Tải bản đầy đủ (.docx) (72 trang)

NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHỦ NHIỆM THÔNG QUA GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (6.27 MB, 72 trang )

z

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KHÁNH HÒA
Trường THPT Hoàng Hoa Thám

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SƯ PHẠM ỨNG DỤNG
ĐỀ TÀI: NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHỦ NHIỆM THÔNG QUA
GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH NỮ LỚP 10
TRƯỜNG THPT HOÀNG HOA THÁM

Tên tác giả:Tạ Thị Thu Hằng

Kèm theo: đĩa CD, phụ lục

NĂM HỌC 2013-2014

MỤC LỤC
Trang 1


I. Tóm tắt đề tài....................................................................................................... 4
II. Giới thiệu:........................................................................................................... 6
II. 1.Thực trạng..........................................................................................................9

II.1.1. Thực trạng KNS của HS trong trường THPT........................................9
II.1.2.Thực trạng giáo dục KNS trong trường THPT......................................10
II.1.3.Thực trạng GD KNS cho HS nữ ở trường THPT Hoàng Hoa Thám... 12
II.1.4. Nguyên nhân thực trạng........................................................................13
II.2. Giải pháp thay thế.........................................................................................15
II.2.1. Cơ sở lí luận của đề tài:..........................................................................15
II.2.2. Kĩ năng sống là gì?.................................................................................16


II.2.3. Nội dung GD kĩ năng sống cho hs nữ trong giờ SH ngoài giờ lên lớp 21

II.2.3.1. GD giới tính...........................................................................21
II.2.3.2. Sức khỏe sinh sản vị thành niên, phòng chống HIV- AIDS. 16
II.2.3.3. GD giới tính + Bình đẳng giới..............................................23
II.2.3.4. Tình bạn – Tình yêu – Hôn nhân...........................................24
II.2.3.5. Bạo lực học đường................................................................25
II.2.3.6. Tư vấn học đường.................................................................27
II.3. Nhiệm vụ nghiên cứu.......................................................................................27
II.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu................................................................... 28
III. Phương pháp nghiên cứu:...................................................................................28
III.1. Khách thể nghiên cứu......................................................................................28
III.2. Thiết kế nghiên cứu.........................................................................................29
III.3. Quy trình nghiên cứu.......................................................................................31
III.4. Đo lường và thu thập dữ liệu:.........................................................................47
IV. Phân tích dữ liệu và kết quả...........................................................................47
V. Kết luận và khuyến nghị..................................................................................48
V.1. Kết luận............................................................................................................48
V.2. Khuyến nghị....................................................................................................49

Tài liệu tham khảo.................................................................................................52
PHẦN PHỤ LỤC...................................................................................................53


Những chữ viết tắt:
GD – ĐT: Giáo dục – đào tạo VTN:
Vị thành niên
GVCN: Giáo viên chủ nhiệm HS:
học sinh
THPT: Trung học phổ thông KNS:

kĩ năng sống
SKSS: Sức khỏe sinh sản


I. Tóm tắt đề tài:
Trong thời đại công nghệ thông tin phát triển với tốc độ chóng mặt đã mang lại
nhiều tiến bộ, văn minh giúp nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho con người.
Nhưng nó cũng tồn tại những mặt trái mà tác động cụ thể đến các thế hệ tương lai qua
những kênh giải trí trên TV, Youtube, mạng Facebook,... Đó là thực trạng học sinh
THPT sa vào những thử nghiệm, khám phá về tình dục gây ra việc bỏ học giữa chừng
để làm mẹ trẻ hoặc phải nạo phá thai; những nhận thức sai lầm về bình đẳng giới,
những ảnh hưởng từ trò chơi, phim ảnh bạo lực dẫn đến tình trạng báo động về bạo lực
học đường,... Đối tượng ở đây lại là những nữ sinh vốn từ trước đến giờ là biểu tượng
của sự trong sáng, đáng yêu.
Đứng trước thực trạng nhức nhối ấy, người giáo viên THPT không chỉ chú
trọng dạy chữ mà còn cần phải đặc biệt chú ý dạy người. Người giáo viên chủ
nhiệm sẽ trang bị được kiến thức, GD, uốn nắn các hành vi của các em học sinh
thông qua giáo dục kĩ năng sống trong các giờ chủ nhiệm cuối tuần, sinh hoạt
ngoài giờ lên lớp đầu tuần. Nhận thấy tính khả thi của hoạt động, tôi đã tiến
hành nghiên cứu đề tài khoa học: Nâng cao hiệu quả chủ nhiệm thông qua giáo
dục kĩ năng sống cho học sinh nữ lớp 10 trường THPT Hoàng Hoa Thám năm
học 2013- 2014.
Từ việc tìm hiểu rõ thực trạng kĩ năng sống của học sinh THPT, thực trạng dạy kĩ
năng sống ở trường THPT nói chung và trường THPT Hoàng Hoa Thám nói riêng, tôi
nhận thấy: Học sinh THPT đang ở vào tuổi vị thành niên với rất nhiều những biến đổi
về tâm sinh lí, rất non yếu về kĩ năng sống nhưng lại luôn muốn khẳng định mình là
người lớn. Điều đó tiềm ẩn nhiều nguy hại khó lường nếu không quan tâm, uốn nắn các
em kịp thời. Trong khi đó Giáo dục của chúng ta còn né tránh việc giáo dục giới tính
cho học sinh. Các giờ sinh hoạt chủ nhiệm còn nặng về phê bình, đánh giá theo thi đua
hoặc nếu có, các giờ Sinh hoạt ngoài giờ lên lớp GVCN dạy qua loa, chiếu lệ, không

mấy hiệu quả. Cho nên hoạt động giáo dục kĩ năng sống của tôi sẽ xoáy vào nội dung
GD giới tính.
Theo WHO (Tổ chức Y tế thế giới) giáo dục giới tính bao gồm: Sự phát triển của
giới tính, sức khỏe sinh sản, các mối quan hệ cá nhân, tình cảm, về


ngoại hình, về vai trò của giới[5]. Dựa vào khái niệm này tôi đã lồng ghép các nội dung
vào 4 chủ để: Sức khỏe sinh sản vị thành niên và phòng chống HIV- AIDS; Giáo dục
giới tính + Bình đẳng giới; Tình bạn – Tình yêu – Hôn nhân và Bạo lực học đường. Về
lí thuyết, chúng ta có thể tìm thấy khá nhiều tài liệu về các nội dung này nhưng để tập
trung đầy đủ lại và để hướng cụ thể đến đối tượng học sinh nữ thì chưa có.
Mặt khác có thể nói đây là nội dung không mới đối với các em nên nếu không
khéo cứ nhồi nhét, bắt các em học thì rất có thể phản tác dụng.. Chính vì thế trước tiên
tôi phải điều tra về đối tượng để nắm bắt xem các em hiểu biết đến đâu và thăm dò
phương pháp dạy học phù hợp nhất. Mặc dù đã được học nhưng các em hiểu biết chưa
toàn diện và đầy đủ (65% không hiểu khái niệm Bình đẳng giới). Nguyện vọng của các
em đều muốn giờ sinh hoạt ít nặng nề về thi đua hay kỉ luật mà tăng cường hoạt động
giao lưu, giáo dục kĩ năng sống qua các trò chơi, các câu chuyện kể,.. Các em hứng thú
nhất với Phương pháp trò chơi 25/41 chiếm 61 % và phương pháp đóng vai 22/41
chiếm 53,7%. Như vậy thiết kế nghiên cứu của tôi sẽ truyền tải 4 chủ đề như trên sử
dụng chủ yếu 2 phương pháp này để các em học sinh sẽ học mà chơi, chơi mà học.
Điều đó được thể hiện cụ thể thông qua việc tổ chức lớp thành 4 đội chơi (4 tổ của
lớp), từng chủ đề đều được thiết kế qua các phần thi với tên gọi và luật thi khác nhau.
Đặc biệt chủ đề nào cũng có phần xử lí tình huống và phát biểu quan điểm(trong trò
chơi hoặc ở phần thi phụ). Các nội dung mở rộng phong phú từ những sự kiện trong quá
khứ (Hai Bà Trưng xưng vương) cho đến các hiện tượng gây xôn xao dư luận gần
đây(học sinh nữ đánh nhau lột đồ, bà Tưng) để định hướng học sinh có cái nhìn đúng
đắn và chấn chỉnh hành vi. Nội dung giới tính các em được tìm hiểu sự phát triển ở cả
giới nam và nữ (thuận lợi là lớp 41 học sinh nữ) và tìm hiểu các biện pháp quan hệ tình
dục an toàn. Các em được tìm hiểu cụ thể về các biện pháp tránh thai, giải pháp cho bạo

lực học đường,.. và được xem phim nói về chủ đề này. Bốn chủ đề tôi đều thiết kế trên
Powerpoint với nhiều hình ảnh, âm thanh linh hoạt để giúp hỗ trợ giáo viên vừa để tăng
sự sinh động cho bài giảng, thu hút hs chú ý hơn.


Sau mỗi tiết học các em được trao phần thưởng cho đội chiến thắng và được cộng
khuyến khích 2 điểm thi đua tuần đối với mỗi thành viên của tổ đạt giải nhất(đã có hội ý
của GVCN và lớp). Đồng thời cuối mỗi tiết sinh hoạt tôi cho các em viết vào
giấy(không cần viết tên) điều thắc mắc của mình về chủ đề đã học. Sau đó tôi tổng hợp
tất cả lại và chuẩn bị 1 số nội dung mở rộng làm thành hoạt động tư vấn học đường.
Một số câu hỏi đã có trong phần được học thì tôi cho học sinh tham gia, trở thành nhà
tư vấn cho bạn mình. Cuối cùng tôi chọn một tiết thích hợp tổ chức một buổi chiếu
phim với tư liệu giáo dục giới tính trực tuyến tôi đã sưu tầm được để giúp các em củng
cố những gì đã học. Một tuần sau đó tôi tiến hành phát phiếu đánh giá cho lớp thực
nghiệm (lớp 10 A7) và lớp đối chứng(lớp 10 A8). Các em hoàn thành trong thời gian 40
phút, tôi thu lại và chấm điểm.
Như vậy khách thể nghiên cứu của đề tài là 20 học sinh nữ của lớp 10 A8 là
nhóm đối chứng và 20 hs nữ lớp 10 A7 ở nhóm thực nghiệm,. Các em có kết quả hạnh
kiểm và học lực lớp 9 tương đương nhau. Điểm từ phiếu đánh giá chính là bài kiểm tra
sau tác động. Kết quả điểm trung bình nhóm đối chứng 5,4, nhóm thực nghiệm 7,0,
chênh lệch giá trị trung bình chuẩn là 1,5. Sau tác động kiểm chứng chênh lệch ĐTB
bằng T-test cho kết quả p = 0,00001, cho thấy sự chênh lệch giữa ĐTB trước tác động
và sau tác động rất có ý nghĩa. Như vậy có thể thấy việc GD kĩ năng sống với nội dung
GD giới tính đã giúp các em học sinh nữ được trang bị kiến thức đầy đủ, biết xử lý
những tình huống trong cuộc sống nếu gặp phải. Từ đó cũng giúp các em định hướng và
sẽ có quyết định đúng đắn, nghiêm túc về tình yêu, tình dục, hôn nhân,...trong tương lai.
Đó là ý nghĩa thiết thực của đề tài.
II. Giới thiệu:
Thế kỉ XXI, thế kỉ của đỉnh cao trí tuệ, là thế kỉ bùng nổ của tri thức khoa học và
công nghệ. Con người trở thành trung tâm của sự phát triển, vừa là mục tiêu vừa là

động lực của sự phát triển. Từ đó đòi hỏi Giáo dục phải đạt được hiệu quả nhất định
trong đào tạo con người mới và vì thế đã đặt ra cho người giáo viên nói chung và người
giáo viên chủ nhiệm nói riêng những yêu cầu mới.


Người giáo viên chủ nhiệm không chỉ trang bị kiến thức mà phải chăm lo hình
thành ở thế hệ trẻ những tình cảm, thái độ, hành vi, thói quen ứng xử hợp lí. Có nghĩa
là giáo viên chủ nhiệm cần quan tâm đến sự phát triển ở học sinh về các giá trị đạo đức,
thẩm mĩ, thể chất.
Lứa tuổi học sinh THPT là lứa tuổi có những chuyển biến quan trọng cả về sự phát
triển thể lực lẫn sự phát triển tâm lí. Các em có khả năng tri giác rõ ràng, có những rung
cảm mãnh liệt, có nhiệt tình sôi nổi, có khao khát được tìm hiểu, khám phá mọi vấn đề,
khao khát thể hiện mình, ... Nhưng các em cũng trải qua giai đoạn khó khăn: có những
hành vi, những thử nghiệm, có thể có nguy cơ gây hại cho bản thân và xã hội bởi mâu
thuẫn trong tâm lí giữa một bên là tính chất quá độ không còn là trẻ con nhưng cũng
chưa phải là người lớn. Vì vậy cần có sự có sự nỗ lực của bản thân các em, sự quan tâm,
định hướng của nhà trường, gia đình và xã hội để các em vượt qua giai đoạn khủng
hoảng, phát triển nhân cách đúng hướng, tránh các sai lệch không đáng có, để trở thành
người lớn với đúng nghĩa của nó.
Sinh ra trong thời đại công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ với tốc độ chóng
mặt, những học sinh thế hệ này phải được đào tạo để trở thành những con người năng
động, tự tin vừa giàu tri thức vừa giàu kĩ năng sống. Cho nên nội dung Giáo dục kĩ năng
sống được chú trọng đưa vào giảng dạy nhiều năm gần đây. Bộ Giáo dục và Đào tạo
(GDĐT) đã phát động phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”
trong đó nội dung thứ ba trong năm nội dung chính là “Rèn luyện kỹ năng sống cho học
sinh”. Dựa trên cơ sở phân tích kinh nghiệm quốc tế và thực trạng giáo dục kĩ năng
sống ở Việt Nam những năm qua, nội dung giáo dục KNS cho HS trong các nhà trường
phổ thông bao gồm các KNS cơ bản, cần thiết. Tuy nhiên hiệu quả chưa được như
mong đợi.
Có thể thấy việc HS không được GD kĩ năng sống đầy đủ gây ra tình trạng phát

triển nhân cách lệch lạc. Cụ thể những hiện tượng nổi cộm trong thời gian gần đây như
bạo lực học đường ở nữ giới, bệnh vô cảm, mê muội thần tượng, tạo Scadal từ khoe
hình phản cảm, ăn mặc hở hang, phát ngôn gây sốc, .. và


cùng với đó là những con số đáng lo ngại. Theo Hội Kế hoạch hóa gia đình Việt Nam,
bình quân mỗi năm có khoảng 300.000 ca nạo phá thai (chiếm 20% trong tổng số ca),
trong đó 80-90% là học sinh, sinh viên. Việt Nam là nước có tỷ lệ nạo phá thai ở tuổi vị
thành niên cao nhất Đông Nam Á và thứ 5 thế giới.[13- Báo Vn express ngày
12/07/2013].

Biểu đồ 1: Khảo sát về quan hệ tình dục trước hôn nhân

Gần một nửa số bạn trẻ vị thành niên tham gia một nghiên cứu được Bộ GD-ĐT
công bố [13- Báo DanTri.com.vn ngày 05/12/2012] cho biết từng yêu và có quan hệ
tình dục, 7,6% các em chưa yêu nhưng cũng có quan hệ tình dục. Kết quả nghiên cứu
này do Trung tâm Sáng kiến sức khỏe và dân số (CCIHP) thực hiện, được báo cáo tại
hội thảo “Phổ biến kết quả nghiên cứu về giới và sức khỏe sinh sản cho thanh niên, học
sinh sinh viên (HSSV)”. Cũng theo nghiên cứu này, có đến 1/3 thanh niên từng có mối
quan hệ tình cảm không hề làm bất cứ điều gì để bảo đảm an toàn, nữ giới lại ít chuẩn
bị những biện pháp an toàn bảo vệ mình hơn nam giới, chỉ vì đơn giản họ nghĩ “không
thấy có bất cứ mối nguy hại nào từ phía đối tác”.
Từ những con số ấy chứng minh việc GD kĩ năng sống mà cụ thể, cấp thiết là GD
giới tính cho học sinh nói chung và học sinh nữ nói riêng là cần tiến hành càng sớm thì
những bất ngờ và đáng tiếc sẽ được hạn chế hơn. Những kiến thức


về giáo dục giới tính sẽ giúp trẻ vị thành niên(giới hạn trong đề tài nghiên cứu này là
những học sinh nữ lớp 10) có một quan điểm tích cực về tình dục, đồng thời cung cấp
các thông tin và kỹ năng để các em có được thái độ và hành vi đúng, hiểu biết và có

trách nhiệm về những quyết định của mình. Đó là lí do tôi tiến hành đề tài nghiên cứu
này.
II.1. Thực trạng:
II.1.1. Thực trạng Kĩ năng sống của học sinh THPT:
Chúng ta dễ dàng tận mắt nhìn thấy trong những quán Internet dọc đường lúc nào
cũng đông học sinh, dù lúc đó đang trong giờ học, buổi trưa hay tối. Học sinh bỏ học đi
chơi game, hoặc tranh thủ lúc đi học về cũng ghé qua “lướt” một lúc, buổi tối lấy lý do
đi học thêm để trốn nhà đi ra quán nét. Đặc biệt ngày nay với sự mở rộng của mạng xã
hội Facebook, các em có thể dễ dàng online bằng điện thoại di động 24/24 để chia sẻ
hình ảnh, ghi âm, quay phim về mọi vấn đề để cùng nhau “chém gió”, “dìm hàng”, “tự
sướng”.. Cũng từ mạng xã hội này đã nảy sinh nhiều vụ nói xấu, cãi cọ, mâu thuẫn,
đánh nhau gây bạo lực học đường không chỉ của hs với hs, gv với gv mà còn gv với hs.
Học sinh khó kiểm soát cảm xúc của bản thân, chỉ vì nguyên nhân cỏn con cũng sẵn
sàng cầm dao đâm bạn. Cảnh những học sinh vi phạm giao thông, tan trường đạp xe
hàng ba, hàng bốn, phóng xe lạng lách, vượt quá tốc độ dù bị nhà trường cảnh cáo, hạ
hạnh kiểm vẫn không sợ.
Học sinh hiện nay có quan niệm về tình bạn, tình yêu cởi mở hơn, dễ dàng yêu
sớm và muốn thử nghiệm. Nhiều sự việc trực tiếp xảy ra ở trường THPT trên địa bàn
huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa: Học sinh 12 phải nạo phá thai hoặc nghỉ học để
làm mẹ. Đáng chú ý là tình huống này lại xảy ra ở những học sinh nổi tiếng ngoan,
hiền, chăm học.
Bên cạnh đó, một số học sinh rất chăm chỉ học tập và kết quả học tập hàng năm
đều cao, nhưng lại chỉ biết mỗi chuyện học, ít quan tâm đến các hoạt động tập thể văn
nghệ, thể thao, cắm trại của lớp, của trường. Những học sinh


đó sống khép kín, không hòa đồng với bạn bè, không quan tâm đến những gì đang diễn
ra xung quanh. Từ đó phổ biến căn bệnh vô cảm trong học sinh. Có sự vô cảm không
biết cảm ơn khi được giúp đỡ, không biết xin lỗi khi làm sai, có sự vô cảm dẫn đến sự
việc nghiêm trọng như các nữ sinh ở Bắc Giang, Quảng Ninh, Hải Phòng đánh nhau, xé

áo, cắt tóc bạn mình thì các em vẫn đứng xem, quay phim, cổ vũ nhiệt tình. Văn hóa
thần tượng lệch lạc, các Fan cuồng có hành động phát ngôn phản cảm, thiếu suy nghĩ,
tôn thờ mù quáng. Hoặc giới trẻ thích tạo ra Scandal để được nổi tiếng bằng việc khoe
thân phản cảm, phát ngôn gây sốc,…
Tất cả những biểu hiện ấy làm đau đầu những nhà Giáo dục và trách nhiệm của
nhà trường THPT và giáo viên chủ nhiệm không phải là những người ngoài cuộc. Như
vậy câu hỏi đặt ra phải GD kĩ năng sống như thế nào để cải thiện tình trạng trên.
II.1.2. Thực trạng giáo dục kĩ năng sống ở trường THPT :

Thông qua dự án “Giáo dục KNS để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/ AIDS
dành cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường”, do Quỹ nhi đồng Liên Hợp
Quốc (UNICEF) phối hợp với Bộ GD- ĐT phối hợp cùng Hội Chữ thập đỏ Việt Nam
thực hiện năm 1995-1996 thì thuật ngữ KNS bắt đầu xuất hiện trong nhà trường phổ
thông Việt Nam. Việc giáo dục KNS trong trường THPT được Bộ GDĐT triển khai vào
cuối năm 2010. Theo công văn chỉ đạo của Bộ GDĐT, đưa KNS vào chương trình giáo
dục trong nhà trường phổ thông, yêu cầu lồng ghép chương trình kỹ năng sống ở các
môn học. Các môn lịch sử, địa lí, giáo dục công dân và đặc biệt là môn ngữ văn đã có
sự lồng ghép vào giảng dạy. Nhưng một mặt tôi nhận thấy việc lồng ghép đưa vào còn
chung chung, hời hợt, chiếu lệ và ít hiệu quả. Một mặt việc áp dụng của giáo viên (GV)
còn gặp nhiều khó khăn, lúng túng; xét trong điều kiện đó cũng là điều không thể tránh
khỏi.
Mặt khác việc GD kĩ năng sống ở trường THPT chủ yếu nhấn mạnh ở với những
nội dung: kĩ năng nhận thức, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng hợp tác(thông qua

Trang 10


làm việc nhóm) mà ít các kĩ năng nhận thức, kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng kiểm soát
cảm xúc, kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ và kĩ năng giải quyết vấn đề. Như vậy GD kĩ năng
sống chưa thật thiết thực, chưa đi vào nội dung cụ thể, đặc biệt là nội dung GD giới

tính.
Lí giải về tình trạng trên, có thể thấy: Xã hội Việt Nam bị coi là một xã hội bảo thủ
vì tỷ lệ giáo dục giới tính trong trường học tại Việt Nam rất thấp: chỉ có khoảng 0.3%
trường Trung học phổ thông có đưa giáo dục giới tính vào giảng dạy cho học sinh[13].
Việc GD giới tính ở trường THPT lại chỉ gắn với phòng chống HIV- AIDS là phiến
diện, không đầy đủ.
Phần nội dung này đã được Bộ giáo dục và đào tạo triển khai tập huấn cho GV
nhưng cũng là dạy học lồng ghép vào các môn xã hội. Những bài học có nội dung liên
quan thìlồng ghép khéo léo, ngắn gọn, không nặng nề, dài dòng. Như vậy các nội dung
này vốn sơ lược lại phân bố rải rác ở các môn học khác nhau. Cuối cùng kiến thức Hs
nhận được chung chung như vệ sinh thân thể, sự mang thai hoặc cụ thể như HIV/AIDS,
thay đổi cơ thể tuổi dậy thì, quan hệ với bạn bè… Các kiến thức về GD giới tính đôi lúc
được đề cập ngẫu nhiên thông qua trao đổi, tư vấn trên lớp hoặc với riêng từng HS, GV
thậm chí còn bỏ qua các nội dung nhạy cảm..
Như vậy có thể thấy nội dung này đã được quan tâm nhưng ở mức độ còn hạn chế,
chưa có sự phối hợp chặt chẽ và hiệu quả giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong việc
GDGT cho tuổi vị thành niên. Công tác tuyên truyền về GD giới tính chưa được đồng
bộ, phương tiện tuyên truyền còn hạn chế. Vì vậy mà đối tượng tiếp cận kiến thức chỉ
mới hiểu biết một cách mơ hồ, chưa thấu triệt, chưa hiểu rõ bản chất… Trong khi đó với
trào lưu du nhập lối sống phương Tây vào nước ta hiện nay, số VTN QHTD trước hôn
nhân, tình trạng nạo phá thai, hiện tượng lạm dụng TD trẻ em nữ có xu hướng tăng
cao… Những vấn đề này đe doạ trực tiếp đến sức khoẻ VTN. Để giúp các em HS có thể
tiếp thu lối sống lành mạnh thì việc trang bị kiến thức về sức khoẻ giới tính, về việc
tránh thai an toàn để bảo vệ mình là điều vô cùng cần thiết.


Trở lại vấn đề, nhiệm vụ của người GVCN là tìm hiểu đối tượng hs và định hướng,
dẫn dắt các em có quan điểm, tư tưởng, lối sống lành mạnh. Môi trường sống, gia đình,
sở thích, quan hệ, những xu hướng phát triển nhân cách của hs, GVCN là người nắm rõ
hơn ai hết. Chính vì thế cần đưa nội dung GD giới tính vào giảng dạy ở các giờ

SHNGLL mới có thể nâng cao hiệu quả chủ nhiệm và có thể phần nào giảm bớt thực
trạng đáng lo ngại ở trên.
II.1.3. Thực trạng về GD KNS cho HS nữ ở trường THPT Hoàng Hoa
Thám:
Về GD kĩ năng sống nói chung, GD giới tính nói riêng ở Trường
THPT Hoàng Hoa Thám có tiến hành nhưng ít hiệu quả. Nhà trường có tổ
chức chương trình Sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh nữ trong thời
gian 45 phút. Hội trường đông đúc, ồn ào, thời gian ngắn, các em ít tập trung
chú ý.
Hoạt động của Đoàn trường như tuyên truyền qua phát thanh: Sức
khỏe sinh sản vị thành niên và phòng chống HIV – AIDS, Khi tôi 18,.. hay tổ
chức sinh hoạt ngoại khóa nhưng các hoạt động ít lại mang tính hình thức, bề
nổi, chưa có chiều sâu.
Trong giờ sinh hoạt ngoài giờ lên lớp có chủ đề Sức khỏe sinh sản vị
thành niên và phòng chống HIV – AIDS, Phòng chống bạo lực học đường,..
nhưng triển khai cũng qua loa. Người dạy ít đầu tư, người học ít hào hứng
nên hiệu quả không cao.
Theo điều tra về đối tượng Hs nữ lớp 10 A7 trường THPT Hoàng Hoa
Thám về thực trạng hiểu biết về kĩ năng sống và GD giới tính, kết quả như
sau: 40/41 hs nữ cho rằng GD kĩ năng sống rất quan trọng trong trường
THPT chiếm tỉ lệ (97%) nhưng 30/41 hs hiểu chưa thật rõ(73%) kĩ năng sống
là gì, 34/41 hs cho rằng rất cần GD giới tính tại trường THPT(83%). Như
vậy thực trạng giảng dạy KNS và GD giới tính cho hs, nhất là hs nữ ở trường
THPT Hoàng Hoa Thám chưa đáp ứng được nguyện vọng của thầy và trò.
II.1.4. Nguyên nhân thực trạng:


Một thách thức lớn trong việc GD giới tính để tăng kĩ năng sống cho VTN ở nước
ta hiện nay là vấn đề chưa được nhận thức đầy đủ, chưa đúng mức của toàn
xã hội. Nhiều nhà lãnh đạo chính quyền và nhà hoạch định chính sách vẫn coi vấn đề

sức khoẻ, SKSS VTN chỉ thuần tuý là vấn đề xã hội, liên quan đến tập quán, lối sống.
Nhận thức về SKSS VTN của các bậc cha mẹ còn nhiều lệch lạc, phong kiến, coi
VTN là trẻ con, chưa có sự trao đổi cởi mở, bình đẳng và hướng dẫn cần thiết cho VTN.
Tâm lí lo ngại “vẽ đường cho hươu chạy” vẫn còn phổ biến không
chỉ



các bậc PHHS mà cả ở GV, lãnh đạo ngành giáo dục, văn hoá. Thái độ của GV trực tiếp
dạy nội dung GD giới tính cũng đang là trở ngại, các thầy cô cảm thấy chưa tự tin, ngại
ngùng khi truyền đạt về vấn đề này. Lí giải cho hiện trạng thầy cô cho rằng một nguyên
nhân quan trọng là không có môn học riêng về lĩnh vực này. Sự băn khoăn về nội dung,
phương pháp giảng dạy cũng làm GV chưa tự tin, kết quả là GV có thể né tránh, không
đề cập hoặc trả lời thắc mắc của HS.
Về phía học sinh: chưa được trang bị các kỹ năng cần thiết để nhận thức bản thân
và đối phó với các nguy cơ đến từ các mối quan hệ xã hội và sự biến đổi tâm sinh lý bản
thân, các em được gia đình nuông chiều quá mức tạo thành các thói quen xấu, khó thay
đổi.
Về phía phụ huynh học sinh: nhiều phụ huynh chỉ lo kiếm tiền nhiều mà không quan
tâm gì đến việc học tập và giáo dục con cái. Khi thấy môi trường của chúng có nguy cơ
không an toàn thì lại vội vàng tách con mình ra khỏi môi trường, đưa chúng vào môi
trường gò bó, khuôn khổ khiến chúng một mặt không thể thích nghi với những thay đổi
và một mặt khi xảy ra những tình huống thật sự ngoài đời sẽ phản ứng theo bản năng
một cách tiêu cực. Cách nhìn nhận của các bậc phụ huynh còn dừng lại ở việc quan tâm
đến việc học hành của con mà ít giành thời gian tâm sự hay giáo dục về vấn đề giới
tính. Và rõ ràng đối với hs càng bị né tránh cung cấp thông tin cụ thể từ người lớn sẽ
khiến các em càng tò mò, hoang mang và càng dễ bị dẫn dụ.


Theo ý kiến của phó viện trưởng Viện phát triển sức khỏe cộng đồng Ánh

Sáng- Bác sĩ Nguyễn Thu Giang đã nhấn mạnh về hai nguyên nhân:"Giáo dục
kỹ năng sống cho các em phải từ hai phía gia đình và nhà trường. Ở nhà
trường, đó có thể là các buổi ngoại khóa, sinh hoạt nhóm lành mạnh. Ở góc độ
là bác sĩ điều trị, tôi thấy khi để các em đến cơ sở y tế là đã muộn rồi "[13- Báo
Thế giới trong ta số 426]. Cũng theo điều tra đối với 41 em hs nữ lớp 10A7
trường THPT Hoàng Hoa Thám, 29/41 hs chọn người tin tưởng nhất để chia sẻ
những vấn đề về giới tính là người thân thiết nhất trong gia đình(71%), chỉ có 2
hs chọn chia sẻ với GV mà mình tin tưởng nhất(4,9%). Kết quả này cho thấy các
em rất đặt niềm tin vào người thân trong gia đình nhưng đó có phải là nơi cung
cấp kiến thức về giới tính đầy đủ nhất cho các em? Rõ ràng là khó vì bố mẹ các
em làm nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau, không phải phụ huynh nào cũng
giành nhiều thời gian để tìm hiểu các kiến thức này cũng như lắng nghe những
thay đổi để uốn nắn các em kịp thời.
Như vậy có thể thấy cơ hội để GV, nhất là GVCN trở thành người cố vấn đáng tin
cậy cho các em chỉ có thể thông qua việc tăng cường GD kĩ năng sống này. Từ đây
GVCN sẽ hoàn thành tốt hơn vai trò của mình, nâng cao được hiệu quả chủ nhiệm còn
Hs sẽ tìm được nguồn thông tin đáng tin cậy để trang bị cho mình. Trong nghiên cứu
này tôi tập trung vào việc tác động vào nguyên nhân từ phía nhà trường mà cụ thể là
người GVCN GD kĩ năng sống với nội dung GD giới tính cho hs nữ trong các tiết
SHNGLL để cải thiện tình trạng như đã phân tích.
II.2. Giải pháp thay thế: GD kĩ năng sống với nội dung giáo dục giới tính
cho hs nữ lớp 10 trường THPT Hoàng Hoa Thám
II.2.1. Cơ sở lí luận của đề tài:

- HS THPT là lứa tuổi đầu thanh niên từ 14 - 18 tuổi, là thời kì đạt được sự
trưởng thành về mặt thể lực, nhưng sự phát triển cơ thể còn kém so với sự phát
tri ển cơ thể củangười lớn. Đối với các em, đây là thời kỳ chuyển từ thời thơ ấu
sang tuổi trưởng thành. Sự khác biệt cơ bản của lứa tuổi VTN với các em ở lứa
tuổi khác là sự phát triển mạnh mẽ, thiếu cân đối giữa các mặt: cơ thể, trí tuệ,



tâm sinh lý [8]. Sự biến đổi về tâm sinh lí làm cho lứa tuổi VTN vừa là “trẻ con”, vừa
là“người lớn” là sự phát triển đối lập nhưng thống nhất. Các em còn trẻ con hồn nhiên
nhưng đã bắt đầu có ý thức về “cái tôi”, muốn tự khẳng định mình, khẳng định nhân
cách của mình. Đây cũng là thời kỳ các em hình thành cách sống, cách nghĩ. Đặc biệt ở
lứa tuổi này các em rất xem trọng tình bạn, các em thích giao tiếp kết bạn với nhau, tôn
trọng lẫn nhau, tin tưởng, quan hệ bình đẳng và giúp đỡ lẫn nhau. Như vậy đây là lứa
tuổi có những thay đổi mãnh liệt báo hiệu những phong phú về tâm sinh lí nhưng cũng
tiềm ẩn những nguy cơ đáng lo ngại. Chính vì vậy tiếp cận và GD kĩ năng sống cho các
em ở lứa tuổi này vừa là cơ hội cũng vừa là thách thức đối với người GVCN.
Điều 27 về Mục tiêu của giáo dục phổ thông nêu rõ: “…Mục tiêu của giáo
dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất,
thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và
sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng
tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi
vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc…”[10]. Đồng
thời Chỉ thị 40/2008/ CT-BGDĐT của Bộ trưởng Bộ GDĐT về phát động phong
trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” đã chỉ ra:“Rèn
luyện kỹ năng sống cho học sinh:
- Rèn luyện kỹ năng ứng xử hợp lý với các tình huống trong cuộc sống,
thói quen và kỹ năng làm việc, sinh hoạt theo nhóm.
- Rèn luyện sức khỏe và ý thức bảo vệ sức khỏe, kỹ năng phòng, chống tai
nạn giao thông, đuối nước và các tai nạn thương tích khác.
- Rèn luyện kỹ năng ứng xử văn hóa, chung sống hòa bình, phòng ngừa
bạo lực và các tệ nạn xã hội.” [11].
Từ đó có thể thấy việc GD kĩ năng sống cho Hs THPT là rất quan trọng.
II.2.2. Kĩ năng sống là gì?

- Tổ chức Y tế Thế giới WHO định nghĩa kỹ năng sống là "khả năng thích
nghi và hành vi tích cực cho phép cá nhân có khả năng đối phó hiệu quả với

nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày" [1].


- Theo Quĩ nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF), KNS là cách tiếp cận giúp
thay đổi hay hình thành hành vi mới. Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng và
tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và kỹ năng [5].
KNS là khả năng làm chủ bản thân của mỗi con người, khả năng ứng xử
phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước
các tình huống của cuộc sống[7].
Như vậy kỹ năng sống chính là năng lực của mỗi người giúp giải quyết những
nhu cầu và thách thức của cuộc sống một cách có hiệu quả. Trong tập sách Giáo dục kĩ
năng sống cho học sinh phổ thông _ nxb Giáo dục, nội dung giáo dục kĩ năng sống cho
học sinh trong nhà trường phổ thông đã được tổng hợp thành 21 KN:
1. Kĩ năng tự nhận thức:Tự nhận thức là tự mình nhìn nhận, tự đánh giá
về bản thân. Để tự nhận thức đúng về bản thân cần phải được trải nghiệm
qua thực tế, đặc biệt là giao tiếp với người khác.
2. Kĩ năng xác định giá trị.
Mỗi người đều có một hệ thống giá trị riêng. Kĩ năng xác định giá trị là khả năng
con người hiểu rõ được những giá trị của bản thân mình. Kĩ năng này còn giúp người
khác biết tôn trọng người khác, biết chấp nhận rằng người khác có những giá trị và
niềm tin khác.
3. Kĩ năng kiểm soát cảm xúc
Kiểm soát cảm xúc là khả năng con người nhận thức rõ cảm xúc của mình trong
một tình hống nào đó và hiểu được ảnh hưởng của cảm xúc đối với bản thân và đối với
người khác thế nào, đồng thời biết cách điều chỉnh và thể hiện cảm xúc một các phù
hợp.
4. Kĩ năng ứng phó với căng thẳng.
Kĩ năng ứng phó với căng thẳng là khả năng con người bình tĩnh, sẵn sàng
đón nhận những tình huống căng thẳng như là một phần tất yếu của cuộc sống, là khả
năng nhận biết sự căng thẳng, hiểu được nguyên nhân, hậu quả của căng



thẳng, cũng như biết cách suy nghĩ và ứng phó một cách tích cực khi bị căng thẳng.
5. Kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ.
Kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ bao gồm các yếu tố sau:
- Ý thức được nhu cầu cần giúp đỡ.
- Biết xác định được những địa chỉ đáng tin cậy.
- Tự tin và biết tìm đến các địa chỉ đó.
- Biết bày tỏ nhu cầu cần giúp đỡ một cách phù hợp.
6. Kĩ năng thể hiện sự tự tin
Kĩ năng thể hiện sự tự tin giúp cá nhân giao tiếp hiệu quả hơn, mạnh dạn bày tỏ
suy nghĩ và ý kiến của mình, quyết đoán trong việc ra quyết định và giải quyết vấn đề,
thể hiện sự kiên định, đồng thời cũng giúp người đó có suy nghĩ tích cực và lạc quan
trong cuộc sống.
7. Kĩ năng giao tiếp
Kĩ năng giao tiếp giúp con người biết đánh giá tình huống giao tiếp và điều chỉnh
cách giao tiếp một cách phù hợp, hiệu quả, cởi mở bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc nhưng
không làm hại gây tổn thương cho người khác.
8. Kĩ năng lắng nghe tích cực
Lắng nghe tích cực là một phần quan trọng của kĩ năng giao tiếp. Người có kĩ
năng lắng nghe tích cực thường được nhìn nhận là biết tôn trọng và quan tâm đến ý kiến
của người khác, nhờ đó làm cho việc giao tiếp, thương lượng và hợp tác của họ hiệu
quả hơn. Lắng nghe tích cực cũng góp phần giải quyết mâu thuẫn một cách hài hòa và
xây dựng.
9. Kĩ năng thể hiện sự cảm thông
Thể hiện sự cảm thông là khả năng có thể hình dung và đặt mình trong hoàn cảnh
của người khác, giúp chúng ta hiểu và chấp nhận người khác vốn là những người rất
khác mình, qua đó chúng ta có thể hiểu rõ cảm xúc và tình cảm của người khác và cảm
thông với hoàn cảnh hoặc nhu cầu của họ



10. Kĩ năng thương lượng.
Thương lượng là khả năng trình bày, suy nghĩ, phân tích và giải thích, đồng thời
có thảo luận để đạt được một sự điều chỉnh và thống nhất về cách suy nghĩ, cách làm
hoặc một vấn đề gì đó.
Kĩ năng thương lượng có liên quan đến sự tự tin, tính kiên định, sự cảm thông, tư
duy sáng tạo, kĩ năng hợp tác và khả năng thỏa hiệp những vấn đề không có tính
nguyên tắc của bản thân.
11. Kĩ năng giải quyết mâu thuẫn.
Mâu thuẫn là những xung đột, tranh cãi, bất đồng, bất bình với một hay nhiều
người về một vấn đề nào đó.
Kĩ năng giải quyết mâu thuẫn là khả năng con người nhận thức được nguyên
nhân nảy sinh mâu thuẫn và giải quyết những mâu thuẫn đó với thái độ tích cực, không
dùng bạo lực, thỏa mãn được nhu cầu và quyền lợi các bên và giải quyết cả mối quan hệ
giữa các bên một cách hòa bình.
12. Kĩ năng hợp tác.
Hợp tác là cùng chung sức làm việc, giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau trong một công việc,
một lĩnh vực nào đó vì mục đích chung.
Kĩ năng hợp tác là khả năng cá nhân biết chia sẻ trách nhiệm, biết cam kết và cùng
làm việc có hiêu quả với những thành viên khác trong nhóm.
13. Kĩ năng tư duy phê phán.
Kĩ năng tư duy phê phán là khả năng phân tích một cách khách quan và toàn diện
các vấn đề, sự vật, hiện tượng…xảy ra.
Kĩ năng tư duy phê phán phụ thuộc vào hệ thốn giá trị cá nhân. Một người có được
kĩ năng tư duy phê phán tốt khi biết phối hợp nhịp nhàng với kĩ năng tự nhận thức và kĩ
năng xác định giá trị.
14. Kĩ năng tư duy sáng tạo.
Kĩ năng tư duy sáng tạo giúp con người tư duy năng động với nhiều sáng kiến và óc
tưởng tượng; biết cách phán đoán và thích nghi; có tầm nhìn và khả



năng suy nghĩ rộng hơn các người khác, không bị bó hẹp vào kinh nghiệm trực tiếp
đang trải qua; tư duy minh mẫn và khác biệt.
15. Kĩ năng ra quyết định
Kĩ năng ra quyết định là khả năng của cá nhân biết quyết định lựa chọn phương án
tối ưu để giải quyết vấn đề hoặc tình huống gặp phải trong cuộc sống một cách kịp thời.
16. Kĩ năng giải quyết vấn đề
Kĩ năng giải quyết vấn đề là khả năng của cá nhân biết quyết định lựa chọn phương
án tối ưu và hành động theo phương án đã chọn để giải quyết vấn đề hoặc tình huống
gặp phải trong cuộc sống.
17. Kĩ năng kiên định.
Kĩ năng kiên định là khả năng con người nhận thức được những gì mình muốn và lí
do dẫn đến sự mong muốn đó. Kiên định còn là khả năng tiến hành các bước cần thiết
để đạt được những gì mình muốn trong những hoàn cảnh cụ thể, dung hòa được giữa
quyền, nhu cầu của mình với quyền, nhu cầu của người khác.
18. Kĩ năng đảm nhận trách nhiệm.
Đảm nhận trách nhiệm là khả năng con người thể hiện sự tự tin, chủ động và ý thức
cùng chia sẻ công việc với các thành viên khác trong nhóm. Khi đảm nhận trách nhiệm,
cần dựa trên những điểm mạnh, tiềm năng của bản thân, đồng thời tìm kiếm thêm sự
giúp đỡ cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ.
19. Kĩ năng đạt mục tiêu.
Kĩ năng đặt mục tiêu là khả năng của con người biết đề ra mục tiêu cho bản thân
trong cuộc sống cũng như lập kế hoạch để thực hiện được mục tiêu đó.
20. Kĩ năng quản lý thời gian.


Kĩ năng quản lý thời gian là khả năng con người biết sắp xếp các công việc theo thứ
tự ưu tiên, biết tập trung vào giải quyết công việc trọng tâm trong một thời gian nhất
định.
21. Kĩ năng tìm kiếm và xử lý thông tin.

Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, kĩ năng tìm kiếm và xử lí thông tin là một
KNS quan trọng giúp con người có thể có được những thông tin cần thiết một cách đầy
đủ, khách quan, chính xác, kịp thời.
Như vậy với 21 kĩ năng này tôi nghiên cứu và cụ thể hóa vào các hoạt động theo
từng chủ đề.
Việc giáo dục kỹ năng sống cho hs THPT là rất quan trọng vì nó giúp các em làm
chủ suy nghĩ, cảm xúc và hành động của mình, nhưng điều quan trọng hơn nữa là việc
các em vận dụng những kỹ năng đó trong cuộc sống. Việc áp dụng một cách linh hoạt
các kỹ năng sống cần thiết vào cuộc sống sẽ giúp các em có những nền tảng vững chắc
trong việc tạo dưng tư thế chủ động sáng tạo của một thanh niên năng động. Đó cũng là
cách các em đối đầu và tìm cách vượt qua những áp lực tâm lý về công việc , học tập
cũng như các mối quan hệ phức tạp khác trong cuộc sống.
II.2.3. Nội dung GD kĩ năng sống cho hs nữ trong giờ sinh hoạt ngoài

giờ lên lớp
2.3.1. GD giới tính:
Theo WHO (Tổ chức Y tế thế giới) giáo dục giới tính bao gồm: Sự phát triển của
giới tính, sức khỏe sinh sản, các mối quan hệ cá nhân, tình cảm, về ngoại hình, về vai
trò của giới.[5]
2.3.2. Sức khỏe sinh sản vị thành niên, phòng chống HIV- AIDS:
2.3.2.a. Tuổi vị thành niên là một giai đoạn phát triển đặc biệt và mạnh mẽ
trong đời của mỗi con người. Đây chính là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ con thành
người lớn và được đặc trưng bởi sự phát triển mạnh mẽ cả về thể chất lẫn tinh
thần, tình cảm và khả năng hòa nhập cộng đồng.Tuổi vị thành niên được hiểu là
giai đoạn từ 10 đến 19 tuổi, và nằm trong khoảng thời gian từ lúc dậy thì đến lúc

Trang 20


trưởng thành. Tuổi dậy thì có thể đến sớm hay muộn ở nam và nữ là phụ thuộc vào nơi

sống, mức sống, dinh dưỡng, thể trạng sức khỏe, điều kiện địa lý.v.v…
2.3.2.b. Ở người Việt Nam, tuổi dậy thì thường kéo dài từ 3 đến 5 năm và
có thể chia thành hai giai đoạn nhỏ:
- GĐ trước dậy thì:11- 13 tuổi ở nữ,13- 15 tuổi ở nam.
- GĐ dậy thì: từ 13- 15 tuổi ở nữ và 15- 17 tuổi ở nam.
Giai đoạn dậy thì được đánh dấu bằng “hành kinh lần đầu” ở em gái và “xuất tinh
lần đầu” (mộng tinh) ở em trai. Điều này thường đi cùng với những thay đổi xúc cảm
đối với ban bè khác giới và được coi là những hiện tượng sinh lý, tâm lý bình thường.
Về mặt sinh lý nó thể hiện sự trưởng thành về sinh dục và báo hiệu khả năng có con:
buồng trứng của em gái bắt đầu có trứng rụng và tiết hoóc-môn, tinh hoàn của em trai
bắt đầu sản sinh tinh trùng và tiết hoóc- môn.
2.3.2.c. Hậu quả của mang thai ở tuổi vị thành niên:
- Căng thẳng về tình cảm và tài chính là rất lớn.
- Phải đương đầu với những mệt mỏi của việc nuôi dưỡng một đứa bé mà
không có chồng, thậm chí không có cả gia đình giúp đỡ.
- Sinh đẻ ngoài ý muốn giống như một tai họa đối với người mẹ trẻ, phải
đối mặt với sự phản đối của cộng đống và nếu còn đang đi học thì sẽ bị
buộc phải thôi học.
*Nguy hiểm của việc sinh nở sẽ cao hơn và nhiều mối lo sẽ xuất hiện: chưa hoàn
toàn trưởng thành về thể chất và xương chậu có thể chưa đủ rộng để đầu trẻ sơ sinh
thoát ra. Do đó đẻ khó và chuyển dạ kéo dài sẽ là điều khó tránh khỏi, có thể gây rách
dạ con và chết cả mẹ lẫn con. Dễ dẫn đến tình trạng đẻ non, sảy thai tự phát và thai chết
lưu cao hơn. Tỷ lệ tử vong liên quan đến thai sản ở tuổi vị thành niên có khả năng cao
gấp 4 lần so với phụ nữ trong độ tuổi 20-29.
• Con của các “bà mẹ trẻ” cũng phải đối mặt với những rủi ro về sức khỏe:
nhẹ cân và nguy cơ tử vong cao…
• Mang thai ở tuổi vị thành niên còn đem lại nhiều nỗi kinh hoàng cho
những cô gái trẻ thiếu hiểu biết.



• Có thể chọn cách loại bỏ cái thai không mong muốn bằng việc nạo thai,
nạo thai có thể để lại những biến chứng nghiêm trọng và có thể dẫn đến
vô sinh, thậm chí là cái chết.
2.3.2.d. Một số vấn đề khác:
- Quá trình thụ thai
- Chăm sóc sức khỏe ngày hành kinh
- Các hình thức nạo phá thai
- Phòng tránh việc có thai ngoài ý muốn
2.3.3. GD giới tính + Bình đẳng giới
2.2.3.a. Giáo dục giới tính bao gồm: Sự phát triển của giới tính, sức khỏe sinh
sản, các mối quan hệ cá nhân, tình cảm, về ngoại hình, về vai trò của giới.
- Giới: Là phạm trù chỉ quan niệm, vai trò và mối quan hệ xã hội giữa nam giới
và phụ nữ. Xã hội tạo ra và gán cho trẻ em gái và trẻ em trai, cho phụ nữ và nam
giới các đặc điểm giới khác nhau. Bởi vậy, các đặc điểm giới rất đa dạng và có
thể thay đổi được.
- Giới tính: Là sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam giới và phụ nữ. Giới tính
là những đặc điểm đồng nhất mà khi chúng ta sinh ra đã có và không thể thay
đổi được.
*Sự phát triển của giới tính :
- Ở nam: hoocmon testosteron tăng cao làm tăng kích thước bộ phận sinh dục,
xuất hiện lông mu, giọng nói thay đổi, xuất tinh lần đầu tiên, mọc lông nách,
mọc râu và tăng chiều cao.
- Ở nữ: lượng hoocmon estrogen tăng cao kích thích ngực nở, lông mu xuất
hiện, mọc lông nách, tăng chiều cao, tuyến sữa hình thành, xu ất hiện kiểu thanh
quản nữ giới với giọng cao, kỳ kinh đầu tiên xuất hiện.
Sự thay đổi của cơ thể và tâm sinh lý của VTN đã làm các em chú ý hơn về cơ thể
mình cho nên luôn làm đẹp để gây chú ý ở người khác giới, các em đã bắt đầu thích
chơi với bạn khác giới.
2.3.3.b.Một số khái niệm về bình đẳng giới:



- Quan hệ giới: Là các mối quan hệ xã hội giữa phụ nữ và nam giới, đặc biệt là
cách thức phân chia quyền lực giữa nam và nữ.
- Vai trò giới: Là những hoạt động khác nhau mà xã hội mong nuốn phụ nữ và
nam giới thực hiện.
- Nhạy cảm giới: Là sự nhận thức đầy đủ và đúng đắn về nhu cầu, vai trò và
trách nhiệm khác nhau của phụ nữ và nam giới.
- Trách nhiệm giới: Là việc nhận thức được các vấn đề giới, sự khác biệt giới và
nguyên nhân của nó, từ đó đưa ra biện pháp tích cực nhằm giải quyết và khắc
phục mọi bất bình đẳng trên cơ sở giới.
- Phân công lao động trên cơ sở giới: Là sự phân công việc và trách nhiệm khác
nhau giữa phụ nữ và nam giới
- Bình đẳng giới: Là sự thừa nhận và coi trọng như nhau các đặc điểm giống và
khác nhau giữa phụ nữ và nam giới.
Phụ nữ và nam giới có vị thế bình đẳng như nhau và cùng:
+ Có điều kiện bình đẳng để phát huy hết khả năng và thực hiện các nguyện vọng
của mình.
+ Có cơ hội bình đẳng để tham gia, đóng góp và thụ hưởng các nguồn lực xã hội và
thành quả phát triển.
+ Được bình đẳng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình.
2.3.4. Tình bạn – Tình yêu – Hôn nhân
2.2.4.a.Tình bạn là tình cảm gắn bó giữa hai hoặc nhiều người trên cơ sở tự nguyện,
bình đẳng, hợp nhau về sở thích, cá tính, mục đích, lý tưởng.
Tình bạn khác giới có những đặc điểm cơ bản của tình bạn cùng giới nhưng nó có
những đặc điểm riêng. Đó là:
a/ Trong tình bạn khác giới, mỗi bên đều coi giới kia là một điều kiện để tự hoàn thiện
mình.
b/ Có một “khoảng cách” tế nhị hơn so với tình bạn cùng giới, ở đây có sự “tự điều
chỉnh” một cách tự nhiên: trong quan hệ khác giới, người ta dễ trở nên lịch sự, tế nhị
hơn so với quan hệ cùng giới.



c/ Tình bạn khác giới có thể là khởi điểm cho quá trình chuyển hóa thành tình yêu sau
này, mặc dù nó chưa phải là tình yêu. Do đó, nó dễ bị ngộ nhận là tình yêu.
*Cần lưu ý trong quan hệ khá nhạy cảm này:
- Tránh đối xử với nhau suồng sã, thiếu tế nhị.
- Tránh vô tình hay cố ý gán ghép lẫn nhau trong quan hệ bạn bè khác giới.
- Tránh ghen ghét, nói xấu lẫn nhau hay đối xử thô bạo với nhau khi thấy bạn
mình có thêm người bạn khác giới.
- Tránh ngộ nhận tình bạn khác giới là tình yêu, cho dù rất thân nhau.
- Tránh thái độ lấp lửng, mập mờ dễ gây cho bạn khác giới hiểu lầm là tình yêu
đang đến.
2.3.4.b.Tình yêu được cho là loại cảm xúc mạnh mẽ nhất, đẹp đẽ nhất nhưng
cũng khó nắm bắt, định nghĩa nhất, ngay cả khi đem ra so sánh với các loại cảm
xúc khác. Theo triết học: tình yêu là một loại tình cảm giữa người và người,
hướng con người đến Chân, Thiện, Mỹ.
* Đặc điểm của tình yêu đẹp: Tôn trọng lẫn nhau, Chung thuỷ, Yêu thương, Tin
tưởng, Chia sẻ, Trách nhiệm.
2.3.4.c. Hôn nhân là sự liên kết đặc biệt giữa một người đàn ông và một người
đàn bà, được pháp luật thừa nhận, nhằm chung sống với nhau và cùng xây dựng
gia đình hạnh phúc lâu dài.
2.3.5. Bạo lực học đường:
2.3.5.a. Bạo lực học đường là hệ thống xâu chuỗi những lời nói đe dọa,, hành vi
thô bạo, khủng bố người khác (trò – trò, thầy – trò,..) gây những tổn thương về
tư tưởng, tình cảm, những cú sốc về tâm, sinh lý hoặc để lại những thương tích
trên cơ thể.
2.3.5.b. Thực trạng: đáng báo động và vô cùng nhức nhối:
+ Hiện nay trên mạng internet xuất hiện hàng loạt clip bạo lực của nữ sinh: ở Phú thọ,
nữ sinh đánh nhau bằng giày cao gót, ở Hà Nội, ở TPHCM, Nghệ an…
+ Học sinh có thái độ không đúng mực, xâm phạm đến danh dự và nguy hại về thể

xác của bạn bè và thầy cô…


+ Kết băng nhóm hội hoạt động đánh nhau có tổ chức trong trường học…
+ Giao viên súc phạm tới nhân phẩm, hoặc xâm phạm đến thân thể học sinh…
2.3.5.c. Nguyên nhân:
- Gia đình, nhà trường chưa quan tâm, chưa uốn nắn, GD được các em
- Ảnh hưởng ở các trò chơi bạo lực, phim ảnh
- Lứa tuổi của các em thiếu khả năng kiểm soát hành vi, bồng bột trong hành
động
2.3.5.d. Hậu quả:
- Đối với nạn nhân:
+ Gây tổn thương về tinh thần và thể xác.
+ Gây tổn hại đến người thân, gia đình người bị hại
+ Gây nên tâm lí bất ổn trong xã hội: lo lắng, bất an từ gia đình, nhà trường đến xã hội
- Đối với người gây ra bạo lực:
+ Bản thân tự đánh mất đi nhân phẩm của mình
+ Là nguyên nhân dẫn đến những hành vi gây nên tội ác
+ Phá hỏng tương lai của chính mình, tự vứt bỏ quá trình rèn luyện và tự đào thải
mình ra khỏi quĩ đạo chung của xã hội văn minh, tiến bộ.
+ Gây nguy hại cho xã hội, bị mọi người lên án, xa lánh, căm ghét.
2.3.5.e. Giải pháp:
- Đối với bản thân mỗi người phải tự rèn cao nhận thức hoàn thiện nhân cách.
+ Bồi dưỡng tình yêu thương với bạn bè, thầy cô, gia đình, xã hội.
+Làm chủ được những hành vi và nhận thức rõ những hậu quả hành vi bạo lực gây
nên.
+Nhận thức được vai trò tình người, tình đoàn kết…
-Đối với gia đình: Cần có sự quan tâm, chăm sóc đúng mực đối với học sinh không nên
bỏ rơi, hoặc thiếu quan tâm do nhiều lí do khác nhau hoặc quá nuông chiều con cái.



×