống tình cảm
- Đây là lứa tuổi dễ xúc cảm, xúc động và khó kiềm chế xúc cảm của
mình. Các em rất dễ xúc động ở chỗ các em yêu mến thiên nhiên, động vật. Các
em khó kiềm chế xúc cảm bản thân, chưa biết kiểm tra những biểu hiện bên
ngoài của tình cảm.
- Những xúc cảm của lứa tuổi này thường gắn liền với những tình huống cụ
thể, trực tiếp mà ở đó các em hoạt động hoặc gắn với những đặc điểm trực quan.

- Tình cảm ở các em có nội dung phong phú hơn và bền vững hơn lứa tuổi
trước. Thể hiện ở tình cảm đạo đức, tình cảm trí tuệ và tình cảm thẩm mĩ.
- Tình cảm ở lứa tuổi này còn mỏng manh chưa bền vững, chưa sâu sắc.
* Đặc điểm về ý chí và tính cách:
- Ý chí: Các phẩm chất ý trí đang được hình thành và phát triển, tuy nhiên
những phẩm chất này chưa ổn định và chưa trở thành các nét tính cách. Năng
lực tự chủ còn yếu, đặc biệt các em thiếu kiên nhẫn, chóng chán, khó giữ trật tự.
13


- Tính cách: Các em đang được hình thành trong mọi hoạt động học tập,
lao động, vui chơi. Cụ thể ở các em hình thành những nét tính cách mới như tính
hồn nhiên, tính hay bắt chước những hành vi, cử chỉ của người lớn, tính hiếu
động, tính trung thực và tính dũng cảm.
Học sinh trường tiểu học có độ tuổi từ 06 - 14 tuổi (từ lớp 1- 5), giai đoạn
phát triển này của trẻ được gọi là tuổi nhi đồng. Lứa tuổi này có một vị trí đặc
biệt và tầm quan trọng trong thời kỳ phát triển của trẻ em, học sinh ở cuối cấp
tiểu học ở vào thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi thiếu niên và được phản
ánh bằng những tên gọi khác nhau như: “trang giấy trắng”, “tuổi hay bắt chước”,
“tuổi thích làm người lớn”, “tuổi muốn được chiều chuộng, nói ngọt” . Ở lứa
tuổi thiếu niên, nhi đồng có sự tồn tại song song “vừa tính trẻ con, vừa tính
người lớn”, điều này phụ thuộc vào sự phát triển mạnh mẽ về cơ thể, điều kiện
sống, hoạt động v.v của các em.
Mặt khác, ở những em c ng độ tuổi lại có sự khác biệt về mức độ phát
triển các khía cạnh khác nhau của tính người lớn - điều này do hoàn cảnh sống,
hoạt động khác nhau của các em tạo nên. Hoàn cảnh đó có cả hai mặt: Những
yếu điểm của hoàn cảnh kiềm hãm sự phát triển tính người lớn: trẻ chỉ bận vào
việc học tập, không có những nghĩa vụ khác, nhiều bậc cha mẹ có xu thế không
để cho trẻ hoạt động, làm những công việc khác nhau của gia đình, của xã hội.
Những yếu tố của hoàn cảnh thúc đẩy sự phát triển tính người lớn: sự gia tăng

về thể chất, về giáo dục, nhiều bậc cha mẹ quá bận, gia đình gặp khó khăn trong
đời sống, đòi hỏi trẻ phải lao động nhiều để sinh sống. Điều đó đưa đến trẻ sớm
có tính độc lập, tự chủ hơn.
Trong những giai đoạn phát triển của con người, lứa tuổi thiếu niên nhi
đồng có một vị trí và ý nghĩa vô c ng quan trọng. Đây là thời kỳ phát triển phức
tạp nhất, và cũng là thời kỳ chuẩn bị quan trọng nhất cho những bước trưởng
thành sau này. Thời kỳ thiếu niên quan trọng ở chỗ: trong thời kỳ này những cơ
sở, phương hướng chung, quan điểm xã hội và đạo đức của nhân cách được hình
thành, chúng sẽ được tiếp tục phát triển trong tuổi thanh thiếu niên. Những nhà
giáo dục, cần hiểu rõ vị trí và ý nghĩa của giai đoạn phát triển tâm lý thiếu niên
14


nhi đồng để có cách giáo dục và đối xử đúng đắn với các em nhằm xây dựng cho
các em một nhân cách toàn diện.
1.3. Một số vấn đề lý luận về giáo dục kỹ năng sống
1.3.1. Khái niệm về kỹ năng sống
Trong Từ điển Từ và ngữ Hán Việt của tác giả Nguyễn Lân (1989) có ghi:
“Kỹ năng là khả năng ứng dụng tri thức khoa học vào thực tiễn” [16, tr.390].
Còn trong Tâm lý học, kỹ năng được hiểu là khả năng thực hiện những
thao tác được hình thành và củng cố qua quá trình thực hành và trãi nghiệm
của bản thân. Kỹ năng chính là công cụ để gia tăng giá trị cho kiến thức của
bản thân.
- Theo nhóm biên soạn tài liệu giáo dục kỹ năng sống của Vụ giáo dục thể
chất mà chủ biên là Nguyễn Võ Kỳ Anh thì : “Kỹ năng sống là khả năng có
được những hành vi thích nghi và tích cực, cho phép chúng ta xử trí một cách có
hiệu quả các đòi hỏi và thử thách của cuộc sống thường ngày” [1, tr.3].
- Định nghĩa vừa nêu trên cũng trùng lặp với định nghĩa về kỹ năng sống
của Tổ chức Y tế thế giới WHO : “Kỹ năng sống là khả năng thích nghi và
những hành vi tích cực để cá nhân có thể đáp ứng hiệu quả những yêu cầu và

thách thức của cuộc sống hàng ngày” [37].
Như vậy, kỹ năng sống khuyến khích thái độ tích cực, phòng ngừa và
giảm thiểu các hành vi nguy cơ. Nó giúp con người phát huy sức mạnh nội lực
để có thể làm chủ được cuộc sống của mình và sống khỏe mạnh, hạnh phúc, có
mục đích, có ý nghĩa.
- Còn theo UNICEF: “Kỹ năng sống là tập hợp nhiều kỹ năng tâm lý xã
hội và giao tiếp cá nhân giúp cho con người đưa ra những quyết định có cơ
sở, giao tiếp một cách có hiệu quả, phát triển các kỹ năng tự xử lý và quản lý
bản thân nhằm giúp họ có một cuộc sống lành mạnh và có hiệu quả. Từ kỹ
năng sống có thể được thể hiện thành những hành động cá nhân và những
hành động đó sẽ tác động đến hành động của những người khác cũng như dẫn
đến những hành động nhằm thay đổi môi trường xung quanh, giúp nó trở nên
lành mạnh” [33].
15


- Giáo dục kỹ năng sống là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch
đến học sinh nhằm giúp học sinh có những kiến thức về cuộc sống, có những
thao tác, hành vi ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ xã hội như quan hệ
của cá nhân với xã hội, của cá nhân với lao động, của cá nhân với mọi người
chung quanh và của cá nhân với chính mình, giúp cho nhân cách mỗi học sinh
được phát triển đúng đắn đồng thời thích ứng tốt nhất với môi trường sống.
Việc giáo dục những kỹ năng cuộc sống chính là sự bổ sung về kiến
thức và năng lực cần thiết cho các cá nhân thanh thiếu niên học sinh để họ có
thể hoạt động độc lập và giúp họ chủ động tránh được những khó khăn trong
thực tế đời sống.
- Đối với học sinh, nhất là học sinh bậc tiểu học, giáo dục kỹ năng sống là
môn học trang bị những tri thức giúp học sinh hình thành những kỹ năng sống
cần thiết, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của con người với môi trường
sống. Thông qua hoạt động Giáo dục kỹ năng sống sẽ trang bị thêm cho học sinh

những kỹ năng tự chủ, kỹ năng nói không, khả năng tự đưa ra quyết định và
thích nghi, biết chấp nhận, hóa giải được những tác động tiêu cực trong cuộc
sống chung quanh [1, tr.6].
- Giáo dục kỹ năng sống là hoạt động giúp cho người học có khả năng về
mặt tâm lý xã hội để phán đoán và ra quyết định tích cực, nghĩa là để “nói không
với cái xấu” [21, 4]. Nhưng giáo dục kỹ năng sống cho trẻ không phải là đưa ra
những lời giải đơn giản cho những câu hỏi thông thường mà giáo dục kỹ năng
sống phải nhằm hướng đến thay đổi hành vi.
Công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh chỉ đạt được kết quả tốt khi
nó có sự tác động đồng thời của các lực lượng giáo dục : Nhà trường, gia đình
và các lực lượng xã hội.
1.3.2. Nội dung kỹ năng sống cần giáo dục ở trường tiểu học
1.3.2.1. Mục đích giáo dục kỹ năng sống
- Trang bị cho học sinh những kiến thức, giá trị, thái độ, kỹ năng ph hợp.
Hình thành cho HS những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực; loại bỏ những
hành vi, thói quen tiêu cực. KNS giúp HS có khả năng ứng phó phù hợp và linh
hoạt trong các tình huống của cuộc sống hàng ngày.
16


+ KNS giúp HS vận dụng tốt kiến thức đã học, làm tăng tính thực hành.
- Tạo cơ hội thuận lợi để HS thực hiện tốt quyền, bổn phận của mình và
phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức
- Nhằm đẩy mạnh phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện,
học sinh tích cực”, đồng thời có sự thống nhất cao việc tăng cường giáo dục kỹ
năng sống cho học sinh tiểu học trong toàn cấp học; trang bị cho học sinh những
hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực, loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực
trong các mối quan hệ, các tình huống và hoạt động hàng ngày; giúp các em có
khả năng làm chủ bản thân, khả năng ứng xử, ứng phó phù hợp, tích cực trước
tình huống cuộc sống.

1.3.2.2. Nội dung giáo dục kỹ năng sống
* Nhóm các kỹ năng nhận biết và sống với chính mình:
- Kỹ năng tự nhận thức
- Kỹ năng xác định giá trị
- Kỹ năng kiểm soát cảm xúc
- Kỹ năng ứng phó với căng thẳng
- Kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ
- Kỹ năng thể hiện sự tự tin
* Nhóm các kỹ năng phân biệt và sống với người khác: - Kỹ năng giao tiếp
- Kỹ năng lắng nghe tích cực
- Kỹ năng thể hiện sự cảm thông - Kỹ năng thương lượng
- Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn
- Kỹ năng hợp tác
* Nhóm các kỹ năng ra quyết định một cách có hiệu quả:
- Kỹ năng tư duy phê phán
- Kỹ năng tư duy sáng tạo
- Kỹ năng ra quyết định
- Kỹ năng giải quyết vấn đề
- Kỹ năng kiên định
- Kỹ năng đảm nhận trách nhiệm
17


- Kỹ năng đặt mục tiêu
- Kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin
Với ý nghĩa kỹ năng sống là những kỹ năng mang tính cá nhân và xã hội
cần thiết đối với thanh thiếu niên giúp họ có khả năng học tập tốt hơn, ứng xử
một cách tự tin đồng thời là một phương sách để hoàn thiện bản thân mình trước
mọi người và cộng đồng thì kỹ năng sống cần thiết cho học sinh tiểu học, theo
WHO, gồm các nhóm kỹ năng chính sau đây, cần được giảng dạy và tổ chức cho

các em thực hành:
* Nhóm kỹ năng nhận biết và sống với chính mình :
- Kỹ năng tự nhận thức : là kỹ năng mà mỗi con người, trước hết, cần phải
tự nhận biết và hiểu rõ bản thân, hiểu rõ những tiềm năng, tình cảm, những xúc
cảm cũng như vị trí của mình trong cuộc sống và xã hội, cả những mặt mạnh và
mặt yếu của họ nữa. Khi các cá nhân càng nhận thức được khả năng của mình,
họ càng có khả năng sử dụng các kỹ năng sống khác một cách có hiệu quả và
càng có khả năng lựa chọn những gì phù hợp với các điều kiện sẵn có với bản
thân, với xã hội mà họ sống và với khả năng của bản thân họ nữa. Họ cũng cần
có sự hiểu biết rõ ràng về bản sắc dân tộc và nền văn hóa mà từ đó họ đã được
sinh ra và cũng chính nền văn hóa đó đã tạo nên con người họ.
- Lòng tự trọng: Sự tự nhận thức đưa đến sự tự trọng. Khi mỗi người tự
nhận thức được năng lực tiềm tàng của bản thân và vị trí của mình trong cộng
đồng thì lòng tự trọng được mô tả như là ”sự nhận thức những điều tốt đẹp của
bản thân”. Nó còn đề cập đến việc mỗi người cảm nhận như thế nào những khía
cạnh mang tính cá nhân như diện mạo, khả năng và hành vi, … và họ sẽ phát
triển như thế nào trên cơ sở những kinh nghiệm bản thân để trở nên thành thạo
và thành công khi làm những điều mà họ dự định.
Tuy nhiên, lòng tự trọng bị ảnh hưởng một cách mạnh mẽ bởi mối quan
hệ của một cá nhân với những người khác. Những người lớn tuổi có ảnh hưởng
đến trẻ như bố mẹ, các thành viên trong gia đình, thầy cô giáo và cả bạn bè đồng
lứa có thể hoặc trợ giúp nhằm phát triển hoặc làm mất sự tự trọng của một cá
nhân qua những quan hệ, tiếp xúc của họ đối với cá nhân đó.
18


- Sự kiên quyết: Sự kiên quyết hay tính kiên định có nghĩa là nhận biết
được những gì bản thân mình muốn và tại sao lại muốn đồng thời là khả năng
tiến hành các bước cần thiết để đạt được những gì bản thân mình muốn trong
những hoàn cảnh cụ thể bao gồm một loạt các tình huống khác nhau như : từ chối

sự tán tỉnh, cám dỗ; thuyết phục người khác đồng thuận theo mình; nêu gương,
kêu gọi, hướng dẫn mọi người làm những việc có lợi cho cộng đồng,… Tuy
nhiên, cách thể hiện tính kiên định có liên quan đến văn hóa và việc lắng nghe,
đánh giá những điều người khác cảm nhận và mong muốn bởi vì kiên định là biết
được nhu cầu và quyền của mình, cũng như điều mình mong muốn và thực hiện
những điều đó có xét tới nhu cầu, quyền và mong muốn của người khác.
- Đương đầu với cảm xúc: Xúc cảm là sự phản ánh rõ nét bản chất của
mỗi người. Những cảm xúc như sợ hãi, yêu thích, e thẹn, phẫn nộ, mong muốn
được thừa nhận,… hoàn toàn mang tính chủ quan và thường có là do đáp ứng
một cách tức thời đối với tình huống. Vì thế mà chúng không thể đoán trước
được và có thể dễ dàng đưa con người ta đến những hành vi mà sau này họ sẽ
phải hối tiếc.
Do vậy, việc xác định và sau đó là đối phó với những cảm xúc là khả
năng cho thấy rằng con người ta có thể nhận thấy và phải tính đến những xúc
cảm của mình cùng nguyên nhân cụ thể của chúng để có những quyết định chế
ngự, không để cho những cảm xúc của bản thân chi phối.
- Đương đầu với căng thẳng (kỹ năng ứng phó với stress): Căng thẳng là
một phần hiển nhiên của cuộc sống. Những vấn đề trắc trở của bản thân, của bạn
bè thân thiết, của các thành viên trong gia đình; những mối quan hệ bị đổ vỡ, …
là những minh họa các tình huống gây căng thẳng trong cuộc sống con người.
Trong những mức độ hữu hạn, khi một cá nhân có khả năng đương đầu với sự
căng thẳng thì căng thẳng lại có thể là một nhân tố tích cực bởi vì chính những
sức ép của sự căng thẳng đó buộc cá nhân phải tập trung vào công việc của mình
và hưởng ứng một cách thích hợp. Tuy nhiên, sự căng thẳng còn có một sức
mạnh hủy diệt cuộc sống cá nhân nếu sự căng thẳng đó quá lớn và không giải
tỏa nổi. Do đó, cũng như kỹ năng đối phó với cảm xúc, thanh thiếu niên học sinh
19



×