Tải bản đầy đủ (.pdf) (81 trang)

Thực hiện Chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên từ thực tiễn Quận Ba Đình, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (972.26 KB, 81 trang )

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐOÀN KIM THANH

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
CHO THANH NIÊN TỪ THỰC TIỄN QUẬN BA ĐÌNH,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Ngành: Chính sách công
Mã số: 834 04 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS BÙI NHẬT QUANG

HÀ NỘI, 2018
1


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Giải quyết việc làm luôn là chủ để nóng không những chỉ riêng ở Việt
Nam mà còn là vấn đề chung của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có cả
những nước phát triển. Theo Báo cáo của Cơ quan thống kê Hàn Quốc trong
tháng 9 năm 2017 cho thấy tỉ lệ thất nghiệp của nhóm thanh niên tăng cao
nhất trong 18 năm qua.Tỉ lệ thất nghiệp của thanh niên Hàn Quốc độ tuổi từ
15 đến 29 hiện ở mức 8%, gấp đôi tỉ lệ thất nghiệp trung bình của cả nước. Ở
xứ sở kim chi, một việc làm ổn định không chỉ là "cần câu cơm" mà còn là
yếu tố quyết định sự thành bại và chỗ đứng trong xã hội của mỗi cá nhân [15].
Năm 2018, tại Italy, thanh niên phải thức đậy từ nửa đêm để đi xin việc làm là


tình trạng phổ biến, tỷ lệ thất nghiệp thanh niên tại nước này lên tới 30% [16].
Tại Hoa Kỳ, tổng số người thất nghiệp trong năm 2008 đã lên tới con số cao
kỷ lục kể từ năm 1945. Bộ Lao động Hoa Kỳ cũng công bố tháng 10 năm
2008, số lượng người thất nghiệp là 423.000 và tháng 11 là 584.000
người.Tuy nhiên, với nhiều nỗ lực của Chính phủ Hoa Kỳ trong nhiệm kỳ của
Tổng thống Donal Trump, tỷ lệ thất nghiệp tại Mỹ đã giảm và trung bình mỗi
tháng nền kinh tế nước này tạo ra 185.000 việc làm mới. Số việc làm mới
được tạo ra trong tháng vừa qua chủ yếu trong các lĩnh vực khai mỏ, chăm
sóc y tế, bảo hiểm xã hội và giải trí. Tuy nhiên, vấn đề giải quyết việc làm tại
nước này vẫn còn nhiều thách thức.
Ở nước ta, thanh niên là lực lượng lao động lớn của xã hội và là nguồn
lực quan trọng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Hằng
năm có khoảng 1,2 - 1,6 triệu thanh niên bước vào tuổi lao động. [4]
Theo kết quả điều tra lao động và việc làm toàn quốc của Bộ Lao động
- Thương binh và Xã hội [3], số lượng và tỷ lệ thanh niên tham gia hoạt động
kinh tế tăng đều từ năm 2008 đến nay. Năm 2008, số thanh niên hoạt động

2


kinh tế của cả nước là hơn 16 triệu người, chiếm 67,2% tổng số thanh niên
(38,7% lực lượng lao động xã hội); năm 2009, số thanh niên hoạt động kinh tế
tăng thành gần 18 triệu người, chiếm 75,4% tổng số thanh niên (36,6% lực
lượng lao động xã hội); năm 2010 con số đó là 17,1 triệu người, chiếm 75,9%
tổng số thanh niên (33,7% lực lượng lao động xã hội).Dưới tác động của cuộc
khủng hoảng kinh tế toàn cầu, thực trạng việc làm của thanh niên trong thời
gian gần đây diễn biến khá phức tạp.Tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm
trong thanh niên vẫn gia tăng. Theo thống kê của Bộ Lao động - Thương binh
và Xã hội, tỷ lệ thanh niên trong độ tuổi lao động thiếu việc làm tăng từ 3%
(năm 2008) lên 5,6% (năm 2009) và 4,1% (năm 2010), trong đó khu vực

thành thị là 2%; khu vực nông thôn là 4,9%.
Tình trạng thất nghiệp cũng có xu hướng tăng mạnh, tập trung chủ yếu
ở nhóm thanh niên đô thị. Tỷ lệ thanh niên thất nghiệp chiếm 4,2% (năm
2008); 4,1% (năm 2009) và tăng lên 5,2% (năm 2010), trong đó ở khu vực đô
thị là 7,8%, cao gần gấp hai lần nông thôn (4,3%).
Số đối tượng hưởng trợ cấp thất nghiệp ở nhóm thanh niên cũng chiếm
tỷ lệ khá cao. Trong số những người hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng thì
số người ở độ tuổi dưới 24 là 12.275 người (chiếm 24,5%); từ 25 - 40 tuổi là
31.366 người (chiếm 62,7%); trên 40 tuổi là 6.416 người (chiếm 12,8%)[2].
Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng, đẩy mạnh giải
quyết việc làm, trong đó có giải quyết việc làm cho thanh niên.Cụ thể tại Nghị
quyết số 25-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, việc triển khai các hoạt động nhằm nâng cao
chất lượng lao động trẻ, giải quyết việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời
sống cho thanh niên đã được các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể địa
phương quan tâm thực hiện với nhiều hình thức khác nhau. Tuy nhiên trên

3


thực tế, sự nhìn nhận, đánh giá của cán bộ đảng, chính quyền, đoàn thể và
thanh niên địa phương về hiệu quả đạt được của các hoạt động này còn nhiều
hạn chế, chưa đáp ứng được những đòi hỏi của thanh niên.
Nhận thấy tính cấp thiết của vấn đề nêu trên, là học viên cao học
chuyên ngành Chính sách công và hiện đang công tác tại Ủy ban nhân dân
Quận Ba Đình, học viên chọn đề tài “Thực hiện Chính sách giải quyết việc
làm cho thanh niên từ thực tiễn Quận Ba Đình, thành phố Hà Nội” làm luận
văn thạc sĩ để nghiên cứu các vấn đề lý luận cũng như giải quyết vấn đề trong
thực tiễn.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về giải quyết việc làm cho
thanh niên, tiêu biểu như sau:
2.1 Các công trình nghiên cứu nước ngoài
- Năm 1997 O’Higgin lại cho xuất bản công trình nghiên cứu “The
challenges of youth unemployment”, nói về tình trạng thất nghiệp của giới trẻ,
một thách thức lớn đối với nhiều quốc gia hiện nay, nhất là các quốc gia có
nền kinh tế chậm phát triển và đang phát triển. [8]
- Năm 1998 Manning.C đã xuất bản ấn phẩm “Choosy Youth or
unwanted youth - a survey or unemployment” [7] nói về sự lựa chọn, mong
muốn của giới trẻ hiện nay trong việc tìm kiếm việc làm phù hợp, nhằm tránh
khỏi tình trạng thất nghiệp đang đe dọa thường xuyên do những biến động
khó lường của kinh tế thế giới, cũng như nền kinh tế của mỗi quốc gia.
Các công trình nghiên cứu của các học giả nói trên đề cập về việc làm
của đối tượng lao động thanh niên trong bối cảnh khoa học và công nghệ đạt
được những thành tựu đáng kể. Đặc biệt, trong bối cảnh cuộc cách mạng 4.0
đang diễn ra, máy móc càng ngày càng thay thế con người trong nhiều vị trí
việc làm, thì những công trình khoa học nêu trên là bài học kinh nghiệm để

4


Đảng, Nhà nước ta hoạch định và ban hành các chính sách về việc làm cho
thanh niên.
2.2 Các công trình nghiên cứu trong nước
2.2.1 Các công trình nghiên cứu tổng quan về chính sách giải quyết việc làm
Tác giả Đỗ Thị Xuân Phượng với đề tài: “Phát triển thị trường sức lao
động, giải quyết việc làm qua thực tế ở Hà Nội” (2005), [9], luận án tiến sĩ
kinh tế đã đi từ thực trạng việc làm của lao động ở Hà Nội, các vấn đề nảy sinh
để khái quát thành giải pháp, biện pháp khắc phục. Tác giả đã khái quát thực tế

từ thị trường sức lao động và việc làm ở Hà Nội để đánh giá về vấn đề giải
quyết việc làm cho người lao động ở Hà Nội, bởi lẽ thủ đô Hà Nội là trung tâm
văn hóa - kinh tế - chính trị của cả nước, nơi tập trung nhiều lao động từ các
tỉnh, thành phố khác nên thị trường sức lao động ở Hà Nội có diễn biến khá
phức tạp về số lượng, chất lượng, cơ cấu, thành phần.
2.2.2 Các công trình nghiên cứu về chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, khuyến
khích đầu tư nhằm tạo việc làm
Phạm Thị Kim Thư với luận văn thạc sỹ “Quản lý nhà nước đối với
doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố Hà Nội”. (2014) [14], Luận
văn đã phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với
doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội, từ đó đưa ra những giải pháp
hoàn thiện công tác này.Đây là công trình khá toàn diện không chỉ nghiên
cứu, đánh giá và đưa ra giải pháp về việc thực thi chính sách, mà còn các hoạt
động khác của QLNN như xây dựng các văn bản pháp quy, kiểm tra, giám sát
hoạt động của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Hà Nội; điều này góp phần phát
triển doanh nghiệp một cách bền vững.
2.2.3 Các công trình nghiên cứu về chính sách tín dụng
Ngô Quỳnh An với luận án tiến sĩ “Tăng cường khả năng tự tạo việc làm
cho thanh niên Việt Nam” bảo vệ năm 2012 tại trường đại học KTQD, [1], đã

5


phân tích và đánh giá thực trạng tự tạo việc làm của thanh niên Việt Nam
trong bối cảnh nền kinh tế thị trường đang hội nhập quôc tế. Bên cạnh đó,
luận án cũng đề cập những giải pháp, bao gồm giải pháp về tín dụng nhằm hỗ
trợ thanh niên tự tạo việc làm.
2.2.4 Các công trình nghiên cứu về đào tạo nghề
Ngô Thùy Hương với luận văn thạc sĩ “Các giải pháp đào tạo nghề cho
thanh niên dân tộc trên địa bàn tỉnh Đăklăk” bảo vệ năm 2015[6], đã phân

tích, đưa ra thực trạng đào tạo nghề cho thanh niên dân tộc trên địa bàn tỉnh
Đăklăk, từ đó đưa ra những giải pháp hoàn thiện công tác này.
2.2.5 Các công trình nghiên cứu về xuất khẩu lao động
Nguyễn Văn Thắng với luận án tiến sĩ “Chính sách việc làm cho thanh
niên vùng thu hồi đất của Hà Nội”, [13], Luận án tập trung nghiên cứu, phân
tích thực trạng các chính sách việc làm cho thanh niên vùng thu hồi đất của
Hà Nội và đưa ra các giải pháp hoàn thiện việc thực hiện các chính sách này.
Trong đó, luận án cũng nghiên cứu và đưa ra giải pháp về xuất khẩu lao động
cho thanh niên vùng thu hồi đất của Hà Nội.
Các công trình nghiên cứu nêu trên là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị
đối với định hướng nghiên cứu của học viên, tuy nhiên các công trình này
chưa đề cập tới việc thực hiện các chính sách giải quyết việc làm cho thanh
niên tại một địa bàn (quận, huyện) cụ thể. Từ đó, học viên định hướng nghiên
cứu thực hiện các chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên tại Quận Ba
Đình, thành phố Hà Nội là không trùng lắp với các công trình nêu trên.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu thực trạng việc thực hiện chính sách giải quyết việc
làm cho thanh niên từ thực tiễn của Quận Ba Đình, để từ đó đưa ra phương
hướng, giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về lao động của Quận nói

6


chung và cụ thể là việc thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở khoa học về chính sách giải quyết việc làm cho
thanh niên
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng việc thực hiện chính sách giải quyết
việc làm cho thanh niên của Quận Ba Đình, thành phố Hà Nội

- Đưa ra phương hướng, giải pháp hoàn thiện việc thực hiện chính sách
giải quyết việc làm cho thanh niên của Quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Việc thực hiện chính sách giải quyết việc
làm cho thanh niên
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi không gian: Quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
- Phạm vi thời gian: 2015-2018
- Phạm vi về nội dung: luận văn không tập trung nghiên cứu về thất
nghiệp và các nghiên cứu định lượng nhằm đo lường mức độ giảm tỷ lệ thất
nghiệp hay giải quyết được bao nhiêu việc làm cho người lao động. Luận văn
tập trung nghiên cứu, đánh giá hoạt động của chính quyền Quận Ba Đình
trong việc thực hiện chính sách giải quyết việc làm từ khi thực hiện chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương có
hiệu lực từ năm 2015.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng
- Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp qua
các số liệu thống kê, báo cáo của Quận Ba Đình và các báo, tạp chí.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa khoa học: luận văn góp phần cung cấp một cách có hệ thống

7


những vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách giải quyết việc làm
cho thanh niên.
- Ý nghĩa thực tiễn: thông qua nghiên cứu, luận văn đánh giá một cách
khách quan việc thực hiện những chính sách giải quyết việc làm cho thanh
niên từ thực tiễn Quận Ba Đình, từ đó là cơ sở tham khảo cho Quận hoàn

thiện công tác này cũng như là kinh nghiệm cho các quận, huyện trên cả nước
tham khảo.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương.
Chương 1: Cơ sở khoa học của chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên
Chương 2: Thực trạng việc thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho thanh
niên của Quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện việc thực hiện chính sách giải
quyết việc làm cho thanh niên của Quận Ba Đình, thành phố Hà Nội

8


Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CHÍNH SÁCH GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
CHO THANH NIÊN
1.1 Cơ sở lý luận về chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên
1.1.1 Một số khái niệm
1.1.1.1 Khái niệm việc làm
Đứng trên các góc độ nghiên cứu khác nhau, người ta đã đưa ra rất
nhiều định nghĩa nhằm sáng tỏ khái niệm việc làm. Và ở các quốc gia khác
nhau, do ảnh hưởng của nhiều yếu tố như điều kiện kinh tế, chính trị, luật
pháp… người ta quan niệm về việc làm cũng khác nhau. Chính vì thế, không
có một định nghĩa chung và khái quát nhất về việc làm.
Có thể hiểu, việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản
xuất xã hội, phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất. Người lao
động được coi là có việc làm khi chiếm giữ một vị trí nhất định trong hệ
thống sản xuất của xã hội. Nhờ có việc làm mà người lao động mới thực hiện
được quá trình lao động tạo ra sản phẩm cho xã hội, cho bản thân.

Ở Việt Nam, khái niệm việc làm đã được quy định tại Điều 13 của Bộ
luật lao động: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp
luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”. [10]
Khái niệm trên nói chung khá bao quát, nhưng chúng ta cũng thấy rõ
hai hạn chế cơ bản. Thứ nhất, hoạt động nội trợ không được coi là việc làm,
trong khi đó hoạt động nội trợ tạo ra các lợi ích phi vật chất và gián tiếp tạo ra
lợi ích vật chất không hề nhỏ.Thứ hai, khó có thể so sánh tỷ lệ người có việc
làm giữa các quốc gia với nhau vì quan niệm về việc làm giữa các quốc gia có
thể khác nhau, phụ thuộc vào luật pháp, phong tục tập quán. Có những nghề ở
quốc gia này thì được cho phép và được coi là việc làm, nhưng ở quốc gia

9


khác, ví dụ đánh bạc ở Việt Nam bị cấm, nhưng ở Thái Lan và Mỹ lại được
coi là một nghề. Thậm chí nghề này rất phát triển, vì nó thu hút khá đông tầng
lớp thượng lưu.Trong thời kỳ hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay, Tổ chức lao
động quốc tế (ILO) còn khuyến cáo và đề cập tới việc làm nhân văn hay việc
làm bền vững.
1.1.1.2 Khái niệm giải quyết việc làm
Theo khái niệm việc làm nêu ở phần trên, việc làm là phạm trù để chỉ
trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư
liệu sản xuất, công nghệ...) để sử dụng sức lao động đó. Rõ ràng tạo được việc
làm cho người lao động hoặc tạo nhiều việc làm luôn gắn với quá trình phát
triển kinh tế xã hội, phát huy sức mạnh tiềm năng của con người, phát huy trí
tuệ người lao động để tạo ra nhiều của cải cho xã hội. Chính vì vậy, Văn kiện
Đại hội X của Đảng đã nêu rõ “Giải quyết việc làm là yếu tố quyết định để
phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã
hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân”. Vấn
đề giải quyết việc làm cho người lao động là cần thiết, không những mang

tầm quốc gia mà vượt ra bên ngoài khu vực và thế giới. Tuỳ thuộc vào các
cách thức tiếp cận và mục đích nghiên cứu khác nhau mà người ta đưa ra khái
niệm về giải quyết việc làm.
Giải quyết việc làm là một quá trình tạo ra môi trường hình thành các
chỗ làm việc và sắp xếp người lao động phù hợp với chỗ làm việc để có các
việc làm chất lượng, đảm bảo nhu cầu của cả người lao động và người sử
dụng lao động, đồng thời đáp ứng được mục tiêu phát triển đất nước.
Với khái niệm trên, việc giải quyết việc làm không chỉ có nhiệm vụ
chức năng của Nhà nước mà còn là trách nhiệm của xã hội, của các cơ quan
doanh nghiệp và ngay bản thân người lao động.

10


1.1.1.3 Khái niệm chính sách giải quyết việc làm
Nhà nước đóng vai trò và chịu trách nhiệm chính trong việc giải quyết
việc làm thông qua các công cụ quản lý nhà nước. Một trong những công cụ
quan trọng của Nhà nước để giải quyết các vấn đề của xã hội nói chung và
giải quyết việc làm nói riêng đó là chính sách. Chính sách giải quyết việc làm
có thể hiểu là những biện pháp của Nhà nước tác động tới xã hội nhằm giải
quyết các vấn đề về việc làm như thất nghiệp, khuyến khích người lao động tự
tạo việc làm, hỗ trợ tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư phát triển sản
xuất, kinh doanh để tạo việc làm cho người lao động.
Hiện nay, các chính sách của Nhà nước luôn quan tâm chú trọng đến
tạo công ăn việc làm cho người lao động thông qua các văn bản quy phạm
pháp luật, các chương trình, chính sách hỗ trợ tới tận hộ gia đình, các cá nhân
sẵn sàng làm việc. Chính vì vậy, chính sách nhà nước là một trong những tác
động quan trọng rất mạnh đến việc làm của người lao động như khuyến khích
các doanh nghiệp mở rộng sản xuất như giảm thuế tiền sử dụng đất, thuê nhà
xưởng, văn phòng, hỗ trợ về cơ sở hạ tầng điện đường, trường trạm nhằm

phục vụ cho các công trình sản xuất... Chính sách chính sách nhà nước tác
động toàn diện đến vấn đề giải quyết việc làm. Bên cạnh đó, các chương
trình, chiến lược phát triển, các hoạt động cụ thể của các doanh nghiệp tác
động trực tiếp đến giải quyết việc làm cho người lao động như đào tạo nguồn
lao động, tuyển dụng, bố trí sắp xếp lao động phù hợp năng lực và yêu cầu...
1.1.1.4 Khái niệm chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên
- Khái niệm thanh niên
Thanh niên là một khái niệm có thể được hiểu và định nghĩa theo nhiều
cách. Tùy thuộc vào nội dung tiếp cận, góc độ nhìn nhận hoặc cấp độ đánh giá
mà người ta đưa ra các định nghĩa khác nhau về thanh niên.
Về mặt sinh học, các nhà nghiên cứu coi thanh niên là một giai đoạn

11


xác định trong quá trình “tiến hóa” của cơ thể. Các nhà tâm lý học thường
nhìn nhận thanh niên là một giai đoạn chuyển tiếp từ tuổi thơ phụ thuộc sang
hoạt động độc lập với tư cách là một công dân có trách nhiệm.
Còn theo Luật thanh niên do Quốc Hội ban hành ngày 29/11/2005 qui
định “Thanh niên quy định trong Luật này là công dân Việt Nam từ đủ mười
sáu tuổi đến ba mươi tuổi”, góc tiếp cận xác định độ tuổi để xác định một
người được gọi là thanh có quyền và nghĩa vụ sống và làm việc theo pháp luật
của NN Việt Nam qui định
- Khái niệm chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên
Chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên là một bộ phận của
chính sách giải quyết việc làm cho người lao động nói chung. Đặc biệt ở chỗ,
đối tượng của các chính sách này là dành cho thanh niên. Ở nước ta, căn cứ
Luật Thanh Niên số 53/2005/QH11, thanh niên là những người trong độ tuổi
từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi. Do đó, chính sách giải quyết việc làm cho thanh
niên là các biện pháp của Nhà nước tác động tới xã hội nhằm giải quyết các

vấn đề về việc làm cho thanh niên như khắc phục tình trạng thất nghiệp,
khuyến khích, hỗ trợ thanh niên tự tạo việc làm, khuyến khích, hỗ trợ doanh
nghiệp trong và ngoài nước phát triển việc làm và tiếp nhận đội ngũ thanh
niên vào làm việc. [11]
1.1.2 Vai trò, sự cần thiết của thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho
thanh niên
1.1.2.1 Vai trò của thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên
Lao động là một trong những quyền cơ bản của công dân được ghi
nhận trong Hiến pháp. Công dân có sức lao động phải được làm việc để duy
trì sự tồn tại của bản thân và góp phần xây dựng xã hội, thực hiện các nghĩa
vụ của họ đối với những người xung quanh trong cộng đồng. Giải quyết việc
làm, đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm

12


là vai trò, trách nhiệm của Nhà nước, của các doanh nghiệp và toàn xã hội.
Pháp luật lao động quy định trách nhiệm trực tiếp thuộc về Chính phủ
và các cơ quan hành chính Nhà nước, trách nhiệm trước hết thuộc về Quốc
hội và hệ thống các cơ quan quyền lực (Hội đồng nhân dân các cấp). Đối với
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh lập chương trình và quỹ
giải quyết việc làm của địa phương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết
định và tổ chức thực hiện quyết định đó, đồng thời có trách nhiệm báo cáo về
Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính.
Từ những quy định trên, có thể thấy, ủy ban nhân dân cấp huyện nói
chung và trong hoạt động của ủy ban nhân dân Quận có trách nhiệm thực hiện
chỉ đạo của chính quyền cấp tỉnh về giải quyết việc làm, từ đó triển khai
xuống cấp cơ sở (cấp xã).
1.1.2.2 Sự cần thiết của thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên
Sự ổn định, an toàn trật tự và phát triển kinh tế luôn là mục tiêu của

quản lý nhà nước từ trung ương tới địa phương. Đặc biệt là một trong những
trung tâm chính trị, văn hóa, kinh tế hàng đầu của cả nước như quận Ba Đình ,
thì những mục tiêu nêu trên càng được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta kỳ
vọng. Do đó trách nhiệm của chính quyền địa phương trong thực hiện chính
sách GQVL nhằm đáp ứng hai lý do chính như sau:
- Một là, GQVL là nội dung quan trong góp phần ổn định trật tự, an
toàn xã hội. Thật vậy, nhiều công trình khoa học đã chứng minh, những nơi
tội phạm gia tăng, tình hình mất trật tự xã hội xảy ra thường là những nơi
nghèo đói, tình trạng thất nghiệp tràn lan; hay nói theo cách dân gian ta ngày
xưa là: “nhàn cư, vi bất thiện”. Bên cạnh đó, trách nhiệm của chính quyền địa
phương là giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn, do
vậy, GQVL cho thanh niên là góp phần quan trọng để đạt mục tiêu trật tự, an
toàn xã hội.

13


- Hai là, GQVL là góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế địa
phương, đây vừa là trách nhiệm vừa là mong muốn của mọi nhà nước nói
chung hay của chính quyền địa phương nói riêng. Trên cơ sở người dân nói
chung, hay thanh niên trong độ tuổi lao động được tạo công ăn việc làm, có
thu nhập ổn định thì mới tạo ra của cải, vật chất đóng góp cho xã hội nói
chung và ngân sách địa phương nói riêng. Cũng từ đó, nguồn ngân sách lại
được đầu tư cho cơ sở hạ tầng và các dịch vụ an sinh xã hội của chính địa
phương đó, qua đó góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người
dân địa phương.
1.1.3 Nội dung chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên
Giải quyết việc làm cho thanh niên là những nỗ lực của chính quyền địa
phương, các tổ chức chính trị xã hội, hiệp hội nghề nghiệp, các doanh nghiệp,
các chủ thể sử dụng lao động cùng chính nỗ lực của thanh niên nhằm tạo ra

những điều kiện thúc đẩy việc kết hợp sức lao động thanh niên với tư liệu sản
xuất tạo ra của cải vật chất cho xã hội, mang lại thu nhập hợp pháp cho thanh
niên, cho người sử dụng lao động.
Có nhiều hoạt động liên quan đến giải quyết việc làm nhưng luận văn
chủ yếu tập trung vào những hoạt động như sau:
1.1.3.1 Thực hiện chính sách hỗ trợ tín dụng cho thanh niên để tìm và tự tạo
việc làm
Trong bối cảnh chung của thế giới và tại Việt Nam hiện nay, số lượng
việc làm thường không đáp ứng được nhu cầu của người lao động. Do đó,
một cách hiệu quả nhất là khuyến khích thanh niên khởi nghiệp, tự tìm và tạo
việc làm cho bản thân. Tuy vậy, yếu tố cần thiết đầu tiên cần đáp ứng đó là có
nguồn vốn để khởi nghiệp. Nhưng không phải đối tượng nào cũng có thể vay
vốn từ ngân hàng, bên cạnh đó, hình thức vay vốn ngân hàng chỉ giải quyết có
những cá nhân nhỏ lẻ và có nguồn lực đảm bảo cho phần vốn vay. Để đa số

14


thanh niên có nhu cầu khởi nghiệp và có nguồn vốn phục vụ cho những đầu tư
ban đầu, Nhà nước đưa ra chính sách về hỗ trợ tín dụng, từ đó triển khai
xuống địa phương để thực hiện chính sách này. Điều này đáp ứng được số
lượng lớn nhu cầu thanh niên cần nguồn vốn cho khởi nghiệp đồng thời tránh
được tình trạng “tín dụng đen” trong xã hội để giảm gánh nặng về lãi cho
người khởi nghiệp trong quá trình hoạt động ban đầu.Trách nhiệm của địa
phương là bố trí ngân sách, phối hợp kêu gọi các nguồn khác để thành lập một
loại hình quỹ tín dụng nhằm sử dụng cho mục địch giải quyết việc làm tại
chính địa phương đó.Việc lập, quản lý và sử dụng quỹ này được quy định tại
các VBQPPL hiện hành.
1.1.3.2 Thiện việc thực hiện chính sách đào tạo nghề
Đào tạo nghề được xem như là giải pháp gắn với phát triển kinh tế - xã

hội, xóa đói giảm nghèo, giải quyết vấn đề thất nghiệp. Chất lượng nguồn lao
động là yếu tố then chốt quyết định sực phát triền kinh tế - xã hội của mỗi địa
phương. Một trong những minh chứng rõ nét nhất là đất nước Nhật Bản - một
quốc gia nghèo nàn về tài nguyên và gắn liền với nhiều thiên tai nhưng con
người nơi đây đã chăm chỉ và không ngừng sáng tạo để vượt qua những cản
trở của thiên nhiên để trở thành cường quốc kinh tế trên thế giới; là tấm
gương sáng cho các nước khác trên thế giới trong đó có Việt Nam. Một trong
những phương pháp giúp nâng cao chất lượng nguồn lao động là hệ thống
giáo dục của quốc gia nói chung và địa phương nói riêng phải hiện đại, phù
hợp với nhu cầu của nền kinh tế và phù hợp với đối tượng người học. Trong
hệ thống giáo dục của một quốc gia sẽ gồm nhiều cấp bậc khác nhau trong đó
đào tạo nghề là một khâu quan trọng và tác động rõ rệt đến chất lượng đội ngũ
lao động. Đào tạo nghề được xem như là giải pháp gắn với phát triển kinh tế xã hội, xóa đói giảm nghèo, giải quyết vấn đề thất nghiệp, thiếu việc làm cho
người lao động, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao trình độ dân trí.

15


Hiện nay, đào tạo nghề không chỉ còn là trách nhiệm cá nhân của người
lao động mà còn là trách nhiệm chính của Nhà nước nói chung và địa phương
nói riêng. Bởi lẽ việc đào tạo nghề có phù hợp với nhu cầu sử dụng lao động
của xã hội hay không? Chất lượng đào tạo có đáp ứng với yêu cầu công việc
mà xã hội cần hay không? Đấy là trách nhiệm trong tổ chức, quản lý của Nhà
nước. Cụ thể hơn, việc đào tạo nghề đáp ứng đúng chất lượng, đúng số lượng
mà xã hội cần thì địa phương thực hiện tốt chính sách này sẽ gặp nhiều thuận
lợi trong ổn định an ninh xã hội và phát triển kinh tế của chính địa phương đó.
1.1.3.3 Thực hiện chính sách khuyến khích phát triển doanh nghiệp và thu hút
đầu tư trên địa bàn để tạo việc làm
Trong thời gian gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã xác định cần chú
trọng phát triển “kinh tế tư nhân” xem kinh tế tư nhân là động lực quan trọng

để phát triển đất nước, hay Chính phủ đã quan niệm rằng “Quốc gia khởi
nghiệp” và “Chính phủ kiến tạo”. Điều này cho thấy ý nghĩa quan trọng của
việc khuyến khích doanh nghiệp đầu tư, phát triển nhằm góp phần thúc đẩy
nền kinh tế nói chung và giải quyết việc làm nói riêng.
Nhà nước thực hiện các biện pháp sau đây nhằm hỗ trợ các hoạt động
đầu tư trong nước: Giao đất hoặc cho thuê đất theo quy định của pháp luật về
đất đai; Xây dựng kết cấu hạ tầng các khu công nghiệp để cho thuê làm mặt
bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh; Lập và khuyến khích các quỹ hỗ
trợ đầu tư để cho vay đầu tư trung hạn và dài hạn; Góp vốn thông qua các quỹ
hỗ trợ đầu tư, ngân hàng thương mại, công ty tài chính vào các cơ sở sản xuất,
kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế trên cơ sở cùng có lợi; khuyến khích
các ngân hàng, tổ chức tín dụng và công ty tài chính nhà nước bảo lãnh tín
dụng đầu tư cho nhà đầu tư tư nhân trong nước; Hỗ trợ và tổ chức thực hiện
các chương trình, dịch vụ khuyến khích đầu tư, gồm: Tư vấn quản lý và kinh
doanh; Tư vấn pháp lý; Tổ chức dạy nghề và đào tạo cán bộ kỹ thuật; Đào tạo

16


và nâng cao kiến thức quản lý; Cung cấp thông tin kinh tế; Phổ biến và
chuyển giao công nghệ, tạo điều kiện cho các chủ đầu tư được sử dụng với
mức phí ưu đãi các công nghệ mới tạo ra bởi vốn ngân sách nhà nước.
Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hàng năm công
bố quy hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê
duyệt; công bố quỹ đất chưa sử dụng, quỹ đất đang có nhu cầu cho thuê, kèm
theo danh mục các dự án kêu gọi đầu tư của địa phương trên các phương tiện
truyền thông đại chúng và tại trụ sở của UBND để các nhà đầu tư có nhu càu
đầu tư tham gia.
Nhìn chung, Nhà nước đang nỗ lực hoàn thiện hệ thống chính sách
nhằm thu hút đầu tư và phát triển khu vực tư một cách bền vững, nhưng quan

trọng là chính quyền địa phương phải nghiêm túc thực hiện các chính sách
nêu trên, để tránh tình trạng “trên dải thảm, dưới dải đinh” như Thủ tướng
Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã từng đề cập.
1.1.3.4. Thực hiện chính sách xuất khẩu lao động
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, có một thuật ngữ mới được đưa
ra đó là “công dân toàn cầu”, có thể hiểu theo nghĩa là khi một người có kiến
thức, kỹ năng, am hiểu các nền văn hóa thì có thể sinh sống và lao động ở các
quốc gia khác nhau mà mình mong muốn. Bên cạnh đó, nguồn việc làm trong
nước chưa đáp ứng kì vọng về số lượng của người lao động thì xuất khẩu lao
động là một trong những giải pháp tốt để giảm tỷ lệ thất nghiệp ở các quốc
gia. Trong những năm qua, số lượng người đi xuất khẩu lao động của nước ta
ngày càng gia tăng.Theo số liệu thống kê của Cục Quản lý Lao động Ngoài
nước, Bộ LĐTB & XH có khoảng 500.000 LĐVN đang làm việc tại hơn 40
quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có những nước nhận số lượng lớn LĐVN
như: Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc.[16] Tuy nhiên, không chỉ cần tăng về số
lượng lao động được xuất khẩu đi nước ngoài làm việc, mà chất lượng tay

17


nghề cần gia tăng, bên cạnh đó các vấn đề về quyền lợi của người lao động ở
nước ngoài, việc tuân thủ, chấp hành pháp luật của nước ngoài và ý thức văn
hóa của người lao động Việt Nam tại nước ngoài là những vấn đề cần hoàn
thiện hơn nữa. Do đó, ngay từ khâu đào tạo, bồi dưỡng và quản lí nguồn lao
động trong nước là trách nhiệm của chính quyền địa phương nhằm hướng tới
mục tiêu tạo ra một nguồn lao động đảm bảo chất lượng, có văn hóa tốt để
đưa đi ra nước ngoài làm việc, từ đó đảm bảo cuộc sống ổn định cho người
lao động và cũng thu về các nguồn lợi từ người lao động đóng góp về cho đất
nước. Để thực hiện tốt chính sách xuất khẩu lao động, chính quyền địa
phương cần làm tốt hơn nữa từ công tác lập qui hoạch, kế hoạch, đào tạo

nguồn lao động cho đến công tác quản lý, kiểm soát tình hình người lao động
chuẩn bị ra nước ngoài làm việc cho đến khi những người này quay về nước.
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới thực hiện chính sách giải quyết việc làm
cho thanh niên
Trong quá trình thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho thanh
niên, có một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động này như sau:
- Quy mô đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh của địa phương
Sự phát triển sản xuất kinh doanh xét về qui mô đầu tư phụ thuộc rất
lớn vào các điều kiện tự nhiên cũng như kế hoạch, chính sách phát triển kinh
tế - xã hội ở các địa phương. Nhiệm vụ của mỗi địa phương là sử dụng và
phát huy tối đa các điều kiện tự nhiên chi phối sản xuất kinh doanh, trên cơ sở
đó xây dựng kế hoạch chính sách phát triển đúng đắn, bền vững nhằm mục
tiêu quan trọng là phát triển con người – chủ thể và động lực chủ yếu của nền
sản xuất và mọi hoạt động xã hội. Thực hiện đường lối đổi mới, Đảng và
Chính phủ đã ban hành và hoàn thiện hệ thống chính sách và cơ chế quản lý
cho sự phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, tạo ra nhiều điều kiện
thuận lợi để các ngành, các hình thức kinh tế các vùng phát triển, tạo nhiều

18


việc làm mới, đáp ứng từng bước nhu cầu việc làm và nâng cao đời sống của
người lao động nói chung, lao động thanh niên nói riêng.
Bên cạnh đó, đầu ra của thị trường là một phần quan trọng của yếu tố
quy mô đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh của địa phương. Thị trường đầu
ra của sản xuất hàng hóa ở các địa phương trong nước ảnh hưởng trực tiếp và
gián tiếp đến giải quyết việc làm cho thanh niên. Một khi hàng hóa ứ đọng
không bán được là sự phản ánh rõ nét hạn chế về trình độ tổ chức sản xuất,
kinh doanh, trình độ tay nghề của các lực lượng lao động; từ đó dẫn đến phá
sản doanh nghiệp và thất nghiệp tất yếu sẽ xảy ra. Theo đó, nâng cao trình độ

quản lý, tổ chức sản xuất của chủ thể sử dụng lao động và nâng cao trình độ
chuyên môn kỹ thuật của lao động trẻ là nhân tố quyết định sức sống vững
bền của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
- Số lượng, chất lượng lao động thanh niên
Số lượng lao động thanh niên là yếu tố đầu tiên để chính quyền địa
phương và doanh nghiệp dự báo có thể giải quyết được bao nhiêu việc làm
trong tổng lực lượng thanh niên đến độ tuổi lao động. Số lượng lao động
thanh niên chi phối đến giải quyết việc làm còn phải tính đến tỷ lệ thất nghiệp
ở thành phố và nông thôn. Theo tính toán của Bộ Lao động, Thương binh và
xã hội thì tình trạng thất nghiệp của thanh niên ở khu vực thành thị trong
những năm gần đây dao động từ 5-8%; trong đó, một số tỉnh, thành phố
thường có tỉ lệ thất nghiệp cao là Hà Nội, Hải Phòng, TP. Hồ Chí Minh, Cần
Thơ… Tình trạng thất nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào cấp độ đào tạo và nhóm
ngành nghề đào tạo.Tại Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh, số lượng sinh viên qua
đào tạo được tuyển dụng rất ít, trong khi số lượng đã tốt nghiệp ngày càng gia
tăng. Nhiều ngành đào tạo khó kiếm việc làm như nông, lâm, thuỷ sản …Điều
đó, cho thấy chất lượng lao động thanh niên là yếu tố chi phối mạnh nhất đến
khả năng giải quyết việc làm của xã hội.

19


Chất lượng lao động thanh niên là yếu tố then chốt mà người sử dụng lao
động dựa vào đó để tuyển dụng lao động. Do đó, phải nâng cao chất lượng giáo
dục hướng nghiệp, bồi dưỡng, đào tạo và đào tạo lại lực lượng lao động thanh
niên để nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật của lao động than
niên, đáp ứng tốt hơn cầu về lao động của các cơ sở sản xuất kinh doanh ở địa
phương. Ngoài các yếu tố trên, còn các yếu tố khác ảnh hưởng đến vấn đề giải
quyết việc làm như: trình độ kỹ năng, phẩm chất, tính kỷ luật lao động, sức
khoẻ, thể chất... của lao động thanh niên. Phong tục, tập quán, thói quen, trình

độ dân trí, ý thức chấp hành pháp luật, trình độ văn minh của xã hội...
- Cơ chế, chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên
Để giải quyết việc làm cho thanh niên, vấn đề quan trọng hàng đầu là
Chính phủ phải tạo ra môi trường thuận lợi một mặt, để người sử dụng lao
động có thể tạo ra nhiều chỗ làm việc thu hút đáng kể lao động thanh niên,
mặt khác để bản thân lao động thanh niên có thể tự tạo việc làm…thông qua
cơ chế, chính sách cụ thể của Chính phủ.
Cơ chế về giải quyết việc làm cho lao động nói chung, thanh niên nói
riêng đều dựa trên sự đánh giá khách quan tình trạng thất nghiệp trên thực tế
của lực lượng lao động, trong đó đa phần ở lứa tuổi thanh niên hiện nay.
Đồng thời đánh giá rất rõ khả năng của nền kinh tế thị trường có thể thu hút
số lượng lao động là bao nhiêu trong từng thời kỳ. Việc từng bước hình thành
cơ chế phân bố lao động theo các quy luật của thị trường lao động, đổi mới cơ
chế chính sách xuất khẩu lao động…sẽ tạo ra các điều kiện cho giải quyết
việc làm tốt hơn.
Các chính sách về giải quyết việc làm là những chính sách chi phối trực
tiếp và gián tiếp đến cung và cầu về lao động, làm cho cung và cầu về lao
động xích lại gần nhau, phù hợp với nhau thực chất là tạo ra sự phù hợp giữa
cơ cấu lao động với cơ cấu kinh tế. Các chính sách chủ yếu thường được đề

20


cập đến là chính sách phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế; chính sách về lao
động, việc làm, tiền lương, thu nhập; chính sách về đất đai; chính sách về
thuế; chính sách về giáo dục và đào tạo; chính sách về xuất khẩu lao động...
Chủ trương về tạo việc làm đã được Đảng ta nêu rõ: “Khuyến khích
mọi thành phần kinh tế, mọi công dân, mọi nhà đầu tư mở mang ngành nghề,
tạo nhiều việc làm cho người lao động. Mọi công dân đều được tự do hành
nghề, thuê mướn nhân công theo pháp luật. Phát triển dịch vụ việc làm. Tiếp

tục phân bổ lại dân cư và lao động trên địa bàn cả nước, tăng dân cư các địa
bàn có tính chiến lược về kinh tế, an ninh quốc phòng. Mở rộng kinh tế đối
ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu.Giảm đáng kể tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và thiếu
việc làm ở nông thôn”.
- Sự nỗ lực của các chủ thể trong giải quyết việc làm
Đối với lực lượng lao động thanh niên: Cơ hội lựa chọn việc làm ngày
càng được mở rộng. Người lao động đã chủ động tự tìm việc trong bối cảnh
các thành phần kinh tế đa dạng như hiện nay và giảm bớt sự thụ động chờ vào
sắp xếp việc làm của Nhà nước. Người lao động có xu hướng tìm việc phù
hợp với năng lực cũng như theo các mong muốn khác về việc làm (ví dụ như
muốn làm việc trong môi trường năng động, sáng tạo hay trong môi trường ít
áp lực, hay trong môi trường có điều kiện làm việc tốt v.v...).
Đối với người sử dụng lao động trong các thành phần kinh tế: Họ được
khuyến khích làm giàu hợp pháp cho nên một khi các thành phần kinh tế được
quan tâm phát triển, nghĩa là các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế có điều kiện
đẩy mạnh đầu tư sản xuất kinh doanh sẽ tạo nhiều việc làm cho người lao động.
Các chủ thể của thành phần kinh tế ngoài kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể,
được tự do tổ chức sản xuất kinh doanh những ngành nghề mà pháp luật không
cấm, mở ra khả năng to lớn giải quyết việc làm cho lao động thanh niên.
Đối với Nhà nước: Vai trò, trách nhiệm của Nhà nước chi phối mạnh mẽ

21


đến giải quyết việc làm, nhất là trong điều kiện cơ chế thị trường. Hiện nay,
thay vì bao cấp trong giải quyết việc làm, nhà nước tập trung vào việc tạo ra cơ
chế, chính sách thông thoáng, tạo hành lang pháp luật, xóa bỏ hàng rào về hành
chính tạo điều kiện môi trường kinh tế, pháp luật đảm bảo cho mọi người được
tự do đầu tư phát triển sản xuất, tạo thêm việc làm, tự do hành nghề, hợp tác và
thuê mướn lao động, cơ hội việc làm được tăng lên và ít bị ràng buộc bởi các

nguyên tắc hành chính và ý chí chủ quan của Nhà nước.
Tóm lại, giải quyết việc làm cho thanh niên chịu sự chi phối của các
nhân tố kinh tế - xã hội, số lượng và chất lượng lực lượng lao động thanh
niên, cơ chế và chính sách giải quyết việc làm, thị trường đầu ra, sự nỗ lực
của các chủ thể trong giải quyết việc làm. Bởi vây, để giải quyết tốt việc làm
cho thanh niên phải chú trọng phát triển mặt tích cực của các nhân tố ảnh hưởng
đến việc làm và chất lượng lao động, mặt khác, phải có những biện pháp hữu
hiệu chủ động nhằm triệt tiêu những mặt tiêu cực của các nhân tố đó.
1.2 Kinh nghiệm quốc tế, trong nước và bài học kinh nghiệm cho Quận
Ba Đình
1.2.1 Kinh nghiệm quốc tế trong việc giải quyết việc làm
1.2.1.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc [5]
Tính đến thời điểm năm 2011 dân số của Trung Quốc là 1347,7 triệu
người, với lực lượng lao động là 785,8 triệu người. Trung Quốc là một nước
nông nghiệp với số dân nông thôn chiếm trên 70% dân số (năm 2011).Số
lượng nông dân vẫn cao và không giảm qua các năm. Trung Quốc là một
nước thực hiện CNH, HĐH khá thành công trong hơn hai thập kỷ qua, nhiều
vùng nông thôn, diện tích canh tác ngày càng bị thu hẹp đã dẫn tới có khoảng
100-120 triệu lao động nông thôn không có việc làm và thiếu việc làm ở mức
nghiêm trọng. Dòng lao động nông thôn nhập cư vào thành phố rất lớn trong
các năm đầu CNH, HĐH, vấn đề giải quyết việc làm ở các thành phố trở nên

22


gay gắt. Trước tình hình đó, chính phủ Trung Quốc rất coi trọng giải quyết
việc làm cho lao động ở nông thôn ngay tại địa phương qua việc phát triển
doanh nghiệp hương trấn, để thực hiện phương châm “ly nông bất ly hương”.
Đây là những doanh nghiệp vừa và nhỏ hoặc rất nhỏ. Có tới 99% xí nghiệp
hương trấn có không quá 50 lao động. Chính quyền Trung Quốc xếp các

doanh nghiệp này vào một khu vực riêng. Trong bối cảnh lúc đó của một nền
kinh tế thiếu công việc và thu nhập, tăng sức mua trong nông thôn và cung
cấp những mặt hàng cần thiết. Cụ thể số lao động trong các doanh nghiệp này
đã tăng từ 28 triệu năm 1978 đến 135 triệu của năm 1996.
Chính phủ Trung Quốc có chính sách hỗ trợ, phát triển hệ thống các
lớp, cơ sở dạy nghề nhằm đáp ứng cho phát triển doanh nghiệp hương
trấn.Đồng thời, khuyến khích các doanh nghiệp hương trấn mở các lớp dạy
nghề bên cạnh doanh nghiệp để đào tạo lao động. Doanh nghiệp hương trấn
đã sử dụng những người lao động ở nông thôn có chuyên môn, dám nghĩ, dám
làm, trưởng thành từ thực tiễn để đào tạo tay nghề cho những người vừa tốt
nghiệp các cấp.
Chính phủ Trung Quốc có chính sách khuyến khích các cơ sở đào tạo,
dạy nghề, tích cực đào tạo nhân lực chuyên môn kỹ thuật cho các khu vực đô
thị hóa nhanh như Thẩm Quyến, ngoại thành Bắc Kinh, Thượng Hải. để tạo
điều kiện cho lao động ở nông thôn chuyển sang làm việc tại các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, khu công nghiệp tập trung, khu chế xuất,
các cụm kinh tế mở. Các thành phố mới phát triển của Trung Quốc có tốc độ
tăng trưởng kinh tế rất cao (30- 35%/năm) nên thu hút một lượng lao động
nông thôn rất lớn vào các ngành công nghiệp và dịch vụ. Trong khi đó, nguồn
lao động ở nông thôn dồi dào, có trình độ văn hóa khá cao, vì vậy, đào tạo lao
động ở nông thôn để đáp ứng nhu cầu sử dụng của các vùng đô thị hóa nhanh,
ngành mới phát triển mạnh như điện tử, công nghiệp lắp ráp, chế tạo, chế biến

23


thực phẩm, vật liệu xây dựng, ngành sắt thép. được chính phủ và chính quyền
các địa phương rất quan tâm.
1.2.1.2. Kinh nghiệm của Nhật Bản [18]
Nhật Bản coi nguồn nhân lực là yếu tố quyết định tương lai của đất

nước. Từ đầu thập niên 1980, Nhật Bản đã đề ra mục tiêu: đào tạo những thế
hệ mới có tính năng động, sáng tạo, có kiến thức chuyên môn sâu, có khả
năng suy nghĩ và làm việc độc lập, khả năng giao tiếp quốc tế để đáp ứng
những đòi hỏi của thế giới, với sự tiến bộ không ngừng của khoa học và xu
thế cạnh tranh - hợp tác toàn cầu. Luật Dạy nghề được ban hành năm 1958,
được chỉnh sửa vào năm 1978, hướng vào thiết lập và duy trì hệ thống huấn
luyện nghề nghiệp, bao gồm hệ thống “dạy nghề công” mang tính hướng
nghiệp và “dạy nghề được cấp phép” là giáo dục và huấn luyện nghề cho từng
nhóm công nhân trong hãng xưởng do các công ty đảm nhiệm và được chính
quyền công nhận là dạy nghề. Các hình thức huấn luyện nghề gồm: “dạy nghề
cơ bản” cho giới trẻ mới ra trường; “dạy tái phát triển khả năng nghề nghiệp”
chủ yếu cho những công nhân không có việc làm; và “nâng cao tay nghề” cho
công nhân đang làm việc trong các hãng xưởng. Những thay đổi về cấu trúc
KT - XH, sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học công nghệ đã tác động đến
nhiều lĩnh vực và nội dung huấn luyện làm mở rộng khung dạy nghề truyền
thống. Kết quả là đến năm 1985, Luật Dạy nghề được chỉnh sửa và đổi tên
thành Luật Khuyến khích Phát triển Nguồn nhân lực và cụm từ “phát triển
nguồn nhân lực” được dùng để chỉ quan niệm mới về dạy nghề. Hiện nay,
Nhật Bản thực hiện phát triển nguồn nhân lực theo một hệ thống huấn luyện
suốt đời.
1.2.1.3. Kinh nghiệm đào tạo nghề của CHLB Đức [19]
Ở CHLB Đức, hệ thống đào tạo nghề là sự kết hợp giữa việc học trong
một môi trường có sự gần gũi với thực tế sản xuất của công ty và một cơ sở

24


có năng. Hệ thống đào tạo nghề kép ở CHLB Đức có một số ưu điểm sau:
Sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông bắt buộc, theo quy định của
Chính phủ CHLB Đức, học sinh có thể tham gia vào học nghề ở lứa tuổi 1518. Tham gia vào hệ thống đào tạo nghề, học sinh có thể lựa chọn hình thức

đào tạo toàn bộ tại trường hoặc hệ thống đào tạo nghề kép.Hiện nay, 2/3 học
sinh trong nhóm độ tuổi này đã chọn hình thức đào tạo nghề kép.Tiêu chuẩn
được lựa chọn vào hệ thống đào tạo nghề kép phụ thuộc vào chất lượng học
nghề của học sinh.
Các học sinh tham gia hệ thống này, được dậy các kỹ năng cơ bản cho
ngành nghề đã chọn và sau đó được đào tạo chuyên sâu. Học sinh có thể theo
học ngành của mình 3 ngày tại công ty, những ngày còn lại học tại trường
nghề hoặc học sinh có thể sử dụng nhiều thời gian hơn tại công ty, và cũng có
thể tham gia học ngoài giờ tại trường nghề. Hiện nay, trong chương trình học
của hệ thống đào tạo nghề kép thì các môn chuyên ngành chiếm 60% và các
môn phổ thông chiếm 40%.
Tên mô hình đào tạo nghề kép còn gắn liền với cơ chế quản lý hệ thống
đào tạo nghề ở Đức. Chẳng hạn, Chính quyền Bang chịu trách nhiệm quản lý
trường nghề và Chính phủ Liên bang chịu trách nhiệm quản lý đào tạo nghề
tại công ty. Việc dạy nghề tại công ty đều do các công ty trực tiếp tổ chức,
song việc kiểm soát lại do Công đoàn cùng với sự tham gia của các quan sát
viên và hội đồng công nhân tại công ty thực hiện. Trên thực tế, công đoàn
tham gia vào mọi công đoạn của hệ thống đào tạo kép trong công ty, từ quá
trình lựa chọn học sinh cho đến duy trì một chương trình học hiện đại, kiểm
soát chất lượng và bảo vệ công nhân khỏi nguy cơ như bị trả lương thấp hoặc
không được đào tạo đầy đủ.
Hệ thống đào tạo nghề kép được điều chỉnh bởi nhu cầu cung cấp vị trí
đào tạo của các công ty. Các công ty là người quyết định số lượng công nhân

25


×