Tải bản đầy đủ (.pdf) (88 trang)

Pháp luật về bảo vệ rừng qua thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh cà mau

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (583.19 KB, 88 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

TRẦN CÔNG HOẰNG

PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ RỪNG QUA THỰC TIẾN
ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CÀ MAU

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

TRẦN CÔNG HOẰNG

PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ RỪNG QUA THỰC TIẾN
ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CÀ MAU
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60380107

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. LÊ VŨ NAM

TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2017


LỜI CẢM ƠN


Trong thời gian học tập và rèn luyện tại Trường Đại học Kinh tế TP.
Hồ Chí Minh mở cơ sở đào tạo tại Trường Cao đẳng Cộng đồng Cà Mau, tác
giả đã được quý Thầy, Cô tận tình giảng dạy, hướng dẫn học tập, trau dồi đạo
đức cách mạng bằng cả trách nhiệm tình thương và phương pháp khoa học.
Tác giả hoàn thành Luận văn là kết quả từ sự giảng dạy, hướng dẫn
trực tiếp của Thầy PGS.TS. Lê Vũ Nam và hướng dẫn của quý Thầy, Cô các
khoa; sự tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ có hiệu quả và kịp thời của Trường
Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh.
Trong quá trình thực hiện Luận văn, tác giả đã được nhiều cơ quan, đơn
vị, đồng chí, bạn bè trên địa bàn tỉnh Cà Mau giúp đỡ, cung cấp thông tin, hỗ
trợ thiết thực và sự chia sẻ, động viên chân tình.
Để thực hiện Luận văn, tác giả đã nghiên cứu, tìm hiểu thông tin và sử
dụng hợp lý từ nhiều tạp chí, sách báo của nhiều tác giả, nhà xuất bản, cơ
quan, đơn vị thông tin truyền thông.
Tác giả xin nói lời tri ân sâu sắc đến Thầy PGS.TS. Lê Vũ Nam và quý
Thầy, Cô, cán bộ, nhân viên Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh,
Trường Cao đẳng Cộng đồng Cà Mau; chân thành cảm ơn đến cơ quan, đơn
vị, đồng chí và bạn bè tỉnh Cà Mau đã có những giúp đỡ quý báu trong quá
trình tác giả thực hiện và hoàn thành Luận văn này.
Cà Mau, ngày

tháng

năm 2017

Tác giả luận văn

Trần Công Hoằng



LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của
Luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào./.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Trần Công Hoằng


DANH MỤC BẢNG
STT

Tên bảng, biểu

Trang

01

Bảng 1.1: Ảnh hưởng của rừng đến tốc độ gió

17

02

Bảng 2.1: Sắp xếp, phân loại quy hoạch rừng đặc dụng

47


MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC BẢNG
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài ....................................................................................1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài ..............................................................................3
. M c đích và nhi

v của luận văn ................................................................3

4. Đối tượng và phạ

vi nghiên cứu ....................................................................4

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu .....................................................4
6. Kết cấu của luận văn .........................................................................................4
CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO VỆ RỪNG ........................................6
VÀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ RỪNG ..........................................................................6
1.1. Tổng quan về bảo v rừng .............................................................................6
1.1.1. Khái niệm rừng ..........................................................................................6
1.1.2. Đặc điểm của rừng ....................................................................................9
1.1.3. Phân loại rừng .........................................................................................10
1.1.4. Vai trò của rừng .......................................................................................13
1.2. Khái quát về bảo v rừng .............................................................................20
1.2.1. Khái niệm bảo vệ rừng ............................................................................20
1.2.2. Đặc điểm bảo vệ rừng ..............................................................................21
1.2.3. Các phương thức bảo vệ rừng .................................................................24
1.2.4. Sự cần thiết bảo vệ rừng ..........................................................................26

1. . Những vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật về bảo v rừng ....................29
1.3.1. Khái niệm và đặc điểm của pháp luật về bảo vệ rừng ............................29
1.3.2. Nội dung của pháp luật bảo vệ rừng .......................................................32
1.3.3. Vai trò của pháp luật đối với công tác bảo vệ rừng ................................36


Kết luận Chương 1 ..............................................................................................40
CHƯƠNG 2.THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ RỪNG .....................42
QUA THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CÀ MAU VÀ ..............42
KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN ..................................................................................42
2.1. Thực trạng pháp luật về bảo v rừng qua thực tiễn áp d ng trên địa bàn
tỉnh Cà Mau .........................................................................................................42
2.1.1. Quy định về chủ thể có trách nhi

bảo v rừng ..................................42

2.1.2. Quy định về bảo vệ hệ sinh thái rừng ......................................................45
2.1.3. Quy định về bảo vệ thực vật rừng, động vật rừng ...................................48
2.1.4. Quy định về phòng cháy, chữa cháy rừng ...............................................50
2.1.5. Quy định về phòng trừ sinh vật gây hại rừng ..........................................52
2.1.6. Quy định về kinh doanh, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu thực vật
rừng, động vật rừng ...........................................................................................55
2.1.7. Quy định về xử lý đối với hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ rừng ..........58
2.2. Kiến nghị hoàn thi n pháp luật về bảo v rừng ........................................65
2.2.1. Nguyên tắc cơ bản trong việc hoàn thiện pháp luật về bảo vệ rừng .......61
2.2.2. Căn cứ pháp lý thực tế cần hoàn thiện pháp luật về bảo vệ rừng ...........63
2.2.3. Kiến nghị cụ thể hoàn thiện pháp luật về bảo vệ rừng ............................68
Kết luận Chương 2 ..............................................................................................72
KẾT LUẬN ..............................................................................................................74
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..........................................................................................



1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Một trong những yêu cầu thực tiễn đặt ra đối với mọi quốc gia, muốn phát
triển nhanh và bền vững là phải tính đến sự cân bằng môi trường sinh thái. Công tác
này bao trùm trên nhiều mặt, trong đó có hoạt động khai thác, trồng rừng, phòng
cháy chữa cháy rừng, các hoạt động kinh doanh lâm sản… tác động trực tiếp đến
bảo vệ và phát triển rừng.
Rừng có vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống kinh tế-xã hội, rừng góp
phần vào các hoạt động kinh tế nhờ khả năng cung cấp nguyên liệu liên tục lâu dài
với chất lượng nguyên liệu cao cho các ngành công nghiệp, công nghiệp giấy, chế
biến gỗ, mỹ phẩm, vật liệu xây dựng, sợi dệt, lấy tinh dầu, cung cấp các hoạt động
dịch vụ như du lịch sinh thái…góp phần thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
phát triển kinh tế thị trường hiện nay. Bên cạnh đó, rừng tạo ra các sản phẩm dịch
vụ, nhiều dự án phát triển du lịch sinh thái gắn liền với các vườn quốc gia, các khu
bảo tồn thiên nhiên, các khu rừng có cảnh quan đặc biệt, du lịch sinh thái không chỉ
phục vụ nhu cầu về mặt tinh thần mà còn tăng thu nhập cho người dân địa phương
góp phần ổn định dân cư và xóa đói giảm nghèo, góp phần bảo đảm an ninh, quốc
phòng.
Ngày nay, sự phát triển của khoa học kỹ thuật đang diễn ra nhanh chóng, đời
sống của con người được cải thiện đáng kể nhưng chúng ta phải đối mặt với những
thách thức của sự phát triển. Đó là nguy cơ suy giảm các nguồn tài nguyên và sự
suy thoái các yếu tố căn bản môi trường sống. Tài nguyên rừng – một trong những
tài nguyên có thể tái tạo và có tính quyết định trong việc duy trì cân bằng sinh thái
toàn cầu, đang đứng trước nguy cơ bị suy thoái nghiêm trọng cả về lượng và chất.
Các nhà khoa học đã cảnh báo, mất rừng không chỉ đơn thuần là sự suy giảm nguồn
tài nguyên mà nó còn gây ra những hậu quả nghiêm trọng như sa mạc hóa, các thiên

tai như lũ lụt, hạn hán,…đặc biệt là các tác hại về môi trường sinh thái như phá hại
sinh cảnh, tuyệt chủng các loài thực vật, động vật nguy cấp, quý hiếm. Vì thế rừng
có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc giữ đất, điều hòa không khí, bảo vệ môi


2

trường sinh thái. Trước những biến đổi về môi trường trong thời gian gần đây,
chúng ta càng thấy được tầm quan trọng của rừng. Do đó, quản lý rừng bền vững đã
được nhận thức như là một chiến lược vì mục tiêu tồn tại lâu dài của con người và
thiên nhiên. Tuy nhiên, do xuất phát từ những khó khăn về kinh tế, người dân vẫn
tiến hành khai thác ở khu vực lâm nghiệp có tính đặc thù địa phương, mặt khác sự
khác biệt về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội ở mỗi địa phương nên việc vận dụng
các văn bản pháp luật Nhà nước vào các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng không
hoàn toàn giống nhau. Điều này đòi hỏi việc quản lý bảo vệ và phát triển rừng luôn
chú ý đến tính đặc thù. Chính tính đặc thù địa phương nên pháp luật của Nhà nước
chưa có điều chỉnh, quản lý kịp thời, đồng bộ.
Thế mạnh kinh tế của tỉnh Cà Mau là tiềm năng về phát triển nông-lâm-ngư
nghiệp. Trong phát triển lâm nghiệp thì phát triển rừng tràm, rừng đước có vị trí chủ
đạo và mang tính đặc thù của tỉnh. Thổ nhưỡng của tỉnh thích hợp cho cây rừng
tràm, rừng đước hơn các loại cây rừng khác. Rừng tràm, rừng đước có vị trí quan
trọng, tác động đến đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa, lịch sử, du lịch, an ninh, quốc
phòng, môi trường sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học cùng nhiều giá trị khác của
địa phương cũng như khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
Công tác quản lý Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng, thực thi pháp luật
bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh Cà Mau bên cạnh những thành tựu, kết
quả đạt được nhưng đồng thời vẫn còn nhiều vấn đề bất cập đang đặt ra cần phải
giải quyết. Diện tích rừng tràm, rừng đước ngày càng bị thu hẹp, cháy rừng thường
xuyên xảy ra, cư dân được Nhà nước giao khoán rừng thực hiện trồng rừng mới sau
khai thác không đúng quy định, lấn chiếm đất rừng sản xuất, cư dân tự ý khai thác,

lợi dụng việc bảo vệ rừng để vào rừng khai thác các lâm sản, tình trạng ô nhiễm môi
trường, mất cân bằng sinh thái, đời sống cư dân sống trên vùng đất rừng còn rất
nhiều khó khăn, không yên tâm chăm lo sản xuất, bảo vệ và phát triển rừng, đặc biệt
hệ thống pháp luật, nhất là văn bản pháp quy còn chồng chéo, mâu thuẫn, khó áp
dụng… đang diễn ra mạnh mẽ. Tình hình này có nhiều nguyên nhân, trong đó có
nguyên nhân cơ bản do thực thi pháp luật về hoạt động quản lý bảo vệ rừng chưa


3

được đồng bộ, chưa theo kịp tốc độ phát triển xã hội, vẫn còn có nhiều bất cập trên
nhiều mặt, đòi hỏi phải giải quyết. Bên cạnh đó, pháp luật về bảo vệ rừng hiện nay
còn khá nhiều những bất cập, khiếm khuyết tác động không nhỏ đến hoạt động quản
lý và bảo vệ rừng. Do vậy, cần phải tiến hành phân tích, đánh giá một cách có hệ
thống nhằm hình thành những kiến nghị, hoàn thiện trong thời gian tới.
Với những lý do trên mà tôi chọn đề tài: “Pháp luật về bảo vệ rừng qua thực
tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Cà Mau” để nghiên cứu làm luận văn cao học
chuyên ngành kinh tế luật của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Cùng với hoàn thiện pháp luật trên lĩnh vực lâm nghiệp, hoàn thiện pháp luật
về bảo vệ và phát triển rừng, …là một lĩnh vực quan trọng trong hoạt động quản lý
nhà nước. Vì vậy mà đã có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực này như: Định
hướng bổ sung Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam do Viện Quản lý rừng
bền vững và Chứng chỉ rừng (SFMI) thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn (Dự án Jica vào năm 2009 – 2010); Hoàn thiện về quản lý và bảo vệ tài nguyên
rừng ở Việt Nam hiện nay của tác giả: Nguyễn Thanh Huyền - năm 2012. Nhìn
chung các công trình nghiên cứu mang tính bao quát trên bình diện lý luận, thực
tiễn chung của đất nước. Các công trình đó đã có đóng góp nhiều giá trị, giải quyết
nhiều vấn đề đời sống xã hội đặt ra, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu
chuyên sâu về pháp luật bảo vệ rừng áp dụng qua thực tiễn trong một không gian

đặc thù và thời gian cụ thể ở nước ta.
. M c đích và nhi

v của luận văn

- Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu một cách có hệ thống, có căn
cứ khoa học lý luận cũng như phân tích các khái niệm về rừng, đặc biệt rừng, những
vấn đề cơ bản về pháp luật bảo vệ rừng nhằm đánh giá thực trạng pháp luật về bảo
vệ rừng áp dụng trên địa bàn tỉnh Cà Mau trong thời gian qua, từ đó đề xuất các giải
pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ rừng của nước ta trong thời gian tới.
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích trên, Luận văn phải giải quyết
các nhiệm vụ cụ thể sau:


4

+ Hệ thống thống hóa được cơ sở lý luận về rừng, bảo vệ rừng, những nội
dung cơ bản về pháp luật bảo vệ rừng, vai trò của pháp luật bảo vệ rừng.
+ Đánh giá thực trạng về pháp luật bảo vệ rừng qua thực tiễn áp dụng trên địa
bàn tỉnh Cà Mau trong thời gian qua.
+ Đề xuất kiến nghị, những giải pháp có căn cứ lý luận và thực tiễn mang tính
khả thi để hoàn thiện pháp luật về bảo vệ rừng trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạ

vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định pháp luật về bảo vệ và
phát triển rừng trên bình diện chung và thực tiễn trên địa bàn tỉnh Cà Mau.
- Phạm vi nghiên cứu, khảo sát thực tiễn của Luận văn được tiến hành trong
không gian trên địa bàn tỉnh Cà Mau và thời gian từ năm 2004 đến năm 2016.

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Luận văn được tiến hành nghiên cứu dựa trên cơ sở khoa học chủ yếu của
Chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách
của Đảng, quy định của Nhà nước về rừng và bảo vệ rừng, những tri thức, tư tưởng
tiến bộ phù hợp thực tiễn công tác bảo vệ rừng ở nước ta.
- Quá trình thực hiện Luận văn, tác giả sử dụng phương pháp duy vật biện
chứng của Chủ nghĩa Mác-Lênin làm phương pháp chung, định hướng cho quá
trình nghiên cứu. Đồng thời kết hợp chặt chẽ giữa các phương pháp với nhau, như
phương pháp phân tích hệ thống kết hợp với phương pháp nghiên cứu lịch sử,
phương pháp phân tích tổng hợp với phương pháp so sánh…Ngoài ra, tùy từng vấn
đề nghiên cứu mà tác giả sử dụng một số phương pháp thích hợp, như phương pháp
dự báo, thống kê, phương pháp tổng kết, đánh giá thực tiễn, phương pháp nghiên
cứu tài liệu và phương pháp phỏng vấn….
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
văn được chia làm 02 chương như sau:
Chương 1. Lý luận chung về bảo v rừng và pháp luật bảo v rừng


5

Chương 2. Thực trạng pháp luật về bảo v rừng qua thực tiễn áp d ng
trên địa bàn tỉnh Cà Mau và kiến nghị hoàn thi n


6

CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO VỆ RỪNG
VÀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ RỪNG

1.1. Tổng quan về bảo v rừng
1.1.1. Khái ni

rừng

Mọi giai đoạn lịch sử loài người luôn gắn bó với điều kiện thiên nhiên và trải
qua những giai đoạn phát triển khác nhau có những thay đổi về nhận thức thiên
nhiên, trong đó có nhận thức về rừng. Tùy mục tiêu nghiên cứu, giới hạn nhận thức,
góc độ và phương pháp xem xét mà người ta có những quan niệm về rừng khác
nhau và trong từng giai đoạn khác nhau.
Cùng với sự ra đời của sinh thái học, các khái niệm về rừng và khoa học rừng
dần dần được sáng tỏ. Rừng đã có lịch sử phát triển lâu dài nhưng những hiểu biết
về rừng chỉ mới được nhận thức thật sự từ thế kỷ XIX. Theo quan điểm học thuyết
về hệ sinh thái, rừng được xem như là hệ sinh thái điển hình trong sinh quyển. Mặt
khác học thuyết về rừng thì rừng được coi là một sinh địa quần lạc.
Hai học thuyết trên không khác nhau về bản chất, nhưng mỗi học thuyết nhấn
mạnh về một khía cạnh đặc trưng riêng của rừng. Cả hai học thuyết đều sử dụng các
nguyên lý cơ bản của sinh thái học khi nghiên cứu một đơn vị tự nhiên trong sinh
quyển. Chúng đều được thừa nhận và sử dụng trong khoa học nghiên cứu về rừng.
Vili (1957) đã dịch ra khái niệm hệ sinh thái là một đơn vị tự nhiên bao gồm các
yếu tố sống và không sống, giữa chúng có sự trao đổi vật chất và năng lượng tạo
nên một hệ thống ổn định. Còn quần lạc sinh địa rừng được hiểu là một khoảng
rừng nhất định có sự đồng nhất về các yếu tố cấu thành cấu trúc và đặc tính của các
thành phần hợp thành. Nghĩa là đồng nhất về thảm thực vật, thế giới động vật, thế
giới vi sinh vật, các điều kiện về khí hậu, đất đai. Trong đó có sự đồng nhất về các
quá trình tác động qua lại lẫn nhau, có cùng một kiểu trao đổi vật chất và năng
lượng giữa các hợp phần trong quần lạc và với môi trường.
Thuật ngữ “rừng” thường chỉ cho chúng ta có sự hình dung miêu tả hoặc đưa
ra tính khái quát đều thấy đến nhiều loài động vật, thực vật, vi sinh vật sinh sống



7

trong một môi trường thiên nhiên, giữa chúng thường có những loài động vật, thực
vật, vi sinh vật cùng tồn tại và có loài chiếm ưu thế hơn, chúng luôn ảnh hưởng lẫn
nhau và tác động đến môi trường. Loài thực vật là thành tố cơ bản của rừng, chúng
vốn có tính năng điều hòa môi trường sinh thái.
Năm 1912, nhà khoa học người Nga là G.F.Morodop đã xây dựng và công bố
học thuyết về rừng. Trong học thuyết này, ông đã chỉ ra khái niệm về rừng, là “một
tổng thể cây gỗ, có mối liên hệ lẫn nhau, nó chiếm một phạm vi không gian nhất
định ở mặt đất và trong khí quyển, nó chiếm phần lớn bề mặt trái đất và là một bộ
phận của cảnh quan địa lý”1.
Năm 1974, Hội nghị các nhà khoa học Liên Xô đã thống nhất đưa ra định
nghĩa về rừng, đó là “một bộ phận cảnh quan địa lý, trong đó bao gồm một tổng thể
các cây gỗ, cây bụi, cây cỏ, động vật và vi sinh vật, trong quá trình phát triển, chúng
có mối quan hệ sinh học, ảnh hưởng lẫn nhau và với hoàn cảnh bên ngoài”2.
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư nước ta chỉ ra, rừng là “quần xã sinh vật,
trong đó cây rừng là thành phần chủ yếu, quần xã sinh vật phải có diện tích đủ lớn,
giữa quần xã sinh vật và môi trường, các thành phần trong quần xã sinh vật phải có
mối quan hệ mật thiết để đảm bảo sự khác biệt giữa hoàn cảnh rừng và các hoàn
cảnh khác”3.
Khái niệm về rừng được đưa ra ngắn gọn hơn. Rừng là chỗ cây cối mọc
mênh mông sầm uất4. Rừng là nơi có nhiều cây cối mọc chi chít, nơi động vật sống
tự nhiên hoang dã5.
Từ năm 2004 đến nay, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng đã được Quốc hội
thông qua vào ngày 03 tháng 12 năm 2004 (sau đây gọi là Luật bảo vệ và phát triển
rừng năm 2004), theo đó khái niệm rừng được hiểu thống nhất như sau: Rừng là
một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng,
1


Học thuyết về rừng của G.F. Morodop năm 1912

2

Định nghĩa về rừng của Hội nghị các nhà khoa học Liên Xô năm 1974

3

Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2017

4

Minh Tâm, Thanh Nghi, Xuân Lãm (1998), Từ điển Tiếng Việt, NXB Thanh Hóa, tr. 27.

5

Văn Tân (1991), Từ điển Tiếng Việt, NXB Khoa học Xã hội, tr.33.


8

đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật
đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên. Rừng gồm
rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc
dụng. Độ che phủ của tán rừng là mức độ che kín của tán cây rừng đối với đất rừng,
được biểu thị bằng tỷ lệ phần mười giữa diện tích đất rừng bị tán cây rừng che bóng
và diện tích đất rừng6.
Kế thừa những khái niệm trên và dựa vào quan điểm quản lý rừng bền vững,
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đưa ra khái niệm về rừng như sau: Rừng
là nơi cung cấp gỗ và các lâm sản khác, là một nhân tố phát triển ở dạng giá trị tiềm

năng tổng hợp và có nhiều chức năng7.
Với cách tiếp cận trên, dễ thấy rừng có nhiều loại cây gỗ, nhiều lâm sản khác
như động vật, vi sinh vật rừng thích ứng với loài cây gỗ chiếm ưu thế trong môi
trường cây gỗ tồn tại, phát triển; rừng là một nhân tố phát triển ở dạng giá trị tiềm
năng tổng hợp thể hiện ở chỗ, rừng là sản phẩm, là tư liệu sản xuất và cũng là sự
thống nhất giữa sản phẩm và tư liệu sản xuất, giá trị tiềm năng tổng hợp có cả kinh
tế-xã hội, có giá trị sử dụng tổng hợp, giá trị sử dụng của nó gồm giá trị sử dụng của
các lâm sản, dịch vụ và khả năng tái sản xuất ra những sản phẩm này; và rừng có
nhiều chức năng thể hiện ở chỗ, chức năng kinh tế, chức năng phòng hộ môi trường,
chức năng du lịch, chức năng môi sinh và chức năng bảo vệ đa dạng sinh học.
Tiếp cận trên, cho thấy trên địa bàn tỉnh Cà Mau có hai loại rừng chiếm ưu
thế chủ yếu và tương ứng với hệ sinh thái nước ngọt là rừng tràm, hệ sinh thái nước
mặn là rừng đước. Hai loại rừng này là một bộ phận, một dạng của rừng nói chung,
nó là nơi sản xuất gỗ tràm, gỗ đước và các lâm sản tồn tại, phù hợp, thích ứng cùng
phát triển, tồn tại với gỗ tràm, gỗ đước là một nhân tố phát triển ở dạng giá trị tiềm
năng tổng hợp và có nhiều chức năng của rừng, đồng thời nó có những giá trị và
chức năng đặc thù so với các loại rừng khác.
6

Khoản.1, Điều.3 , Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004.

7

Chương trình hỗ trợ ngành lâm nghiệp và đối tác (2006), Cẩm nang ngành lâm nghiệp, chương Quản lý

rừng bền vững, NXB Nông nghiệp, Hà Nội.


9


1.1.2. Đặc điể

của rừng

Từ những khái niệm về rừng đã trình bày trên cho thấy xét tổng quan, rừng
có những đặc điểm chung như sau:
Một là, rừng là một thể tổng hợp và phức tạp, có mối quan hệ qua lại giữa
các cá thể trong quần thể, giữa các quần thể trong quần xã và có sự thống nhất giữa
chúng với điều kiện tự nhiên trong tổng hợp đó. Quần thể ở đây không chỉ là một
nhóm thực vật mà cả động vật và nhiều loài động thực vật cùng tồn tại và tác động
qua lại trong môi trường tự nhiên nhất định. Chẳng hạn trong quần thể cây tràm,
không chỉ có nhiều loài cá, rắn, rùa… mà còn có nhiều loài dây leo khác, như dây
choại, rau mơ, bồn bồn, sậy…
Hai là, luôn có sự cân bằng động (hiểu theo nghĩa rừng có sự sinh trưởng,
phát triển cân đối các yếu tố cấu thành), rừng có tính ổn định, tự điều hòa và tự
phục hồi để chống lại những biến đổi của hoàn cảnh và những biến đổi về số
lượng sinh vật. Những khả năng này được hình thành do kết quả của sự tiến hóa lâu
dài và kết quả của sự chọn lọc tự nhiên của tất cả các thành phần rừng. Tính cân
bằng động có thể thấy như, trong hệ sinh thái nước ngọt rừng tràm, vào mùa hạn,
nhiều loài dây leo kết thúc chu kì sinh trưởng và chúng cho ra những hạt, bông,
nhánh… để sinh sản khi điều kiện thuận lợi thích nghi, như rau đắng đất, rau đắn
biển,…khi mùa mưa đến chúng tiếp tục sinh sôi và phát triển.
Ba là, rừng có khả năng tự phục hồi và trao đổi. Rừng có sự cân bằng đặc
biệt về sự trao đổi năng lượng và vật chất, luôn tồn tại quá trình tuần hoàn sinh vật,
trao đổi vật chất năng lượng, đồng thời nó thải ra khỏi hệ sinh thái các chất và bổ
sung thêm vào đó một số chất từ các hệ sinh thái khác. Nhờ đặc điểm này mà rừng
có vai trò cân bằng môi trường sinh thái. Chẵn hạn, như cây xanh hấp thụ khí
Cacbon đioxit (CO2) và qua quá trình quang hợp tạo ra khí Oxy (O2)… từ đó góp
phần làm trong lành môi trường.
Bốn là, sự vận động của rừng nằm trong các tác động tương hỗ phức tạp dẫn

tới sự ổn định bền vững của hệ sinh thái. Theo đó, rừng có phân bố địa lý. Trong hệ
sinh thái nước ngập mặn có nhiều loại cây rừng như đước, mấm,…tương ứng với


10

chúng là những loại động vật, vi sinh vật thích nghi như cá kèo, cua, ba khía; trong
khi đó trong hệ sinh thái nước ngọt có nhiều loại cây rừng thích nghi như, tràm, cây
bình bát, sậy, ráng, dây choại… gắn với loài cây này là nhiều loài thủy sinh, như kì
đà, nhím,…Rõ ràng, rừng có tính vận động trong sự chịu tác động tổng hợp của các
yếu tố và đi đến sự cân bằng và phân bố địa lý.
1.1. . Phân loại rừng
Tùy theo đặc điểm từng nhóm đối tượng mà pháp luật đưa ra những chế tài
khác nhau, theo đó có những cách phân loại đối tượng theo cách tiếp cận nhất định.
Trong hoạt động quản lý nói chung, hoạt động quản lý nhà nước nói riêng đều cho
thấy, khi đối tượng của quản lý thay đổi thì chủ thể cũng phải cần thay đổi để đạt
mục tiêu theo định hướng chủ thể, mỗi đối tượng đều có những tính chất, đặc thù
riêng của nó. Đối tượng của rừng rất rộng lớn, để bảo vệ, quản lý, phát triển, cũng
như tiến hành nghiên cứu, hoạt động kinh doanh rừng theo hướng ổn định bền vững
cần phải phân loại rừng thành những đơn vị cơ bản có những đặc điểm tự nhiên
giống nhau, những đơn vị cơ bản đó chính là các loại rừng. Cho nên việc phân loại
rừng là rất cần thiết để bảo vệ nó, việc phân loại xem xét theo những phương diện,
tính chất và mục đích khác nhau, sẽ cho chúng ta những loại rừng tương ứng với sự
xem xét đó. Theo điều 4, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004, nước ta có cách
phân loại rừng như sau:
- Căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu, rừng được phân thành ba loại sau
đây:
+ Rừng phòng hộ: Được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất,
chống xói mòn, chống sa mạc hóa, hạn chế thiên tai, điều hoà khí hậu, góp phần bảo
vệ môi trường, bao gồm: Rừng phòng hộ đầu nguồn; rừng phòng hộ chắn gió, chắn

cát bay; rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển; rừng phòng hộ bảo vệ môi trường.
+ Rừng đặc dụng: Được sử dụng chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn
hệ sinh thái rừng của quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng; nghiên cứu khoa học; bảo
vệ di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh; phục vụ nghỉ ngơi, du lịch, kết hợp
phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường, bao gồm: Vườn quốc gia; khu bảo tồn thiên


11

nhiên, gồm khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài-sinh cảnh; khu bảo vệ cảnh
quan, gồm khu rừng di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh; khu rừng nghiên
cứu, thực nghiệm khoa học.
+ Rừng sản xuất: Được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh gỗ, lâm sản
ngoài gỗ và kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường, bao gồm: Rừng sản
xuất là rừng tự nhiên; rừng sản xuất là rừng trồng; rừng giống, gồm rừng trồng và
rừng tự nhiên qua bình tuyển, công nhận.
Theo Thông tư số 34/2009/TT-BNNPTNT, ngày 10 tháng 6 năm 2009 do Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành về quy định tiêu chí xác định và
phân loại rừng (sau đây gọi là thông tư 34/2009/TT-BNNPTNT) đã hướng dẫn phân
loại rừng cụ thể hơn so với Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004, đó là:
- Phân loại rừng theo nguồn gốc hình thành, gồm có:
+ Rừng tự nhiên: Là rừng có sẵn trong tự nhiên hoặc phục hồi bằng tái sinh tự
nhiên. Rừng nguyên sinh là rừng chưa hoặc ít bị tác động bởi con người, thiên tai;
cấu trúc của rừng còn tương đối ổn định. Rừng thứ sinh là rừng đã bị tác động bởi
con người hoặc thiên tai tới mức làm cấu trúc rừng bị thay đổi, gồm rừng phục hồi
là rừng được hình thành bằng tái sinh tự nhiên trên đất đã mất rừng do nương rẫy,
cháy rừng hoặc khai thác kiệt; rừng sau khai thác là rừng đã qua khai thác gỗ hoặc
các loại lâm sản khác.
+ Rừng trồng: Là rừng được hình thành do con người trồng, gồm rừng trồng
mới trên đất chưa có rừng; rừng trồng lại sau khi khai thác rừng trồng đã có; rừng

tái sinh tự nhiên từ rừng trồng đã khai thác.
Theo thời gian sinh trưởng, rừng trồng được phân theo cấp tuổi, tùy từng loại
cây trồng, khoảng thời gian quy định cho mỗi cấp tuổi khác nhau.
- Phân loại rừng theo điều kiện lập địa, bao gồm:
+ Rừng núi đất: Là rừng phát triển trên các đồi, núi đất.
+ Rừng núi đá: Là rừng phát triển trên núi đá hoặc trên những diện tích đá lộ
đầu không có hoặc có rất ít đất trên bề mặt.


12

+ Rừng ngập nước: Là rừng phát triển trên các diện tích thường xuyên ngập
nước hoặc định kỳ ngập nước, gồm rừng ngập mặn là rừng phát triển ven bờ biển
và các cửa sông lớn có nước triều mặn ngập thường xuyên hoặc định kỳ; rừng trên
đất phèn là rừng phát triển trên đất phèn, đặc trưng là rừng tràm ở Nam Bộ; rừng
ngập nước ngọt là rừng phát triển ở nơi có nước ngọt ngập thường xuyên hoặc định
kỳ; rừng trên đất cát là rừng trên các cồn cát, bãi cát.
- Phân loại rừng theo loài cây, bao gồm:
+ Rừng gỗ: Là rừng bao gồm chủ yếu các loài cây thân gỗ, gồm rừng cây lá
rộng là rừng có cây lá rộng chiếm trên 75% số cây; rừng lá rộng thường xanh là
rừng xanh quanh năm; rừng lá rộng rụng lá là rừng có các loài cây rụng lá toàn bộ
theo mùa chiếm 75% số cây trở lên; rừng lá rộng nửa rụng lá là rừng có các loài cây
thường xanh và cây rụng lá theo mùa với tỷ lệ hỗn giao theo số cây mỗi loại từ 25%
đến 75%. Rừng cây lá kim là rừng có cây lá kim chiếm trên 75% số cây. Rừng hỗn
giao cây lá rộng và cây lá kim là rừng có tỷ lệ hỗn giao theo số cây của mỗi loại từ
25% đến 75%.
+ Rừng tre nứa: Là rừng chủ yếu gồm các loài cây thuộc họ tre nứa, như: tre,
mai, diễn, nứa, luồng, vầu, lô ô, le, mạy san, hóp, lùng, bương, giang, ….
+ Rừng cau dừa: Là rừng có thành phần chính là các loại cau dừa.
+ Rừng hỗn giao gỗ và tre nứa, gồm rừng hỗn giao gỗ-tre nứa là rừng có cây

gỗ chiếm hơn 50% độ tàn che; rừng hỗn giao tre nứa-gỗ là rừng có cây tre nứa
chiếm hơn 50% độ tàn che.
- Phân loại rừng theo trữ lượng, bao gồm:
+ Đối với rừng gỗ: Gồm rừng rất giàu là trữ lượng cây đứng trên 300 m3/ha;
rừng giàu là trữ lượng cây đứng từ 201 đến 300 m3/ha; rừng trung bình là trữ lượng
cây đứng từ 101 đến 200 m3/ha; rừng nghèo là trữ lượng cây đứng từ 10 đến 100
m3/ha; rừng chưa có trữ lượng là rừng gỗ đường kính bình quân nhỏ hơn 8 cm, trữ
lượng cây đứng dưới 10 m3/ha.


13

+ Đối với rừng tre nứa, gồm rừng được phân theo loài cây, cấp đường kính và
cấp mật độ8 .
Cách phân loại rừng trên theo văn bản quy phạm pháp luật nước ta, có sự khác
nhau ở những thời điểm nhất định và khác với một số nước khu vực9. Sự phân loại
đó mang tính tương đối, xét trong phương diện này thì một loại rừng nhất định
thuộc dạng rừng này và trong phương diện khác nó cũng thuộc dạng rừng khác.
Điều đó cho thấy trong hoạt động quản lý, bảo vệ rừng luôn cần sự kết hợp tính
tương đồng và thấy sự khác biệt giữa các dạng rừng với nhau, để từ đó có biện pháp
quản lý, bảo vệ, phát triển chúng cho thích hợp.
Rừng tràm, rừng đước là một dạng rừng ngập nước thích ứng chủ yếu ở vùng
Nam Bộ có đất nhiễm phèn, đất ngập nước mặn, nhất là khu vực Đồng bằng sông
Cửu Long. Xét theo cách phân loại rừng của Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm
2004, rừng tràm, rừng đước vừa là rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất,
chúng cũng đồng thời có rừng tự nhiên và rừng nhân tạo. Trong điều kiện thổ
nhưỡng của tỉnh Cà Mau, hai loại rừng này chiếm ưu thế cơ bản nhất của tỉnh, rừng
đước thích nghi vùng đất ngập nước mặn, rừng tràm thích nghi vùng đất ngập nước
nhiễm phèn, đất ngập úng, đất than bùn, nước ngọt, nước lợ.
1.1.4. Vai trò của rừng

Vấn đề cân bằng hệ sinh thái luôn là mục tiêu quan tâm của mọi quốc gia, trở
thành vấn đề toàn cầu và ngày càng cấp thiết, sự tồn tại và phát triển bền vững con
người không thể diễn ra đâu khác ngoài môi trường sinh thái. Trong cân bằng môi
trường sinh thái, từ những đặc điểm của rừng cho thấy, rừng có chức năng là hạt
nhân giữ sự cân bằng này, có vai trò không chỉ trong kiến tạo cân bằng môi trường
từ nhiên mà cả trong lĩnh vực xã hội, kinh tế, văn hóa, khoa học… Rõ ràng, loài
người tồn tại và phát triển được luôn gắn liền với môi trường sống của mình, có sự

8

Xem: Bảng 1.1, tr.3, Bảng 1.2, tr.3, Bảng 1.3, tr.4 và Bảng 1.4, tr.4, Thông tư 34/2009/TT-BNNPTNT.

9

Laty Phengsibay (2007), Tăng cường quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng ở tỉnh Sa Vănnakhet,

Luận văn Thạc sỹ hành chính công, Học viện hành chính Quốc Gia (National Academy of Public
Administration).


14

ảnh hưởng tương tác mạnh mẽ với nhau. Thực tiễn chỉ ra, con người sống, tồn tại và
phát triển được không thể thoát khỏi môi trường sống có rừng. Xem xét khía cạnh
vai trò của rừng đối với sự phát triển cuộc sống con người, chính là tập trung vào
tầm quan trọng của rừng đối với sự phát triển. Theo các nhà Mácxít, sự phát triển
của xã hội loài người phải luôn gắn liền với bảo vệ môi trường sinh thái, rừng là
thành tố cơ bản của môi trường sinh thái. Bác Hồ đã chỉ rõ vai trò đặc biệt quý báu
của rừng, rừng là vàng, nếu con người biết bảo vệ, sử dụng thì rừng rất quý. Hệ
thống các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng nước ta được

Nhà nước ban hành cũng thể hiện tầm quan trọng của nó đối với sự phát triển kinh
tế-xã hội. Xét tổng thể trên cơ sở nhận thức về rừng, có thể thấy rừng có vai trò trực
tiếp và tiềm năng to lớn đối với sự phát triển kinh tế-xã hội và với chính môi trường
sinh thái. Tác giả xin nêu một số vai trò cơ bản của rừng được thể hiện trên các
phương diện sau:
1.1.4.1. Vai trò kinh tế
Rừng cung cấp lâm sản là gỗ và lâm sản ngoài gỗ, cung cấp dược liệu cho con
người, thông qua rừng mà nhân dân tiến hành hoạt động kinh doanh, sản xuất đem
lại thu nhập, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp, bảo tồn nguồn gien giống loài
động vật, thực vật và vi sinh vật. Rừng chiếm tỷ trọng GDP cao trong nền kinh tế
quốc dân nước ta10, nhất là trong điều kiện nước ta có nền kinh tế chưa phát triển
cao khoa học, công nghệ, cơ cấu kinh tế nông, lâm, ngư nghiệp là thế mạnh của nền
kinh tế. Giá trị nông-lâm-ngư nghiệp chiếm tỷ trọng trên 20% GDP nền kinh tế
quôc dân trong chiến lược phát triển kinh tế.
Lâm sản gỗ của rừng có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế. Trong điều
kiện nước ta đang đẩy mạnh công nghiệp hóa thì nó là nguồn nguyên liệu cơ bản,
vật liệu phục vụ cho xây dựng. Động vật, thực vật rừng là đặc sản phục vụ nhu cầu
tiêu dùng của nhân dân. Rừng còn là nơi cung cấp dược liệu quý, cung cấp lương
thực làm nguồn nguyên liệu chế biến thực phẩm phục vụ cho nhu cầu chữa bệnh,
chăm sóc sức khỏe, cải thiện đời sống nhân dân.
10

Đảng Cộng sản Việt Nam (2011),Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội,tr.16.


15

Theo Đề án bảo tồn và phát triển lâm sản ngoài gỗ giai đoạn 2006 – 2020 của
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn năm 2006, giá trị lâm sản ngoài gỗ xuất
khẩu năm 2006 được 154 triệu USD, năm 2008 được 200 triệu USD và được 300

triệu USD vào năm 2010, dự kiến được 600 triệu USD vào năm 2015. Giá trị lâm
sản ngoài gỗ cho tiêu dùng nội địa ước bằng 50% giá trị xuất khẩu của lâm sản
ngoài gỗ11.
Điều kiện địa lý nước ta tương đối thuận lợi, thích ứng với nhiều loài động
vật, thực vật và vi sinh vật. Có bờ biển dài, đồi núi cao thấp, địa hình, khí hậu, đất
đai khác nhau, mực nước biển chênh lệch so với đỉnh núi cao nhất 3.000 m. Điều
này nói lên tính đa dạng sinh học rừng của nước ta, tính giá trị kinh tế của nó hơn
hẳn các nước khu vực. Thực vật rừng có khoảng 12.000 loài, có được 10.500 loài
được miêu tả, có 10% loài đặc hữu, 800 loài rêu, 600 loài nấm…khoảng 2.300 loài
cây có mạch đã được dùng làm lương thực, thực phẩm, thức ăn. Về cây gỗ có 41
loài gỗ quý (nhóm 1), 20 loài gỗ bầu chắc (nhóm 2), 24 loài gỗ đồ mộc và xây dựng
(nhóm 3), ngoài ra còn khoảng 25 loài tre, trúc…Dược liệu có khoảng 1.500 loài,
75% là cây hoang dại, như cây tô hạp (Altingia sp), cây gió bầu (Aguilaria)….
Động vật có 774 loài chim, 273 loài thú, 180 loài bò sát, 80 loài lưỡng cư, 475 loài
cá nước ngọt, 1.650 loài cá rừng gập mặn và cá biển12.
1.1.4.2. Vai trò xã hội
Tỷ lệ hộ nghèo nước ta còn cao, phần lớn hộ nghèo tập trung ở nông thôn, nơi
sản xuất nông-lâm-ngư nghiệp. Tỷ trọng lao động nông-lâm-thuỷ sản năm 2015
chiếm 40-41% lao động xã hội13. Đời sống của nhân dân nơi đây dựa vào tự nhiên
là chủ yếu, trong đó có thu nhập cuộc sống phụ thuộc vào khai thác rừng. Rừng đem
lại thu nhập cho người nghèo, nó gắn bó với công tác xóa đói giảm nghèo. Bao đời
nay, nghề rừng đã được hình thành và trở thành nghề chính của nông dân có rừng,
11

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2006), Đề án bảo tồn và phát triển lâm sản ngoài gỗ giai đoạn

2006 – 2020,
12

Viện điều tra Quy hoạch rừng (1999), Hiện trạng rừng ngập nước Việt Nam, số 06/1999, tr.3.


13

Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Cà Mau lần thứ XIV (2011), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Cà Mau lần thứ

XIV, tr.22.


16

sống ven rừng. Thực hiện chủ trương của nhà nước về quy hoạch rừng, chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội nói chung đã tác động mạnh mẽ
đến chính sách an sinh xã hội, trong đó có tác động mạnh đến nhân dân sống dựa
vào thu nhập nghề rừng14.
Vai trò của rừng đối với xã hội không chỉ giải quyết việc làm, đem thu nhập
cho người nghèo, cận nghèo, người có rừng, sống ven rừng mà còn tạo việc làm lao
động cho đơn vị kinh tế tham gia vào hoạt động sản xuất, kinh doanh lâm nghiệp.
Theo Kế hoạch hành động bảo tồn và phát triển lâm sản ngoài gỗ giai đoạn 20072010 ngày 07 tháng 8 năm 2007 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, nước
ta có 88 doanh nghiệp chế biến tre, trúc; 40 công ty chế biến mây, song; 713 hợp tác
xã, làng nghề mây tre đan với số lao động 342.000 người, chiếm 25,4 % tổng số thợ
thủ công. Hiện có 115 doanh nghiệp nhà nước, 10 công ty cổ phần, 36 công ty trách
nhiệm hữu hạn, 170 doanh nghiệp tư nhân sản xuất thuốc chữa bệnh chủ yếu là
thuốc từ cây dược liệu. Ngoài ra, cả nước có 05 nhà máy chế biến nhựa thông, năng
lực chế biến nhựa thông là 15.000 tấn nhựa/năm, đã hình thành một số doanh
nghiệp chuyên chiết xuất các sản phẩm hoá chất có nguồn gốc tự nhiên và các loại
tinh dầu có nguồn gốc thực vật15.
1.1.4.3. Vai trò cân bằng môi trường sinh thái của rừng, vai trò này thể hiện
qua các khía cạnh sau:
Rừng điều hoà khí hậu, cân bằng sinh thái cho môi trường. Từ lâu rừng được
xem là lá phổi xanh của con người, của môi trường. Nó làm giảm nhiệt độ của

luồng khí nóng ban ngày do ánh sáng mặt trời, chất thải của động cơ gây ra, đồng
thời duy trì được độ ẩm môi trường. Rừng còn bổ sung khí cho không khí và ổn
định khí hậu môi trường bằng cách đồng hoá carbon và cung cấp oxy.

14

Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg, ngày 08 tháng 02 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành một

số chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng (sau đây gọi là Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg).
15

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2007), Kế hoạch hành động bảo tồn và phát triển lâm sản ngoài

gỗ giai đoạn 2007 – 2010


17

Rừng có vai trò ảnh hưởng đến gió, là vật cản trên đường vận chuyển của gió,
nó vừa ảnh hưởng đến vận tốc của gió (xem Bảng 1.5) và vừa làm thay đổi hướng
gió, và từ đó làm thay đổi các nhân tố khác của hoàn cảnh sinh thái, đồng thời rừng
giảm âm thanh16. Ví dụ như một dải cây rộng 50 m ở cạnh đường giao thông có khả
năng làm giảm tiếng ồn 20 đến 30 dB. Khả năng làm giảm tiếng ồn cũng phụ thuộc
vào cấu trúc rừng.
Bảng 1.1: Ảnh hưởng của rừng đến tốc độ gió
Chỉ số theo dõi
Cự ly cách bia lửng
(m)
Tốc độ gió (%)


Mặt đón gió

Mặt khuất gió

117

81

3

0

0

64

170

256

470

100

82

98

85


23

28

30

l98

100

Nguồn: theo Nestero
Không chỉ điều hòa khí hậu, giảm tốc độ và thay đổi hướng gió, giảm âm
thanh mà rừng còn có vai trò to lớn đối với giữ độ phì nhiêu, màu mở và chóng xói
mòn cho đất.
Ở những nơi có đủ rừng thì dòng chảy được ngăn chặn, ngăn chặn được nạn
bào mòn, nhất là trên đồi núi dốc nên lớp đất mặt không bị mỏng, bị bào mòn, mọi
đặc tính lý hóa và vi sinh vật học của đất không bị phá hủy, độ phì nhiêu đất được
duy trì.
Rừng lại liên tục tạo ra chất hữu cơ. Điều này thể hiện ở quy luật phổ biến,
rừng tốt tạo ra đất tốt và đất tốt nuôi lại rừng tốt. Nếu rừng bị phá hủy, đất bị xói
mòn, quá trình đất mất mùn và thoái hóa dễ xảy ra rất nhanh chóng. Ước tính ở nơi
rừng bị phá hoang trơ đất trống mỗi năm bị rửa trôi mất khoảng 10 tấn mùn/ha 17.
Đồng thời quá trình tích tụ sắt, nhôm, hình thành kết von, hóa đá ong lại tăng cường
16

Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam (1990), Sự tạo sinh khối của rừng, NXB. Nông nghiệp, tr.12.

17

Võ Văn Từ (2008), Quản lý nhà nước về phát triển rừng bền vững khu vực Tây nguyên, Luận văn Thạc sỹ


Hành chính công, Học viện Hành chính Quốc gia, tr.19


18

lên, làm cho đất mất tính chất hóa lý, mất vi sinh vật, không giữ được nước, dễ bị
khô hạn, thiếu chất dinh dưỡng, trở nên rất chua, kết cứng lại, đi đến cằn cỗi, trơ sỏi
đá. Thể hiện một quy luật khá phổ biến, đối lập với quy luật trên, tức là rừng mất thì
đất kiệt và đất kiệt thì rừng cũng bị suy vong.
Rừng còn có vai trò điều hòa nguồn nước, giảm dòng chảy bề mặt đất và
chuyển nước bề mặt vào lượng nước ngấm xuống đất và vào tầng nước ngầm. Khắc
phục được xói mòn đất, hạn chế lắng đọng lòng sông, lòng hồ, điều hòa được dòng
chảy của các con sông, con suối (tăng lượng nước sông, nước suối vào mùa khô,
giảm lượng nước sông suối vào mùa mưa), rừng chống cát di động ven biển, che
chở cho vùng đất bên trong nội địa, bảo vệ đê biển, cải hóa vùng chua phèn. Rừng
còn giữ vai trò bảo tồn đa dạng sinh học cả động vật, thực vật và vi sinh vật.
Nước ta có rừng rất phong phú bởi đặc trưng về khí hậu, địa hình, đất đai. Có
gió mùa đông nam thổi tới, gió lạnh đông bắc tràn về, gió từ cao nguyên Tây Tạng
và sườn Đông dãy Hymalaya, gió tây nam từ Ấn Độ Dương đi qua, điều này đem
các loại hạt giống của các loài cây di cư đến nước ta. Vì vậy, thảm thực vật nước ta
rất phong phú, một số loài động vật, thực vật và vi sinh vật trở nên hiếm có và
phong phú.
Với đặc điểm sông ngoài, rừng nước ta đã hình thành nên các loài động vật,
thực vật và vi sinh vật đặc hữu riêng cho từng vùng. Có loài chỉ thích ứng sống
trong bùn lầy, có loài sống vùng nước mặt,… đồng thời tạo nên các loài rừng đặc
trưng chỉ có tại vùng đó. Cho nên rừng còn là nguồn dự trữ các gen quý hiếm của
động vật, thực vật và vi sinh vật rừng.
Rừng góp phần ngăn chặn hiện tượng nước biển dâng cao, do giảm nhiệt độ
của mặt trời, bức xạ chiếu xuống bề mặt Trái Đất. Vào thời điểm mùa hè, nhiệt độ

cao nhất trong ngày 14 giờ, nếu nhiệt độ ở trung tâm đô thị có ít cây xanh 33,60C,
thì nhiệt độ giảm xuống ở các công viên có nhiều cây xanh còn 31,5 0C, ở nông thôn
nhiều cây cói nhiệt độ chỉ còn khoảng 280C-290C. Điều này cho thấy rừng còn có
vai trò ngăn chặn hiện tượng khí nhà kính18.
18

Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam (1990), Sự tạo sinh khối của rừng, NXB. Nông nghiệp, tr. 38.


×