Tải bản đầy đủ (.pdf) (87 trang)

Xây dựng hệ thống bài tập nâng cao về từ và câu cho học sinh lớp 3 trường tiểu học đồng phú

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (983.13 KB, 87 trang )

LỜI CẢM ƠN
Là một giáo viên Tiểu học trong tương lai bên cạnh việc học tập để có kiến
thức chuyên môn sâu sắc, tôi đã không ngừng tìm hiểu, học hỏi nhằm tích luỹ kinh
nghiệm cho bản thân phục vụ tốt cho công tác giảng dạy sau này. Chính vì vậy, thực
hiện đề tài khoá luận là một công việc hết sức cần thiết và bổ ích. Đối với tôi đây
thực sự là những tháng ngày quý giá và có ý nghĩa. Khoá luận tốt nghiệp là bước
cuối cùng đánh dấu sự trưởng thành của một sinh viên ở giảng đường để trở thành
cử nhân. Trong quá trình thực hiện và hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này, ngoài
sự nỗ lực, cố gắng của bản thân còn nhờ sự quan tâm giúp đỡ, hỗ trợ động viên từ
gia đình, quý thầy cô và các bạn. Sau đây em xin gửi lời cảm ơn sắc đến.
Ban giám hiệu nhà trường, quý thầy cô giáo trường Đại học Quảng Bình, các
thầy cô trong khoa Sư phạm Tiểu học-Mầm non đã quan tâm, tận tình dạy bảo trong
suốt thời gian học tập tại trường.
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến TS.Nguyễn Thị Nga, người đã
tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu khoá
luận.
Dù có nhiều cố gắng nhưng đề tài chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót,
tôi rất mong nhận được sự chỉ dẫn và góp ý của quý thầy cô giáo cùng các bạn để đề
tài được hoàn thiện hơn.
Sau cùng, tôi xin kính chúc quý thầy cô dồi dào sức khoẻ để tiếp tục thực hiện
sứ mệnh cao đẹp của mình là truyền đạt kiến thức cho thế hệ mai sau.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Đồng Hới, tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Lê Thị Thu Hương


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng
dẫn của TS.Nguyễn Thị Nga, các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong khoá luận
là trung thực, khách quan và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào


khác.
Đồng Hới, tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Lê Thị Thu Hương


MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
1. Lí do chọn đề tài ..................................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu ...................................................................................... 2
3. Mục đích nghiên cứu .............................................................................................. 4
4. Nhiêm vụ nghiên cứu ............................................................................................. 5
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .......................................................................... 5
6. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................................ 5
7. Đóng góp của khóa luận ......................................................................................... 6
8. Cấu trúc của khóa luận ........................................................................................... 6
PHẦN NỘI DUNG ..................................................................................................... 7
CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI ..................................................... 7
1.1 Cơ sở lí luận ......................................................................................................... 7
1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài ............................................................... 7
1.1.2. Đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học .................................................... 12
1.1.3. Đặc điểm tâm lí của học sinh lớp 3 ................................................................ 14
1.1.4. Ý nghĩa của viêc xây dựng hệ thống bài tập .................................................. 14
1.2. Cơ sở thực tiễn ................................................................................................... 15
1.2.1. Vị trí, nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu ở Tiểu học .......................... 15
1.2.2. Nội dung chương trình và sách giáo khoa Luyện từ và câu lớp 3. ................. 17

1.2.3 Khảo sát thực trạng việc dạy - học phân môn Luyện từ và câu lớp 3 tại trường
tiểu học Đồng Phú – Đồng Hới – Quảng Bình ......................................................... 19
CHƯƠNG II: XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP NÂNG CAO VỀ TỪ VÀ CÂU
CHO HỌC SINH LỚP 3 TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐỒNG PHÚ ............................... 25


2.1 Hệ thống hoá các dạng bài tập về từ và câu trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp
3

............................................................................................................................ 25

2.1.1. Hệ thống hoá các dạng bài tập ........................................................................ 25
2.1.2.Nhận xét hệ thống bài tập trong sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học phân môn
LTVC lớp 3............................................................................................................... 27
2.2 Xây dựng hệ thống bài tập nâng cao về từ và câu cho học sinh lớp 3 ............... 28
2.2.1 Mục đích xây dựng hệ thống bài tập ............................................................... 28
2.2.2 Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập ............................................................ 29
2.3. Một số cách xây dựng bài tập ............................................................................ 31
2.3.1. Bài tập về từ theo từng chủ điểm .................................................................... 31
2.3.2. Bài tập về kiểu câu Ai là gì? Ai làm gì? Ai thế nào? ..................................... 46
2.3.3. Bài tập đặt và trả lời câu hỏi Khi nào? Ở dâu? Vì sao? Để làm gì? Bằng gì? 51
CHƯƠNG III: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM........................................................... 59
3.1. Mục đích thực nghiệm ....................................................................................... 59
3.2. Khu vực và địa bàn thực nghiệm ....................................................................... 59
3.3. Kế hoạch thực nghiệm ....................................................................................... 59
3.3.1. Tiến trình thực nghiệm ................................................................................... 59
3.3.2. Nội dung thực nghiệm .................................................................................... 60
3.3.3.Phương pháp thực nghiệm sư phạm ................................................................ 71
3.4. Tiến hành thực nghiệm ...................................................................................... 71
3.5. Kiểm tra và đánh giá kết quả thực nghiệm ........................................................ 71

3.5.1. Kết quả thực nghiệm....................................................................................... 72
3.5.2. Nhận xét, đánh giá kết quả thực nghiệm ........................................................ 74
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................. 78
PHỤ LỤC ................................................................................................................... 1


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Kí hiệu
SGK
TV
LTVC

Chú giải
Sách giáo khoa
Tiếng Việt
Luyện từ và câu

GV

Giáo viên

HS

Học sinh

NXB
[15,tr9]


Nhà xuất bản
Tài liệu số 15 trang 9


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong xu thế phát triển toàn cầu như hiện nay, việc phát triển con người toàn
diện là việc thiết yếu. Là người Việt Nam sử dụng thuần thục ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ
là việc thiết thực. Môn Tiếng Việt ở các cấp học nói chung, ở tiểu học nói riêng,
phân môn luyện từ và câu giúp học sinh hình thành và phát triển các kỹ năng sử
dụng tiếng việt. Môn Tiếng Việt tập trung thể hiện 4 kỹ năng (nghe, nói, đọc, viết).
Đây là những kỹ năng quan trọng để học sinh học tập và giao tiếp trong các môi
trường đồng thời là cơ sở để học sinh tiếp thu và học tốt các môn học khác ở lớp
trên. Qua các bài tập về từ, câu học sinh được mở rộng tăng cường các kỹ năng
dùng từ, câu trong hoạt động giao tiếp, học tập.
Theo cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói : “Trong ngôn ngữ thì từ quan
trọng nhất, rồi đến câu sau đó đến văn”. Cho nên dạy từ và câu là rất cần thiết. Khi
từ và câu được trang bị đầy đủ thì mới tạo tiền đề cho văn hay, giao tiếp tốt. Bởi
muốn viết được bài văn hay, giao tiếp tốt thì học sinh phải có vốn từ, hiểu được từ
và từ đó chuyển thành câu. Chính vì vậy từ và câu luôn song hành với nhau và đều
quan trọng như nhau.
Từ là một đơn vị cơ bản của hệ thống ngôn ngữ. Muốn nắm được một ngôn
ngữ nào đó thì đầu tiên phải nắm được vốn từ. Nếu không làm chủ được vốn từ của
một ngôn ngữ thì không thể sử dụng ngôn ngữ đó như một công cụ để học tập và
giao tiếp. Ngoài ra vốn từ ngữ của một con người càng giàu bao nhiêu thì khả năng
lựa chọn từ ngữ của người đó càng lớn, khả năng diễn đạt của người đó càng chính
xác, tinh tế bấy nhiêu. Vì vậy, dạy luyện từ cho học sinh tiểu học là phải làm giàu
vốn từ ngữ cho học sinh phải chú trọng số lượng từ, tính đa dạng và tính năng động
của từ...
Tuy nhiên từ không phải là đơn vị trực tiếp sử dụng trong giao tiếp. Muốn

giao tiếp, trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm với nhau con người phải sử dụng
một ngôn ngữ tối thiểu và cơ bản là câu. Nếu không nắm được quy tắc ngữ pháp
của một ngôn ngữ thì con người cũng không thể sử dụng được ngôn ngữ đólàm
công cụ để giao tiếp. Vì vậy dạy từ ngữ cho học sinh phải gắn liền với dạy câu, dạy
quy tắc kết hợp từ thành câu, quy tắc sử dụng câu nhằm đạt hiệu quả giao tiếp cao.
1


Những phân tích trên cho ta thấy ý nghĩa quan trọng của việc học luyện từ và
câu ở tiểu học. Tuy nhiên thực tiễn dạy và học từ và câu ở bậc tiểu học nói chung,
lớp 3 nói riêng hiện nay còn gặp nhiều hạn chế nhất định. Nhìn chung các giáo viên
tiểu học đều cho rằng luyện từ và câu là một môn học khó đối với người dạy và
người học. Nhiều giáo viên còn lúng túng khi dạy và phụ thuộc nhiều vào sách giáo
khoa, chưa tạo được các hoạt động học tập để tiết học thêm sinh động hay các bài
tập mà giáo viên sử dụng chưa khai thác hết năng lực của học sinh.
Về phía học sinh, qua học luyện từ và câu các em được trang bị vốn từ ngữ
phong phú nhưng hiện tượng học sinh chưa hiểu đầy đủ về từ, dùng từ sai, sử dụng
câu không hợp ngữ cảnh, chư hợp tình huống còn xảy ra. Có em chưa thực sự nhạy
bén với các bài tập, nhiều bài tập các em chưa làm được.
Trong những năm gần đây việc dạy học luyện từ và câu cũng đã được các giáo
viên chú trọng hơn, song vấn đề phát triển câu, từ nâng cao cho học sinh chưa được
quan tâm nhiều.
Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi lựa chọn đề tài: “Xây dựng hệ thống bài
tập nâng cao về từ và câu cho học sinh lớp 3 trường Tiểu học Đồng Phú”. Nhằm
góp phần nâng cao kiến thức về từ và câu cho học sinh lớp 3 qua đó hỗ trợ cho việc
dạy học tốt Tiếng Việt nói chung và phân môn LTVC nói riêng.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Vấn đề về từ và câu được các nhà ngôn ngữ học quan tâm từ rất sớm, từ thời
cổ đại, các công trình nghiên cứu về ngữ pháp bàn về câu tương đối nhiều.
Liên quan đến những vấn đề được đề cập trong khóa luận và phù hợp

với phạm vi, mục đích nghiên cứu của đề tài, tôi xin điểm qua lịch sử vấn đề dạy
học từ và câu ở Tiểu học.
Có thể dẫn ra một số công trình tiêu biểu:
* Nguyễn Minh Thuyết, Hỏi - đáp về dạy học Tiếng Việt 3, NXB GD, 2004.
Trong cuốn sách này tác giả Nguyễn Minh Thuyết đã đề cập đến nhiều vấn đề xoay
quanh phân môn Luyện từ và câu thông qua hệ thống câu hỏi và câu trả lời. Đặc
biệt, tác giả đã đưa ra một số kiểu bài tập rèn luyện về từ, câu ở lớp 3, kèm theo
hướng dẫn cách dạy các kiểu bài đó.
2


Đóng góp của công trình này là đã giải đáp được một số nội dung rong chương
trình Tiếng Việt 3 mà nhiều giáo viên còn băn khoăn, thắc mắc. Tuy nhiên, những
bài tập đưa ra làm ví dụ minh họa ở đây đều được lấy ra từ sách giáo khoa Tiếng
Việt 3 nên đều là những bài tập quen thuộc với cả giáo viên và học sinh, và chưa có
tính hệ thống.
* Bùi Minh Toán, Viết Hùng, Luyện từ và câu Tiếng Việt, NXB Đại học Sư
phạm, 2005.
Cuốn sách này gồm 2 phần: Phần 1 trình bày: những điểm cần lưu ý về Luyện
từ và câu ở sách Tiếng Việt lớp 3, Phần 2 trình bày: gợi ý làm bài tập và các bài tập
bổ trợ.
Đây là cuốn sách tham khảo cho giáo viên và học sinh khi dạy phân môn
Luyện từ và câu trong sách Tiếng Việt 3. Cuốn sách này đã gợi ý được cách giải
những bài tập trong chương trình học một cách tương đối rõ ràng dễ hiểu. Đặc biệt
cuốn sách này đã đưa thêm được một hệ thống hỗ trợ cho từng bài học để giáo viên
có thể dùng trong giờ dạy, khiến tiết học thêm sinh động và ít lệ thuộc vào sách giáo
khoa hơn. Song các bài tập được trình bày cũng chưa thực sự có tính hệ thống.
*Các công trình nghiên cứu chính về các kiểu câu
- Diệp Quang Ban (2004), Ngữ pháp Tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội.
- Diệp Quang Ban (2006), Ngữ pháp Việt Nam, NXB Giáo Dục, Hà Nội.

- Cao Xuân Hạo (2007), Câu Tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội.
- Nguyễn Thị Lương (2005), Câu Tiếng Việt, NXB Đại học Sư phạm, Hà
Nội.
- Hoàng Trọng Phiến (1980), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Từ điển bách khoa,
Hà Nội.
- Nguyễn Thị Thìn (2002), Câu tiếng Việt và nội dung dạy học câu ở trường
phổ thông, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội.
* Các công trình nghiên cứu chỉnh có liên quan đến việc dạy học từ và câu
ở Tiểu học.
- Lê Phương Nga, Lê A, Lê Hữu Tỉnh, Đỗ Xuân Thảo, Đặng Kim Nga (2004),
Giáo trình phương pháp dạy học Tiếng Việt 2, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội.
3


- Lê Phương Nga, Nguyễn Trí (2004), Giảo trình phương pháp dạy học tiếng
Việt.
- Lê Phương Nga (2002), Dạy học ngữ pháp ở Tiểu học, NXB Giáo dục, Hà
Nội.
- Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên) (2006), Hỏi - Đáp về dạy học Tiếng Việt
2,3,4,5, NXB Giáo dục, Hà Nội.
- Nguyễn Thị Mai Anh (2009), Các kiểu câu và việc dạy - học câu tiếng Việt ở
Tiểu học, Luận văn thạc sĩ Giáo dục học, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội 2, Hà
Nội.
- Ngô Thị Kim Hương (2007), Vấn đề thành phần câu và việc dạy-học thành
phần câu trong trường Tiểu học, Luận văn thạc sĩ Giáo dục học, NXB Đại học Sư
phạm Hà Nội 2, Hà Nội.
Có thể nói, điểm chung của các công trình này đều hướng tới mục đích là làm
thế nào để dạy, học môn Tiếng Việt ở tiểu học một cách có hiệu quả, làm thế nào để
nâng cao năng lực tiếng Việt của các em. Đã có những công trình nghiên cứu chú
trọng việc xây dựng hệ thống bài tập nhưng số lượng bài tập còn hạn chế, kiểu loại

bài tập chưa phong phú đa dạng. Đặc biệt chưa có một công trình nghiên cứu nào
xây dựng được hệ thống bài tập nâng cao dưới nhiều kiểu dạng bài tập có thể làm
tài liệu tham khảo cho giáo viên và học sinh. Từ nhu cầu thực tiễn của bản thânngười giáo viên Tiểu học tương lai và yêu cầu cung cấp kiến thức về từ và câu cho
học sinh lớp 3, tôi mạnh dạn xây dựng hệ thống bài tập nâng cao về từ và câu cho
học sinh lớp 3, dựa trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những thành tựu nghiên cứu của
người đi trước. Hệ thống bài tập trình bày trong khóa luận sẽ được sắp xếp theo trật
tự phù hợp với chương trình học, phù hợp với sự phát triển tư duy của học sinh và
đặc biệt phù hợp với phương pháp dạy – học môn Tiếng Việt nói chung và phân
môn Luyện từ và câu nói riêng.
3. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở tiếp thu những công trình liên quan đến đề tài. Đề tài khảo sát các
dạng bài tập ở trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 3 phân môn LTVC để từ đó đề
xuất xây dựng hệ thống bài tập nâng cao về từ và câu cho học sinh lớp 3, các dạng
bài tập phải mang tính sáng tạo, đảm bảo khoa học tính sư phạm đồng thời phù hợp
với mục tiêu dạy học phân môn Luyện Từ và câu.
4


4. Nhiêm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài và sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 3
NXBGD.
Tìm hiểu về thực trạng dạy học từ và câu cho học sinh tiểu học thông qua phân
môn Luyện từ và câu.
Tìm hiểu một số cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài để làm căn cứ xây dựng
hệ thống bài tập nâng cao về từ và câu.
Tiến hành điều tra thực trạng dạy và học luyện từ và câu tại trường tiểu học
Đồng Phú để thu thập kết quả đánh giá bước đầu về thực tế dạy học các dạng bài tập
về từ và câu thông qua phân môn luyện từ và câu.
Xây dựng hệ thống bài tập nâng cao về từ và câu cho học sinh lớp 3 nhằm
nâng cao hiệu quả dạy và học phân môn LTVC.

5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu
Học sinh lớp 3 và giáo viên trường Tiểu học Đồng Phú.
Hoạt động làm bài tập của học sinh Tiểu học về các dạng bài tập từ và câu.
b. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu trong phân môn Luyện từ và câu, sách giáo khoa
Tiếng Việt lớp 3 hiện hành.
Do thời gian có hạn nên đề tài chỉ tiến hành nghiên cứu và khảo sát tại trường
Tiểu học Đồng Phú.
6. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp điều tra khảo sát: Điều tra khảo sát để thấy được thực trạng
dạy và học phân môn Luyện từ và câu và những khó khăn trong quá trình giải các
bài tập trong phân môn Luyện từ và câu, qua đó xây dựng các bài tập nâng cao phù
hợp với các em.
- Phương pháp thống kê phân loại: Phương pháp này dùng để liệt kê phân
loại hệ thống bài tập, phân loại hệ thống bài tập nhằm đưa ra những con số chính
xác về các dạng bài tập và số lượng cụ thể các dạng bài tập có trong chương trình.
Từ đó làm cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo.
5


- Phương pháp phân tích tổng hợp: Phương pháp này dùng để phân tích tổng
hợp kết quả nghiên cứu của các nhà đi trước từ đó đưa ra những kết quả chung.
- Phương pháp xử lí số liệu: Sau khi tiến hành khảo sát, có được những số
liệu cụ thể sẽ tiến hành xử lý số liệu để đánh giá thực trạng dạy và học từ và câu ở
trường tiểu học Đồng Phú.
- Phương pháp điều tra An – Két: Sử dụng phiếu điều tra để thu thập ý kiến
của học sinh và giáo viên về vấn đề nghiên cứu.
7. Đóng góp của khóa luận

Việc nghiên cứu đề tài góp phần:
- Làm sáng tỏ, cụ thể hóa lí luận về dạy học phân môn LTVC.
- Tìm hiểu về thực trạng dạy học từ, câu cho học sinh tiểu học qua phân môn
Luyện từ và câu thông qua hệ thống bài tập.
- Xây dựng hệ thống bài tập nâng cao về từ và câu cho học sinh lớp 3
- Là tài liệu tham khảo cho học sinh và giáo viên trong quá trình dạy và học
phân môn LTVC.
8. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung khoá luận được
triển khai làm ba chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học của đề tài
Chương 2: Xây dựng hệ thống bài tập nâng cao về từ và câu cho học sinh lớp
3 trường Tiểu học Đồng Phú-Đồng Hới-Quảng Bình.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.

6


PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài
1.1.1.1 Từ là gì?
Khi phân tích một lời nói bất kì, chúng ta nhận thấy trong lời nói luôn luôn tồn
tại các loại đơn vị từ thấp đến cao: âm (âm vị), tiếng (hình vị), từ, mệnh đề, câu.
Các loại đơn vị ấy khác nhau về cấp độ và chức năng. Về cấp độ: Âm vị thuộc cấp
độ ngữ âm, hình vị thuộc cấp độ hình thái, từ thuộc cấp độ từ vựng và câu thuộc cấp
độ cú pháp. Về chức năng: âm vị có hai chức năng - phân biệt nghĩa và cấu tạo hình
vị, hình vị cũng có hai chức năng - biểu thị ý nghĩa và cấu tạo từ; từ cũng có hai
chức năng - định danh, biểu đạt khái niệm và cấu tạo câu, câu cũng có hai chức

năng - thông báo và cấu tạo đoạn.
Như vậy, các đơn vị được trực tiếp tạo nên từ các hình vị (tiếng) và là đơn vị
trực tiếp cấu tạo nên câu, theo truyền thống ngôn ngữ học gọi là TỪ. Chẳng hạn
trong tiếng việt có các đơn vị: chúng ta, hòa bình, yêu,…Trong đó, chúng ta do hai
hình vị chúng và ta tạo thành; yêu do một hình vị yêu tạo thành, hòa bình do hai
hình vị hòa và bình tạo thành. Đến lượt các đơn vị ấy kết hợp lại theo quy tắc ngữ
pháp tiếng việt sẽ tạo thành câu: Chúng ta yêu hòa bình. Các đơn vị nói trên được
gọi là “từ”.
Theo ngôn ngữ học đại cương, từ có các đặc điểm sau đây:
- Có hình thức ngữ âm và có ý nghĩa.
- Tính sẵn có, cố định, bắt buộc.
- Là những đơn vị thực tại, hiển nhiên của ngôn ngữ.
Từ chứa đựng rất nhiều loại thông tin. Có những thông tin trong ngôn ngữ như
thông tin về hình thái, kết cấu, về nguồn gốc, về hoạt động… Có những thông tin
ngoài ngôn ngữ như thông tin về sự vât, hiện tượng thực tế, thông tin về hoàn cảnh
xã hội, về văn hóa, về thời đại…

7


1.1.1.2. Khái niệm “từ” Tiếng Việt
Như đã phân tích ở trên, xét về mặt cấp độ, từ là đơn vị được cấu tạo trực tiếp
từ các hình vị và là đơn vị trực tiếp cấu tạo câu. Từ là đơn vị có sẵn, hiển nhiên, cố
định, bắt buộc, có đặc điểm về hình thức và nội dung.
Trong các ngôn ngữ khác nhau các đặc điểm về hình thức và nội dung của từ
cũng khác nhau. Vì vậy việc đưa ra một định nghĩa cụ thể về từ để áp dụng cho tất
cả các ngôn ngữ (kể cả tiếng việt) là điều không thể. Ngay cả các định nghĩa về từ
tiếng việt trong các nhà việt ngữ học cũng không hoàn toàn giống nhau.
Không đi sâu thảo luận về vấn đề nhận diện từ tiếng việt mà chỉ nêu ra một
định nghĩa về tiếng việt được coi là thỏa đáng: “Từ của tiếng việt là một hoặc một

số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định,nằm trong
những kiểu cấu tạo nhất định”. Định nghĩa này đã chỉ ra khá đầy đủ các đặc trưng
cơ bản của từ trong ngôn ngữ học đại cương nói chung, trong tiếng việt nói riêng:
- Là một trong một số âm tiết cố định, bất biến. Vì vậy trong tiếng việt vừa có
từ đơn tiết (như nhà, chạy, ăn, sông, lúa)… vừa có từ đa tiết (như giang sơn, nhỏ
nhắn, đủng đỉnh, cổ sinh vật, xã hội chủ nghĩa…)
- Mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định. Mỗi đơn vị từ luôn luôn mang
những đặc điểm ngữ pháp như khả năng kết hợp với những từ đứng trước hoặc
đứng sau nó. Chẳng hạn, từ nhà có thể kết hợp với từ đứng trước “cái nhà”, với
những từ đứng sau “nhà này”. Từ xanh có thể kết hợp với từ đứng trước “rất (hơi)
xanh”, với những từ những từ đứng sau “xanh lắm (quá)”. Từ đọc có thể kết hợp
với từ đứng trước “đã (đang, sắp, sẽ) đọc”, với từ đứng sau “đọc xong (rồi)”…Các
loại đơn vị dưới từ (hình vị) và trên từ (mệnh đề, câu ) đều không có đặc điểm này.
Mỗi đơn vị có khả năng (thực từ) hoặc không có khả năng (hư từ) đảm nhận các
chức vụ cú pháp ở trong câu như chủ ngữ, vị ngữ, định ngữ, bổ ngữ…..
- Nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định. Tiếng việt là một loại ngôn ngữ
thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập. Do đó từ trong tiếng việt vừa có cấu tạo đơn (một
hình vị), vừa có cấu tạo ghép (hai hình vị trở lên). Ví dụ: nhà, núi, sông ngòi, xã
hội, công nghiệp hóa, cổ sinh vật học,…Đối với các từ có cấu tạo ghép, nếu giữa
các từ có mối quan hệ về âm thanh thì được gọi là từ ghép âm (láy âm).Ví dụ: Xanh
8


xanh, đo đỏ, long lanh, rực rỡ, đủng đỉnh… Nếu giữa các từ có mối quan hệ về ý
nghĩa thì được gọi là từ ghép nghĩa (láy nghĩa). Ví dụ : nhà cửa, sông ngòi, ruộng
vườn, độc lập, thuyền câu, áo dài, hoa hồng….
- Ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định. Khác với các đơn vị cao hơn từ (câu,
mệnh đề) và thấp hơn từ (tiếng, hình vị), từ có chức năng định danh (gọi tên sự vật,
hiện tượng) và biểu thị khái niệm. Vì vậy, mỗi từ là một đơn vị thống nhất về nghĩa.
Ý nghĩa của từ biểu thị các mối quan hệ giữa từ, người sử dụng và hiện thực khách

quan. Nói cách khác ý nghĩa của từ là phần phản ánh nội dung hiện thực vào nhận
thức con người thông qua hình thức biểu thị là âm thanh của ngôn ngữ. Vì vậy mối
từ ứng với một kiểu nội dung phản ánh (định danh nhất định). Có những từ nội
dung phản ánh là biểu thị sự vật (nhà cửa, lúa, sông, núi..); có những từ nội dung
phản ánh là biểu thị hành động (học, ăn, chạy, đếm, nói…); có những từ nội dung
phản ánh là biểu thị tính chất (xanh, tốt, đỏ, thông minh, tươi tỉnh…). Có những từ
nội dung phản ánh biểu thị quan hệ giữa các sự vật, hành động, tính chất,…(và, thì,
rồi, do đó, vậy nên…)
Cần lưu ý rằng bốn tiêu chí nhận diện từ tiếng việt nói trên (ngữ âm, ngữ pháp,
cấu tạo, ý nghĩa) không độc lập với nhau mà tạo thành một chỉnh thể thống nhất.
Nếu tách riêng bất cứ thành phần nào cũng không thể đủ sức để xác định là từ. Đặc
biệt một mình thành phần ngữ âm cũng không cho ta biết nó có phải là từ hay
không. Chẳng hạn, hình thức ngữ âm “đỉnh” trong “đủng đỉnh” và “đỉnh” trong
“đỉnh núi” hoàn toàn khác nhau, hình thức ngữ âm trong “xao” trong “xôn xao” và
“xao” trong “xao lòng” cũng khác nhau. “Đỉnh1” và “xao1” không phải là từ. Vì
vậy khi một thành phần nào đó thay đổi cho dù thành phần ngữ âm đó giữ nguyên
thì vẫn có thể xác định sự tồn tại của nhiều từ khác nhau.
Mặt khác các thành phần của từ ngoài thành phần ngữ âm không phải là của
riêng mỗi từ. Các thành phần cấu tạo, ngữ pháp và ý nghĩa xuất hiện trong từ này
nhưng cũng có thể có mặt trong một số từ khác. Thành phần ngữ âm của từ mang
tính riêng biệt nhưng các thành phần cấu tạo, ngữ pháp và ý nghĩa luôn luôn mang
tính đồng loạt.

9


Chẳng hạn, xét về thành phần cấu tạo, từ xe máy có cấu tạo chung giống với
các từ khác như xe đạp, xe lôi, xe khách, xe tải…Xét về thành phần ngữ pháp, từ xe
có đặc điểm ngữ pháp giống với các từ tàu, máy bay, thuyền, canô,…Xét về thành
phần ý nghĩa , các từ nói trên đều mang ý nghĩa chung là “ phương tiện giao thông”.

Nhờ tính đồng loạt của các thành phần nói trên mà khi gặp một hình thức ngữ
âm nào đó, chúng ta có thể hiểu và kết luận rằng từ đó thuộc từ loại gì và sử dụng
nó như thế nào.
1.1.1.3. Định nghĩa về câu
Trong lịch sử ngôn ngữ học, so với các đơn vị ngôn ngữ khác như: âm vị, hình
vị, từ, cụm từ, văn bản thì câu là đơn vị được nghiên cứu sớm nhất - nó được nghiên
cứu từ thời cổ đại.
Thế kỷ III trước công nguyên, Alechxanđria định nghĩa: “Câu là sự tổng hợp
của các từ, biểu thị một tư tưởng tương đối trọn vẹn”[15,tr9].
Theo Nguyễn Thị Lương (2005), “Câu là đơn vị ngôn ngữ không có sẵn, dùng
để biểu thị sự tình, được tạo nên từ các đơn vị nhỏ hơn theo những quy tắc ngữ
pháp nhất định, có dấu hiệu hình thức riêng, được sử dụng trong giao tiếp nhằm
thực hiện một hành động nói” [15, tr19].
Nguyễn Thị Thìn (2002) quan niệm “Câu là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có
chức năng thông báo, được dung vào việc giao tiếp hằng ngày”[26,tr9].
Định nghĩa về câu của Diệp Quang Ban (2006) rất cụ thể, ngắn gọn nhưng
mang tính khái quát cao:
Câu là đơn vị của nghiên cứu ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và
bên ngoài) tự lập và ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩa tương đối trọn vẹn hay
thái độ, sự đánh giá của người nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư
tưởng, tình cảm. Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ [5,
tr107].
1.1.1.4 Quan niệm về câu đúng
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về câu đúng. Nguyễn Khánh Nồng cho
rằng: Một câu đúng phải thể hiện cả hai mặt: cẩu trúc ngữ pháp và cẩu trúc ngữ
nghĩa[19,tr145].
10


Bùi Minh Toán, Lê A, Đỗ Việt Hùng cho rằng một câu đúng thỏa mãn các câu

sau:
- Câu phải viết đúng quy tắc ngữ pháp tiếng Việt.
- Câu phải có quan hệ ngữ nghĩa phù hợp với tư duy của người Việt.
- Câu phải có thông tin mới.
- Câu phải được đánh dấu câu phù hợp.
1.1.1.5. Phân loại câu
a. Câu chia theo cấu tạo ngữ pháp
Cơ sở: Phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp người ta căn cứ vào hai cơ sở sau:
- Xác định kết cấu C - V:
+ Kết cấu C - V nòng cốt: là kết cấu chủ ngữ - vị ngữ giữ vai trò thông báo
chính, cơ bản trong câu, nó hoạt động độc lập trong câu.
+ Kết cấu C - V không phải nòng cốt: là kết cấu chủ ngữ - vị ngữ giữ vai trò
thông báo phụ (bổ sung), nó không hoạt động độc lập trong câu.
- Các quan hệ ngữ pháp:
Quan hệ ngữ pháp bao gồm: quan hệ đẳng lập, quan hệ chính phụ, quan hệ chủ vị.
Trên cơ sở đó, có rất nhiều quan điểm phân loại câu. Ở Tiểu học, câu theo cấu
trúc được chia thành 2 loại: câu đơn, câu ghép.
b. Câu chia theo mục đích nói
Phân loại câu theo mục đích nói là cách nhìn có tính chất truyền thống về câu
trong hoạt động của nó. Căn cứ vào mục đích nói, người ta chia thành 4 kiểu câu:
- Câu trần thuật
- Câu nghi vấn
- Câu cầu khiến
- Câu cảm thán
1.1.1.6. Bài tập là gì?
Bài tập là các nhiệm vụ học tập mà giáo viên đặt ra cho người học thực hiện,
được trình bày dưới dạng câu hỏi hay những yêu cầu hoạt động buộc người học tái
hiện những kiến thức giải quyết vấn đề trên cơ sở những điều đã biết hoặc kết nối
những kiến thức, giải quyết vấn đề dựa trên việc tìm kiếm phương pháp mới qua đó
nắm vững tri thức, rèn luyện và phát triển kỹ năng.

11


1.1.1.7. Khái niệm hệ thống bài tập
Là một tập hợp nhiều bài tập khác nhau được xếp thành các nhóm theo một
trình tự có chủ đích nhất định. Thông thường để đảm bảo tính khoa học về quá trình
nhận thức, hệ thống bài tập sẽ được sắp xếp theo thứ tự từ dễ đến khó, từ đơn giản
đến phức tạp, từ những kiến thức đơn lẻ đến những kiến thức tổng hợp nhằm rèn
luyện, phát triển kỹ năng cụ thể cho người học.
1.1.1.8. Hệ thống bài tập nâng cao
Hệ thống bài tập nâng cao là một tập hợp nhiều bài tập với các dạng khác
nhau, các nhóm bài tập có độ khó cao hơn so với các bài tập thông thường. Hệ
thống bài tập nâng cao đòi hỏi ở học sinh tư duy, sáng tạo hơn trong việc làm bài, từ
việc giải các bài tập cơ bản các em mới có thể giải được các bài tập nâng cao. Bài
tập nâng cao cũng được sắp xếp một cách khoa học từ bài tập nâng cao vừa cho đến
bài tập tương đối khó được sử dụng để phân loại học sinh giỏi, xuất sắc.
1.1.2. Đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học
a, Chú ý của HS Tiểu học
Khái niệm chú ý: Chú ý là một trạng thái tâm lý của HS giúp các em tập trung
vào một hay một nhóm đối tượng nào đó để phản ánh các đối tượng này một cách
tốt nhất. Lứa tuổi tiểu học có hai loại chú ý: Chú ý không chủ định và chú ý có chủ
định.
Đặc điểm chú ý của HS tiểu học: Chú ý không chủ định có trước từ lúc 6 tuổi
và tiếp tục phát triển, những gì mới lạ, hấp dẫn, dễ dàng gây chú ý không chủ định
của HS. Do có sự chuyển hóa giữa hai loại này nên khi HS chú ý không chủ định,
GV đưa ra câu hỏi để hướng dẫn HS vào nội dung bài học thì chú ý không chủ định
chuyển hóa thành chú ý có chủ định. Chú ý có chủ định ở giai đoạn này được hình
thành và phát triển mạnh. Sự hình thành loại chú ý này là đáp ứng nhu cầu hoạt
động học ở giai đoạn đầu cấp, chú ý có chủ định hình thành nhưng chưa ổn định,
chưa bền vững.

b, Trí nhớ của HS Tiểu học.
Khái niệm trí nhớ: Trí nhớ là quá trình tâm lý giúp HS ghi lại, giữ lại những tri
thức cũng như cách thức tiến hành hoạt động mà các em tiếp thu được khi cần có
thể nhớ lại, nhận lại. Có hai loại trí nhớ: Trí nhớ có chủ định và trí nhớ không có
chủ định.
12


Đặc điểm trí nhớ của HS tiểu học: Cả hai loại trí nhớ đều được hình thành và
phát triển ở học sinh tiểu học. Do yêu cầu hoạt động học trí nhớ có chủ định hình
thành và phát triển, học sinh phải ghi nhớ các công thức, quy tắc, định nghĩa, khái
niệm….Để vận dụng giải bài tập hoặc tiếp thu tri thức mới, ghi nhớ này buộc học
sinh phải sử dụng cả hai phương pháp ghi nhớ có máy móc và ghi nhớ có chủ định.
c, Tưởng tượng của HS.
Khái niệm tưởng tượng: Tưởng tượng của HS là một quá trình tâm lý nhằm
tạo ra các hình ảnh mới dựa vào các hình ảnh đã biết. Ở học sinh tiểu học có hai loại
tưởng tượng: Tưởng tưởng tái tạo và tưởng tưởng sáng tạo.
Đặc điểm tưởng tượng của HS tiểu học: Tính có mục đích, có chủ định tưởng
tượng của HS tiểu học tăng lên rất nhiều so với trước 6 tuổi. Do yêu cầu của hoạt
động học, HS muốn tiếp thu tri thức mới thì phải tạo cho mình các hình ảnh tưởng
tượng.
d, Tư duy của HS.
Khái nhiệm tư duy của học sinh tiểu học: Tư duy của học sinh tiểu học là quá
trình mà các em hiểu được, phản ánh được bản chất của đối tượng của các sự vật
hiện tượng được xem xét nghiên cứu trong quá trình học tập của học sinh. Có hai
loại tư duy: Tư duy cụ thể và tư duy trừu tượng.
Đặc điểm tư duy của học sinh tiểu học:Do hoạt động học được hình thành qua
hai giai đoạn nên tư duy của học sinh cũng được hình thành qua hai giai đoạn:
+ Giai đoạn 1: Tư duy cụ thể vẫn tiếp tục hình thành và phát triển, tư duy trừu
tượng bắt đầu hình thành. Tư duy cụ thể được thể hiện rõ nhất ở lớp 1, lớp 2 nghĩa

là học sinh tiếp thu tri thức mới và tiến hành các thao tác với vật thật hoặc các hình
ảnh trực quan.
+ Giai đoạn 2: Tư duy trừu tượng bắt đầu chiếm ưu thế so với tư duy cụ thể,
nghĩa là học sinh tiếp thu tri thức của các môn học bằng cách tiến hành các thao tác
tư duy với ngôn ngữ, với các loại ký hiệu quy tắc.

13


1.1.3. Đặc điểm tâm lí của học sinh lớp 3
Lứa tuổi Tiểu học được chia thành hai giai đoạn. Giai đoạn một là học sinh lớp
1, 2, 3. Giai đoạn hai là học sinh lớp 4, 5. Giai đoạn một được xem là giai đoạn đầu
của bậc Tiểu học, giai đoạn hai là giai đoạn sau của bậc Tiểu học. Giai đoạn đầu của
bậc Tiểu học là giai đoạn mà học sinh còn thiên về tư duy cụ thể, cảm tính. Tuy vậy
học sinh lớp 3 là lớp cuối của giai đoạn đầu bậc Tiểu học vì vậy ở lứa tuổi này học
sinh đã bắt đầu chuyển dần từ tư duy cụ thể, cảm tính sang tư duy trừu tượng, khái
quát hơn.
Bên cạnh đó, trí tưởng tượng của HS lớp 3 đã được hình thành và phát triển
thông qua các hoạt động học tập. Tưởng tượng tái tạo từng bước được hoàn thiện
gắn liền với những hình tượng đã tri giác trước hoặc tạo ra những hình tượng phù
hợp với những điều mô tả, sơ đồ, hình vẽ… Như vậy biểu tượng của tưởng tượng
dần trở nên hiện thực hơn. Tưởng tượng của HS đã mất dần và thoát khỏi ảnh
hưởng của ấn tượng trực tiếp. Tưởng tượng của HS gắn liền với sự phát triển ngôn
ngữ và tư duy. Trong dạy học ở Tiểu học, GV cần rèn luyện và phát triển trí tưởng
tưởng của HS thông qua việc hình thành biểu tượng. GV cần sử dụng lời nói, cử
chỉ, điệu bộ như một phương tiện trực quan. Ngôn ngữ phải chính xác, giàu nhạc
điệu, tình cảm; đặc biệt cần sử dụng đồ dùng dạy học, tài liệu dạy học phong phú,
sinh động. Điều này thêm một lần nữa khẳng định vai trò của hệ thống bài tập Tiếng
Việt trong việc góp phần hình thành và phát triển tâm lí của HS. Tuy nhiên, cùng
một lứa tuổi nhưng trẻ em lại có đặc điểm tâm lí riêng và khả năng tư duy cũng

khác nhau. Vì thế trong quá trình dạy học hay thiết kế bài tập cho trẻ, GV cũng cần
chú ý đến đặc điểm tâm lí của HS để việc dạy học cũng như việc thiết kế bài tập ôn
luyện, củng cố đạt hiệu quả cao.
1.1.4. Ý nghĩa của viêc xây dựng hệ thống bài tập
Bài tập có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong dạy học nói chung và dạy học
Tiếng Việt nói riêng, nó là phương tiện hiệu quả không thể thay thế được trong việc
giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực ngôn ngữ. Thông qua bài tập có thể
phát huy tính tích cực, chủ động, hứng thú của học sinh trong việc tiếp nhận kiến
thức, kỹ năng nhằm tối ưu hoá đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường.
14


Bên cạnh đó bài tập vừa là định hướng, vừa là công cụ giúp học sinh tự tìm
hiểu, vận dụng kiến thức kỹ năng vào đúng hướng, đúng cách. Tạo ra những tình
huống để học sinh phát triển tư duy, năng lực tự học. Đối với học sinh việc giải bài
tập được coi là hình thức hoạt động chủ yếu trong giờ học. Trong giờ học LTVC
giáo viên không thể chỉ giảng và cho học sinh làm bài tập ở sách giáo khoa như vậy
thì học sinh chưa mở rộng được kiến thức, chưa thể khắc sâu bài học được. Dó đó
việc đưa ra hệ thống bài tập nâng cao sẽ không những giúp học sinh hứng thú trong
giờ học vì được thử sức mình với các bài tập mà giáo viên còn phân loại được năng
lực của học sinh, từ đó có các phương pháp dạy học phù hợp hơn.
Nắm bắt được đặc điểm tâm lí học sinh lớp 3, đây là lứa tuổi bắt đầu chuyển
qua tư duy trừu tượng, trí tưởng tượng của các em phong phú hơn hướng đến sự
phát triển ngôn ngữ, thông qua hệ thống bài tập để giáo viên hướng học sinh đi tìm
cái mới bằng tư duy và tưởng tượng của các em.Và hơn nữa, hệ thống bài tập giúp
giáo viên tối ưu hoá quá trình dạy học, nâng cao chất lượng dạy học. Mỗi bài tập là
một hoạt động nhận thức trong đó có hoạt động của thầy và hoạt động của trò.
Hiện nay việc dạy học LTVC chưa được chú trọng nhiều trong khi đó từ và
câu đơn vị cơ sở, cơ bản của ngôn ngữ, cái cần thiết để hình thành nên lời nói, công
cụ giao tiếp hằng ngày. Để giúp học sinh trau chuốt ngôn ngữ, hoàn thiện ngôn ngữ

nói của mình chỉ có thể thực hiện tốt thông qua hoạt động thực hành luyện tâp, qua
các bài tập để các em nhận biết được lỗi sai, làm thế nào cho đúng, cho phù hợp…
Do đó, việc xây dựng hệ thống bài tập nâng cao sẽ góp phần hỗ trợ giáo viên
và học sinh lớp 3 trong việc dạy và học LTVC hiệu quả hơn.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Vị trí, nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu ở Tiểu học
* Vị trí
Chương trình TV tiểu học mới đã sát nhập hai phân môn Từ ngữ và Ngữ pháp
thành phân môn Luyện từ và câu. Cơ sở của việc sát nhập này là xuất phát từ mối
quan hệ chặt chẽ giữa từ và câu trong giao tiếp đồng thời coi trọng yêu cầu thực
hành của môn học.

15


Phân môn Luyện từ và câu có vị trí quan trọng trong chương trình Tiểu học.
Trước hết Luyện từ và câu cung cấp làm giàu vốn từ cho HS, đặc biệt là hệ thống từ
ngữ cung cấp cho HS được gắn với chủ điểm ở từng lớp nhằm tăng cường sự hiểu
biết của HS về nhiều lĩnh vực của cuộc sống.
Phân môn Luyện từ và câu cung cấp những kiến thức sơ giản về từ và câu, rèn
kĩ năng dùng từ đặt câu, sử dụng từ ngữ trong giao tiếp hàng ngày. Chính vì vậy HS
được làm quen với Luyện từ và câu ngay từ lớp 1 và được học với tư cách là một
phân môn độc lập của môn TV từ lớp 2 đến lớp 5
* Nhiệm vụ chủ yếu của việc dạy phân môn Luyện từ và câu ở tiểu học là giúp
HS:
- Về mặt Luyện từ: Phân môn này có nhiệm vụ tổ chức cho HS thực hành
làm giàu vốn từ, cụ thể là:
+ Chính xác hoá vốn từ (dạy nghĩa từ): là giúp HS có thêm những từ mới,
những
nghĩa mới của từ đã học, thấy được tính nhiều nghĩa và sự chuyển nghĩa của từ.

+ Hệ thống hoá vốn từ (trật tự hoá vốn từ): là giúp HS sắp xếp các từ thành
một
trật tự nhất định trong trí nhớ của mình để có thể ghi nhớ từ nhanh, nhiều và tạo ra
được tính thường trực của từ.
+ Tích cực hoá vốn từ (luyện tập sử dụng từ): là giúp HS biến những từ ngữ
tiêu
cực (những từ ngữ hiểu nghĩa nhưng không sử dụng trong khi nói, viết) thành
những từ ngữ tích cực, được sử dụng thường xuyên trong giao tiếp hàng ngày.
+ Văn hoá hoá vốn từ: là giúp HS loại bỏ khỏi vốn từ những từ ngữ không
văn
hoá, tức là những từ ngữ thông tục hoặc sử dụng sai phong cách.
Mặt khác, còn phải cung cấp cho HS một số khái niệm lý thuyết cơ bản và
sơ giản về từ vựng học như về cấu tạo từ, các lớp từ có quan hệ về nghĩa... để HS có
cơ sở nắm nghĩa từ một cách chắc chắn và biết hệ thống hoá vốn từ một cách có ý
thức.
16


- Về mặt Luyện câu: Phân môn này phải tổ chức cho HS thực hành để rèn
luyện các kỹ năng cơ bản về ngữ pháp như kỹ năng đặt câu đúng ngữ pháp, kỹ năng
sử dụng các dấu câu, kỹ năng sử dụng các kiểu câu phù hợp mục đích nói, tình
huống lời nói để đạt hiệu quả giao tiếp cao, kỹ năng liên kết các câu để tạo thành
đoạn văn, văn bản.
Để thực hiện tốt các nhiệm vụ thực hành, phân môn Luyện từ và câu phải
cung
cấp cho HS một số khái niệm, một số qui tắc ngữ pháp cơ bản, sơ giản và tối cần
thiết: bản chất của từ loại, thành phần câu, dấu câu, các kiểu câu, qui tắc sử dụng
câu trong giao tiếp và các phép liên kết câu.
Bên cạnh đó, qua phân môn này còn giúp HS tiếp thu một số qui tắc chính tả
như: qui tắc viết hoa, qui tắc sử dụng dấu câu.

- Ngoài các nhiệm vụ kể trên, phân môn Luyện từ và câu phải chú trọng việc
rèn luyện tư duy, giáo dục thẩm mỹ cho HS.
1.2.2. Nội dung chương trình và sách giáo khoa Luyện từ và câu lớp 3.
* Nội dung chương trình:
- Chương trình Luyện từ và câu lớp 3 gồm 31 tiết (học kì I: 16 tiết; học kì II:
15 tiết) mỗi tuần có một tiết gồm các nội dung:
- Mở rộng vốn từ, hệ thống hóa, tích cực vốn từ theo các chủ điểm được học ở
bài tập đọc. Hình thức luyện tập mở rộng vốn từ thông qua các bài tập. Hệ thống bài
tập luyện tập mở rộng vốn từ rất đa dạng, chủ điểm mở rộng hơn lớp 2, vốn từ nhiều
hơn:
+ Bài tập tìm từ ngữ theo chủ điểm
+ Bài tập tìm hiểu, nắm nghĩa của từ
+ Bài tập quản lí, phân loại vốn từ.
- Từ loại: ôn luyện các từ chỉ sự vật, hoạt động, trạng thái, đặc điểm đã học ở lớp 2.
- Về kiểu câu: Củng cố, ôn luyện các kiểu câu ở lớp 2: Ai làm gì? Ai là gì?
Các thành phần trong câu trả lời trong câu hỏi: Ai? Là gì? Làm gì? Thế nào? Ở đâu?
Bao giờ? Như thế nào? Bằng gì? Vì sao?. Hình thức luyện tập về câu thông qua các
dạng bài tập sau:
17


+ Trả lời câu hỏi
+ Tìm bộ phận câu trả lời câu hỏi
+ Đặt câu theo mẫu, ghép các bộ phận thành câu.
+ Đặt câu hỏi cho các bộ phận câu và mở rộng câu bằng trạng ngữ, phụ ngữ
(thông qua các câu hỏi và không gọi tên trạng ngữ), giúp HS hình dung được thành
phần cấu tạo của câu để học sinh giao tiếp có định hướng.
- Về dấu câu: Ôn luyện về một số dấu câu cơ bản: Dấu chấm, dấu phẩy, dấu
chấm hỏi, dấu chấm than, học thêm về dấu hai chấm thông qua các bài tập đa dạng.
Hình thức luyện tập về dấu câu gồm các bài tập:

+ Chọn dấu câu đã cho điền vào chỗ trống
+ Tìm dấu câu thích hợp điền vào chỗ trống
+ Điền dấu câu dã cho vào chỗ trống thích hợp
+ Tập ngắt câu.
- Cung cấp cho HS một số hiểu biết sơ giản về các phép tu từ so sánh, nhân
hóa
Bài tập so sánh:
+ Nhận diện (tìm) những sự vật, những hình ảnh về các vế so sánh, các từ so
sánh.
+ Tập nhận biết tác dụng của so sánh
+ Tập đặt câu có dùng biện pháp so sánh
Bài tập tu từ nhân hóa:
+ Nhận biết phép nhân hóa trong câu: Cái gì được nhân hóa? Nhân hóa bằng
cách nào?
+ Tập nhận biết cái hay của nhân hóa.
*Cấu trúc phân môn Luyện từ và câu lớp 3 trong sách giáo khoa.
- Vị trí tiết học trong Sách giáo khoa: Luyện từ và câu được sắp xếp là tiết thứ
6 trong quy trình 9 tiết học về Tiếng Việt trong một tuần (sau: Tập đọc, Kể chuyện,
Chính tả, Tập đọc).
- Cấu trúc bài học trong Sách giáo khoa: Mỗi bài học Luyện từ và câu thông
thường được trình bày gồm 3- 4 bài tập. Cách sắp xếp các bài tập theo thứ tự:
18


+ Những bài tập nhằm giúp HS nhận biết về từ ngữ theo chủ điểm hoặc từ
loại.
+ Những bài tập về nhận diện các dấu hiệu liên quan đến câu
+ Những bài tập vận dụng từ và câu trong giao tiếp.
1.2.3 Khảo sát thực trạng việc dạy - học phân môn Luyện từ và câu lớp 3 tại
trường tiểu học Đồng Phú – Đồng Hới – Quảng Bình

*Một số thông tin về trường tiểu học Đồng Phú có liên quan đến đề tài
Trường tiểu học Đồng Phú là một trường nằm ở trung tâm thành phố Đồng
Hới. Là điểm sáng về giáo dục tiểu học tỉnh Quảng Bình. Trường đã có 15 năm liên
tục nhận được cờ dẫn đầu cấp tiểu học toàn tỉnh. Nhà trường được tặng thưởng huân
chương Lao động Hạng nhất, Hạng nhì, Hạng Ba. Là đơn vị duy nhất của nghành
Giáo dục- Đào tạo tỉnh được phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động thời kì đổi
mới. Những vinh dự đó nhờ có sự quan tâm động viên thường xuyên của phòng
Giáo dục – Đào tạo Đồng Hới, các cơ quan đoàn thể địa phương.Người dân trong
phường sống bằng các nghề khác nhau có 12% làm ruộng, 45% là cán bộ nhà nước,
43% còn lại là buôn bán nhỏ, công nhân…Do điều kiện kinh tế phát triển, chất
lượng cuộc sống ngày càng được nâng cao, bởi vậy vấn đề giáo dục được chú trọng
và ưu tiên bậc nhất.
Trường gồm có 33 lớp. Trong đó khối lớp 3 gồm có 7 lớp. Môn Tiếng Việt do giáo
viên chủ nhiệm trực tiếp đảm nhận.
 Những thuận lợi
- Về phía nhà trường:
+ Ban Giám hiệu nhà trường quan tâm chỉ đạo nâng cao chất lượng giáo dục
học sinh, có nhiều biện pháp hỗ trợ giáo viên trong các hoạt động sư phạm. Nhà
trường đã tổ chức được việc dạy 2 buổi/ngày.
+ Đa số giáo viên dạy khối lớp 3 đã nhiều năm nên nắm khá tốt quan điểm chỉ
đạo dạy học; có nhiều kinh nghiệm giảng dạy
+ Giáo viên tận tụy tìm luôn tìm tòi những phương pháp phù hợp với đối
tượng học sinh để giảng dạy.

19


+ Cơ sở vật chất nhà trường về cơ bản đáp ứng được yêu cầu thực hiện nhiệm
vụ giảng dạy và giáo dục của học sinh.
- Về học sinh: Các em đã dược làm quen với phân môn Luyện từ và câu ở lớp

2 và có nhiều kiến thức liên quan ở lớp 2 nên khi học Luyện từ và câu ở lớp 3 các
em học tập có phần tự tin hơn.
+ Học sinh đều chăm ngoan, ham tìm hiểu và có thái độ chủ động tích cực
trong học tập.
+ Phụ huynh quan tâm đến việc học tập của con em mình nên sách vở, đồ
dùng học tập đầy đủ, HS có nhiều sách tham khảo.
 Những khó khăn
* Đối với giáo viên
- Hình thức để dạy một tiết Luyện từ và câu còn chưa sáng tạo, chưa thực sự
sôi động cuốn hút học sinh. Một số giáo viên gặp lúng túng khi thực hiện quy
trình giảng dạy, bám máy móc vào sách giáo viên, chưa tạo ra các tình huống
giao tiếp sinh động để lôi cuốn học sinh
- Trình độ của giáo viên chưa đồng đều, lượng kiến thức của phân môn trong
một tiết dạy còn nhiều bài tập khiến người dạy đôi lúc không muốn sử dụng nhiều
phương pháp mới như vấn đáp, gợi mở,…Vì mất nhiều thời gian, từ đó dẫn đến việc
giáo viên nói nhiều, hoạt động giữa cô và trò chưa nhịp nhàng. Học sinh chưa phát
huy hết tính tích cực trong học tập.
- GV đôi lúc còn giảng dạy theo phương pháp cũ, việc phân chia thời gian
chưa hợp lý.
* Đối với học sinh
Do số lượng học sinh của mỗi lớp đông 40-45 em/lớp vì thế chất lượng học
tập của các em chưa cao. Giáo viên khó khăn trong việc giúp đữo từng học sinh.
Trong quá trình thực hiện tôi đã lập ra những hệ thống câu hỏi, xây dựng nhiều
phiếu trắc nghiệm điều tra hứng thú về học “Luyện từ và câu” của học sinh lớp 3
(Phiếu điều tra có ở phần phụ lục).

20



×