Tải bản đầy đủ (.pdf) (99 trang)

Luận văn quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh trong pháp luật dân sự việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (798.33 KB, 99 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

ĐẶNG THỊ LƯU

QUYỀN NHÂN THÂN CỦA CÁ NHÂN ĐỐI VỚI
HÌNH ẢNH TRONG PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 60 38 01 03

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Phùng Trung Tập

HÀ NỘI - NĂM 2016


2

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết
quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được ai công bố
trong bất cứ công trình nghiên cứu nào khác. Những nội dung trong luận văn
có sử dụng tài liệu tham khảo đều trích dẫn nguồn đầy đủ.

Xác nhận của giảng viên hướng dẫn


Học viên

PGS,TS. Phùng Trung Tập

Đặng Thị Lưu


3
LỜI CẢM ƠN!
Được sự phân công của khoa Pháp luật Dân sự Trường Đại Học Luật
Hà Nội và sự đồng ý của thầy giáo hướng dẫn PGS,TS. Phùng Trung Tập, tác
giả đã thực hiện đề tài “Quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh trong
pháp luật dân sự Việt Nam”.
Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành và sự tri ân sâu sắc đến các thầy
cô của trường Đại học Luật Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô khoa Pháp luật
Dân sự đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập, nghiên
cứu và rèn luyện ở trường giúp tác giả có kiến thức nền tảng để nghiên cứu
luận văn; xin chân thành cảm ơn thầy giáo hướng dẫn PGS,TS. Phùng Trung
Tập đã nhiệt tình, chu đáo hướng dẫn tác giả hoàn thành luận văn và cuối
cùng, xin dành lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, người thân và bạn bè - những
người đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện tốt nhất để tác giả có điều kiện hoàn
thành luận văn này.
Tác giả xin chân thành cảm ơn!


4

MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU


1

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN NHÂN THÂN VÀ
QUYỀN NHÂN THÂN ĐỐI VỚI HÌNH ẢNH

8

1.1. Khái niệm, đặc điểm quyền nhân thân

8

1.1.1. Khái niệm quyền nhân thân

8

1.1.2. Đặc điểm quyền nhân thân

13

1.2. Khái niệm hình ảnh

14

1.3. Khái niệm quyền nhân thân đối với hình ảnh

17

1.4. Đặc điểm của quyền nhân thân đối với hình ảnh

18


1.5. Lịch sử phát triển pháp luật Việt Nam về quyền nhân thân đối với hình ảnh 23
Chương 2 QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN NHÂN THÂN CỦA CÁ NHÂN ĐỐI
VỚI HÌNH ẢNH TRONG PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM

29

2.1. Nội dung quyền đối với hình ảnh và giới hạn quyền nhân thân đối với
hình ảnh

29

2.1.1. Nội dung quyền đối với hình ảnh

29

2.1.2. Giới hạn quyền nhân thân đối với hình ảnh

38

2.2. Biện pháp bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh
2.2.1. Biện pháp tự bảo vệ

47
4847

2.2.2. Biện pháp kiện dân sự

52


2.2.3. Biện pháp hành chính

58

2.2.4. Biện pháp hình sự

60

Chương 3 THỰC TRẠNG BẢO VỆ QUYỀN NHÂN THÂN CỦA CÁ
NHÂN ĐỐI VỚI HÌNH ẢNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ MỘT SỐ
KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

6261

3.1. Thực trạng bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh ở Việt
Nam hiện nay

6261

3.2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật

8584

KẾT LUẬN

9190


5
PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, quyền con người đang được cộng đồng quốc tế và hầu hết các
quốc gia coi trọng, đề cao và xem đó như là thước đo của sự tiến bộ xã hội cũng
như sự hoàn thiện hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia. Xã hội ngày càng phát
triển thì các quyền của con người ngày càng được tôn trọng và bảo vệ. Bên cạnh
các quyền về kinh tế, quyền về chính trị,... thì các quyền về dân sự luôn được đề
cao, trong đó có bao gồm cả các quyền nhân thân của cá nhân. Tại Việt Nam
cũng vậy, quyền nhân thân của cá nhân nói chung và quyền nhân thân đối với
hình ảnh nói riêng được quy định rõ trong pháp luật dân sự và ngày càng được
hoàn thiện, trở thành một trong những quyền dân sự được pháp luật quan tâm,
bảo vệ một cách tối đa.
Trong bối cảnh các thiết bị ghi hình, quay phim, chụp ảnh ngày càng hiện
đại và phổ biến như hiện nay thì việc kiểm soát hình ảnh của cá nhân càng gặp
nhiều khó khăn, do đó, hơn bao giờ hết, nguy cơ xâm phạm quyền nhân thân nói
chung và quyền của cá nhân đối với hình ảnh nói riêng trên thế giới cũng như tại
Việt Nam là rất lớn. Thông qua môi trường công nghệ thông tin, các cá nhân có
thể dễ dàng kết nối, truy cập, công khai và phát tán hình ảnh của người khác, đặc
biệt đối với những người nổi tiếng, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự,
nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh, thậm chí nhiều vụ việc còn gây ra hậu
quả rất nghiêm trọng.
Mặc dù các nội dung liên quan đến quyền nhân thân của cá nhân đối với
hình ảnh đã được quy định tại Bộ luật dân sự năm 1995 và ngày càng chi tiết hơn
tại Bộ luật dân sự năm 2005, tuy nhiên trong thực tiễn áp dụng pháp luật vẫn còn
gặp nhiều vướng mắc, bất cập do tồn tại một số quy định pháp luật chưa rõ ràng,
chưa phù hợp với thực tiễn hoặc thiếu cơ chế điều chỉnh. Mặt khác, chính các cá
nhân bị xâm phạm còn chưa nhận thức rõ được quyền và cơ chế bảo vệ quyền,
thậm chí, dù nhận thức được nhưng chưa triệt để bảo vệ quyền khi bị xâm phạm.


6

Chính các yếu tố đó đã ít nhiều ảnh hưởng đến việc bảo vệ quyền nhân thân đối
với hình ảnh của người bị xâm phạm.
Từ các lý do trên cho thấy, việc nghiên cứu “Quyền nhân thân của cá nhân
đối với hình ảnh trong pháp luật dân sự Việt Nam” là rất cần thiết, qua đó, góp
phần hiểu rõ và thống nhất các quy định pháp luật liên quan đến quyền nhân thân
của cá nhân đối với hình ảnh cũng như nắm bắt được thực trạng bảo vệ quyền
nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh tại Việt Nam hiện nay, từ đó đưa ra giải
phápkiến nghị thích hợp nhằm góp phần hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo vệ quyền
nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh. Đây cũng chính là lý do tác giả chọn đề
tài: “Quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh trong pháp luật dân sự Việt
Nam” làm đề tài luận văn thạc sỹ.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Có thể nói, tại Việt Nam, việc nghiên cứu về quyền nhân thân của cá nhân
đối với hình ảnh còn đang khá hạn chế, chủ yếu là các công trình nghiên cứu
chung về quyền nhân thân, trong đó có đề cập đến quyền nhân thân của cá nhân
đối với hình ảnh hoặc được nghiên cứu dưới dạng là các bài viết, chuyên đề, đề
tài. Rất hiếm có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về
quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh trong pháp luật dân sự Việt Nam.
Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu chung về quyền nhân thân,
trong đó đề cập đến quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh như: Đề tài
nghiên cứu khoa học cấp trường “Quyền nhân thân của cá nhân và bảo vệ quyền
nhân thân trong pháp luật dân sự” do ThS. Lê Đình Nghị làm chủ nhiệm đề tài,
Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2008, trong đó, có một số chuyên đề như
“Quyền nhân thân liên quan đến cá biệt hóa cá nhân: quyền của cá nhân đối với
họ tên, dân tộc, hình ảnh” của ThS. Nguyễn Minh Oanh, chuyên đề “Bảo vệ
quyền nhân thân theo quy định của Bộ luật dân sự 2005” của TS. Nguyễn Công
Bình,… đã nêu được một số khía cạnh có liên quan như khái niệm hình ảnh, quy
định pháp luật cũng như hạn chế, bất cập trong pháp luật dân sự Việt Nam hiện
nay liên quan đến quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh; “Quyền bí mật



7
đời tư theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam”, trường Đại học Luật Hà
Nội, Luận án của TS. Lê Đình Nghị, năm 2008 đề cập đến quyền nhân thân đối
với hình ảnh như là một phần trong quyền bí mật đời tư; “Quyền nhân thân liên
quan đến thân thể của cá nhân theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005”,
trường Đại học Luật Hà Nội, Luận văn của ThS. Lê Thị Hoa, năm 2011, trong
đó đã phân loại quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh thuộc nhóm quyền
khác biệt với quyền nhân thân liên quan đến thân thể; “Bảo vệ quyền nhân thân
theo quy định của pháp luật Cộng hòa liên bang Đức, so sánh với quy định của
Bộ luật dân sự Việt Nam”, GS.TS. Michael Jaensch, Nguyễn Văn Quang dịch
trên Tạp chí Luật học số 1/2014 đã chỉ ra một số điểm giống nhau và khác nhau
trong quy định về quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh giữa pháp luật
Cộng hòa liên bang Đức và pháp luật dân sự Việt Nam.
Một số công trình nghiên cứu, bài viết nghiên cứu riêng về quyền nhân thân
của cá nhân đối với hình ảnh: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền nhân
thân của cá nhân đối với hình ảnh trong pháp luật dân sự Việt Nam”, trường Đại
học Luật Hà Nội, Luận văn của ThS. Phùng Bích Ngọc năm 2011 nghiên cứu
một cách có hệ thống về cơ sở lý luận và thực tiễn quyền nhân thân của cá nhân
đối với hình ảnh, từ đó đưa ra đề xuất, kiến nghị góp phần hoàn thiện quy định
pháp luật dân sự; “Quyền cá nhân đối với hình ảnh theo pháp luật Việt nam”,
Khoa Luật trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Luận văn của Ths. Trần Thị Thu
Hằng năm 2014 đã hệ thống hóa các quy định của pháp luật Việt Nam về quyền
cá nhân về hình ảnh, trình bày thực tế các hành vi xâm phạm quyền cũng như
thực trạng áp dụng các biện pháp bảo vệ quyền cá nhân trong thực tiễn hiện nay
và đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật;“Quyền của cá nhân đối với hình ảnh
trong pháp luật một số nước phương Tây đối chiếu với pháp luật Việt Nam” của
Chu Tuấn Đức trên Tạp chí nhà nước và pháp luật số 4/2008 phân tích lịch sử
hình thành, nội dung, giới hạn, xu hướng của quyền của cá nhân đối với hình ảnh
trong pháp luật một số nước và so sánh, đối chiếu với pháp luật Việt Nam;

“Luận bàn về quyền nhân thân đối với hình ảnh của cá nhân theo quy định của
Bộ luật dân sự năm 2005” của ThS. Phùng Bích Ngọc, trên Tạp chí Nghiên cứu


8
lập pháp số 22/2012 nêu khái niệm, giới hạn của quyền nhân thân đối với hình
ảnh và phân biệt với quyền đối với từng hình ảnh cụ thể.
Trong tình hình đó, đề tài “Quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh
trong pháp luật dân sự Việt Nam” được triển khai ở cấp độ luận văn thạc sỹ sẽ
tiếp tục nghiên cứu một cách có hệ thống về một số vấn đề lý luận về quyền
nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh; phân tích và làm rõ một số khía cạnh
pháp luật liên quan đến quyền nhân thân đối với hình ảnh; thông qua việc phân
tích một số vụ việc xâm phạm quyền nhân thân đối với hình ảnh, luận văn làm rõ
thực trạng cũng như hiệu quả bảo vệ quyền nhân thân đối với hình ảnh trong
thực tiễn tại Việt Nam, từ đó, đưa ra một số đề xuất, giải pháp hoàn thiện hệ
thống pháp luật liên quan đến quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh.
Luận văn đảm bảo không có sự trùng lặp về nội dung so với các bài viết, công
trình nghiên cứu công bố trước đây.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
*Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định của pháp luật dân sự Việt
Nam hiện hành liên quan đến quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh và thực
tiễn bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh ở Việt Nam hiện nay.
* Phạm vi nghiên cứu
Trong khả năng của tác giả và trong khuôn khổ của một luận văn thạc sỹ, đề
tài chỉ tập trung nghiên cứu, phân tích, đánh giá một số nội dung sau: khái niệm
quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh, đặc điểm quyền nhân thân của cá
nhân đối với hình ảnh, nội dung quy định pháp luật dân sự Việt Nam liên quan
đến quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh như nội dung quyền nhân thân
của cá nhân đối với hình ảnh, giới hạn quyền nhân thân đối với hình ảnh và biện

pháp bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh.
4. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
* Mục tiêu nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài “Quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh
trong pháp luật dân sự Việt Nam” nhằm đạt mục tiêu chủ yếu sau đây: làm rõ


9
một số vấn đề lý luận cũng như phân tích, đánh giá các quy định hiện hành của
pháp luật ở nước ta về quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh để từ đó chỉ
ra hạn chế, vướng mắc trong quy định pháp luật và đưa ra một số kiến nghị, giải
pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến quyền nhân thân của cá nhân
đối với hình ảnh ở nước ta hiện nay.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Để phù hợp với mục tiêu trên, luận văn có nhiệm vụ sau:
- Một là: Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về quyền nhân thân và quyền
nhân thân đối với hình ảnh;
- Hai là: Nghiên cứu các quy định của pháp luật liên quan đến quyền nhân
thân của cá nhân đối với hình ảnh;
- Ba là: Phân tích, đánh giá thực trạng bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân
đối với hình ảnh ở Việt Nam hiện nay
- Bốn là: Đề xuất các giải pháp, kiến nghị để góp phần hoàn thiện pháp luật
về quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh ở Việt Nam.
5. Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
Luận văn giải quyết các câu hỏi:
(1) Thế nào là quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh? quyền nhân
thân của cá nhân đối với hình ảnh có những đặc điểm nào?
(2) Hiện nay trong pháp luật dân sự Việt Nam quy định như thế nào về
quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh? Với quy định đó thì tồn tại những
bất cập, vướng mắc nào trong quá trình áp dụng pháp luật?

(3) Thực trạng bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh tại
Việt Nam hiện nay như thế nào? Với thực trạng đó, cần đưa ra giải pháp gì để
hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền nhân thân
đối với hình ảnh tại Việt Nam?
6. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: xem xét, phân tích, đánh giá các quan
điểm, nội dung pháp lý về quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh trong


10
pháp luật dân sự Việt Nam và tình hình bảo vệ quyền nhân thân đối với hình ảnh
trong thực tiễn hiện nay.
- Phương pháp so sánh, tham chiếu: so sánh quy định về quyền nhân thân
của cá nhân đối với hình ảnh trong pháp luật Việt Nam theo tiến trình lịch sử lập
pháp và so sánh theo chiều ngang, tức là so sánh giữa pháp luật Việt Nam với
pháp luật một số nước trên thế giới.
- Phương pháp lịch sử: trình bày quá trình phát triển các quy định về quyền
nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
* Ý nghĩa khoa học
Luận văn là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống về vấn đề quyền
nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh nhằm hoàn thiện các quy định của pháp
luật Việt Nam và bảo vệ có hiệu quả quyền nhân thân của cá nhân đối với hình
ảnh. Do đó, luận văn có những đóng góp về mặt khoa học như sau:
- Luận văn làm rõ một số vấn đề lý luận về quyền nhân thân của cá nhân
đối với hình ảnh;
- Luận văn làm rõ nội dung cũng như các bất cập trong quy định pháp luật
Việt Nam hiện nay về quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh;
- Luận văn đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện

pháp luật Việt Nam liên quan đến quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh.
* Ý nghĩa thực tiễn
- Với kết quả phân tích, đánh giá quy định của pháp luật và thực tiễn bảo vệ
quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh ở Việt Nam hiện nay, luận văn
góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam liên quan đến quyền nhân thân
của cá nhân đối với hình ảnh.
- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các chuyên gia, sinh
viên, học viên cao học tại các Trường Đại học và những người quan tâm nghiên
cứu về quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh ở Việt Nam hiện nay.
8. Cơ cấu của luận văn


11
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận
văn gồm 03 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quyền nhân thân và quyền nhân thân
đối với hình ảnh
Chương 2: Quy định về quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh trong
pháp luật dân sự Việt Nam
Chương 3: Thực trạng bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh
ở Việt Nam hiện nay và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật


12
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN NHÂN THÂN
VÀ QUYỀN NHÂN THÂN ĐỐI VỚI HÌNH ẢNH
1.1. Khái niệm, đặc điểm quyền nhân thân
1.1.1. Khái niệm quyền nhân thân
Con người luôn là trung tâm, là mục tiêu hướng đến đầu tiên của quá trình

phát triển, do đó, song song với việc phát triển về mọi mặt của xã hội thì vấn đề
con người cũng ngày càng được tôn trọng và bảo vệ. Tương tự các quốc gia khác
trên thế giới, tại Việt Nam, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến yếu tố con
người, theo đó, ghi nhận các quyền con người bao gồm: quyền về kinh tế, quyền
về chính trị, quyền về dân sự,... trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam. Một trong những bộ phận quan trọng của quyền dân sự và được
cụ thể hóa tại các Bộ luật dân sự đó là quyền nhân thân của cá nhân.
Quyền nhân thân với tư cách là một thuật ngữ pháp lý, lần đầu tiên được
nhắc đến trong Bộ luật dân sự (BLDS) năm 1995, nó ra đời và có ý nghĩa là cơ
sở pháp lý để bảo vệ cho cá nhân tồn tại với tư cách là một thực thể, một chủ thể
độc lập trong cộng đồng. Thông qua việc cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp
năm 1992 về quyền con người về dân sự, BLDS năm 1995 xác định quyền nhân
thân là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người
khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Đây được xem là một bước đổi
mới quan trọng trong tư duy, nhận thức của các nhà làm luật Việt Nam, cũng là
bước tiến đáng ghi nhận, có ý nghĩa đặt nền móng cho sự phát triển quy định về
quyền nhân thân trong hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam.
Về khái niệm quyền nhân thân, hiện nay trong pháp luật thực định cũng như
trong các công trình nghiên cứu khoa học chưa có một định nghĩa nào thống nhất,
cụ thể về quyền nhân thân. Dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau, các nhà lập pháp,
nhà nghiên cứu luật học đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm này.
Quan điểm thứ nhất: định nghĩa quyền nhân thân được tiếp cận dưới hai
góc độ là góc độ chủ thể và góc độ khách thể. Công trình tiêu biểu sử dụng cách


13
tiếp cận này chính là công trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Tòa án nhân
dân Tối cao với đề tài “Vai trò của Tòa án nhân dân trong việc bảo vệ quyền
nhân thân được đề cập trong việc bảo vệ quyền nhân thân của công dân theo
quy định của Bộ luật dân sự”, số đăng ký: 96/98/063/ĐT. Theo đó:

- Dưới góc độ chủ thể, quyền nhân thân về dân sự được hiểu là quyền con
người về dân sự gắn liền với mỗi cá nhân được thụ hưởng với tư cách là thành viên
của cộng đồng kể từ thời điểm người đó được sinh ra và bằng các quyền đó, mỗi cá
nhân được khẳng định địa vị pháp lý của mình trong giao lưu dân sự, do đó mỗi cá
nhân đều có quyền nhân thân riêng và quyền này không thể chuyển giao cho người
khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Như vậy, theo cách hiểu này,
quyền nhân thân chính là quyền con người mà cá nhân đó được toàn quyền hưởng
và toàn quyền tự định đoạt, có mối quan hệ hữu cơ với mỗi cá nhân kể từ thời điểm
cá nhân đó được sinh ra và gắn liền với cá nhân trong suốt cuộc đời.
- Dưới góc độ khách thể, quyền nhân thân về dân sự của cá nhân được hiểu là
chế định pháp luật bao gồm các quy định của pháp luật về các quyền dân sự gắn
liền với mỗi cá nhân để bảo đảm địa vị pháp lý cho mọi cá nhân, là cơ sở pháp lý để
cá nhân thực hiện các quyền con người về dân sự trong sự bảo hộ của nhà nước và
pháp luật. Theo cách hiểu này, quyền nhân thân chính là các điều luật quy định về
quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, tạo cơ sở pháp lý để cá nhân thực hiện các
quyền đó và được bảo vệ quyền khi có hành vi xâm phạm xảy ra.
Với việc tiếp cận khái niệm theo cách này có ý nghĩa cơ bản làm rõ nội hàm
quyền nhân thân ở hai góc độ khác nhau nhưng lại có một hạn chế lớn do sự tách
biệt hai yếu tố chủ thể và khách thể của quyền nhân thân, dẫn đến định nghĩa
quyền nhân thân không có tính hệ thống, bao quát và toàn diện.
Quan điểm thứ hai: cho rằng chỉ những giá trị nhân thân được pháp luật ghi
nhận mới được xem là quyền nhân thân, còn những giá trị nhân thân không được
ghi nhận thì sẽ không được xem là quyền nhân thân. Cụ thể, trong cuốn Từ điển
giải thích thuật ngữ luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội xuất bản năm
1999 xác định: “Giá trị nhân thân của cá nhân và tổ chức được pháp luật ghi
nhận và bảo vệ. Chỉ những giá trị nhân thân được pháp luật ghi nhận mới được


14
coi là quyền nhân thân. Quyền nhân thân luôn gắn với chủ thể và không thể

chuyển giao cho người khác trừ trường hợp pháp luật có quy định”. Định nghĩa
này có một hạn chế lớn đó là chưa xác định được quyền nhân thân chính là
quyền dân sự. Mặt khác, với cách nhìn nhận chỉ những giá trị nhân thân được
pháp luật ghi nhận mới được coi là quyền nhân thân, định nghĩa này đã vô hình
chung thu hẹp phạm vi quyền nhân thân của con người.
Quan điểm thứ ba: theo Tiến sỹ Lê Đình Nghị trong Đề tài nghiên cứu cấp
trường “Quyền nhân thân của cá nhân và bảo vệ quyền nhân thân trong pháp
luật dân sự”, “theo nghĩa chủ quan, quyền nhân thân là quyền dân sự chủ quan
gắn liền với cá nhân do nhà nước quy định cho mỗi cá nhân và các cá nhân
không thể chuyển giao quyền này cho người khác”. So với định nghĩa được nêu
ra trong hai quan điểm trên, định nghĩa này được xem là đầy đủ và toàn diện hơn
khi nêu được các thuộc tính của quyền nhân thân như: là quyền dân sự, gắn liền
với cá nhân, được nhà nước quy định và không thể chuyển giao, đồng thời, định
nghĩa này cũng khắc phục được hạn chế mà quan điểm thứ hai mắc phải.
Quan điểm thứ tư: nhìn nhận quyền nhân thân theo hai vấn đề, đó là quyền
dân sự gắn liền với mỗi cá nhân và không thể chuyển giao cho người khác. Quan
điểm này đã được chuyển hóa vào nội dung quy định trong BLDS năm 2005.
Kế thừa những điểm tiến bộ trong quy định của BLDS năm 1995 về quyền
nhân thân, tại Điều 24 BLDS năm 2005 quy định: “Quyền nhân thân được quy định
trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao
cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. Quy định này phần
nào làm rõ khái niệm quyền nhân thân với hai đặc điểm cơ bản: là quyền dân sự gắn
liền với cá nhân và không thể chuyển giao cho người khác. Tuy nhiên, với cách
định nghĩa này còn gặp phải một số hạn chế, bất cập như sau:
Thứ nhất, liên quan đến đặc điểm quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền
với mỗi cá nhân, PGS.TS Bùi Đăng Hiếu đặt ra câu hỏi đó là có hay không
quyền nhân thân của các chủ thể khác (như pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác)?
Điều 604 và Điều 611 BLDS năm 2005 có đề cập đến “danh dự, uy tín của pháp
nhân, chủ thể khác”, vậy đây có được coi là quyền nhân thân của pháp nhân và



15
các chủ thể khác không? Tại Điều 1 Nghị quyết số 01/2004/NQ-HĐTP ngày
28/04/2004 cũng như Điều 1 Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/07/2006
của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đều quy định: “Thiệt hại do
tổn thất về tinh thần của pháp nhân và các chủ thể khác không phải là pháp
nhân (gọi chung là tổ chức) được hiểu là do danh dự, uy tín bị xâm phạm, tổ
chức đó bị giảm sút hoặc mất đi sự tín nhiệm, lòng tin … vì bị hiểu nhầm và cần
phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà tổ chức phải chịu”. Các
quy định đó đều hướng tới sự thừa nhận các quyền nhân thân đối với pháp nhân
và các chủ thể khác.
Thứ hai, việc gắn liền với mỗi cá nhân và không thể chuyển dịch cho người
khác chỉ là đặc điểm của quyền nhân thân mà không phải là tiêu chí để phân biệt
quyền nhân thân với quyền chính trị hoặc với quyền dân sự khác, bởi lẽ có một
số quyền chính trị và quyền tài sản cũng có đầy đủ hai đặc điểm này. Theo Bình
luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2005 - Tập 1 do PGS.TS Hoàng Thế Liên chủ
biên thì quyền bầu cử, quyền ứng cử của mỗi công dân không phải là quyền nhân
thân nhưng các quyền này cũng gắn liền với cá nhân và không thể chuyển dịch
cho người khác. Theo PGS.TS Bùi Đăng Hiếu, quyền được cấp dưỡng và nghĩa
vụ cấp dưỡng giữa các thành viên trong gia đình theo Pháp luật hôn nhân và gia
đình cũng được gắn liền với những cá nhân nhất định như: giữa cha mẹ và con,
giữa anh chị em với nhau, giữa ông bà và cháu, giữa vợ và chồng. Ngoài ra,
quyền yêu cầu cấp dưỡng và nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng các
quyền, nghĩa vụ khác và cũng không thể chuyển giao cho người khác. Do đó, với
cách tiếp cận khái niệm quyền nhân thân theo quan điểm này vẫn không hoàn
toàn thuyết phục các nhà nghiên cứu luật học khi chưa nhận diện được quyền
nhân thân. PGS.TS Bùi Đăng Hiếu đã đưa ra quan điểm cá nhân về định nghĩa
quyền nhân thân như sau: “Quyền nhân thân là quyền dân sự gắn với đời sống
tinh thần của mỗi chủ thể, không định giá được bằng tiền và không thể chuyển
giao cho chủ thể khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. Đây là định

nghĩa tương đối khái quát, có tính hệ thống và cơ bản đã khắc phục được hạn chế


16
mà quan điểm thứ tư gặp phải, qua định nghĩa này có thể nhận diện và phân biệt
được quyền nhân thân với một số quyền chính trị, quyền dân sự khác.
Như vậy, qua việc tìm hiểu những quan điểm khoa học pháp lý đến luật thực
định về khái niệm quyền nhân thân cho thấy, hiện nay, còn có nhiều cách nhìn
nhận, tiếp cận về quyền nhân thân khác nhau ở nhiều góc độ nhất định. Tuy nhiên,
về cơ bản, các quan điểm nói trên đều thống nhất ở một số điểm chung như sau:
Thứ nhất, quyền nhân thân là một bộ phận của quyền dân sự và quyền này
thuộc về cá nhân.
Thứ hai, quyền nhân thân luôn hướng tới những giá trị tinh thần không định
giá được như quyền đối với họ tên; quyền được khai sinh; quyền được khai tử;
quyền tự do đi lại, tự do cư trú; quyền đối với hình ảnh cá nhân; quyền bí mật
đời tư; quyền tác giả… Tất cả những quyền này liên quan mật thiết đến những
nhu cầu cần có của một cá nhân sống trong xã hội và bất cứ ai cũng không
được phép xâm phạm.
Thứ ba, quyền nhân thân không thể chuyển giao cho người khác, nghĩa là
quyền nhân thân của mỗi cá nhân chỉ do chính cá nhân đó có quyền thực hiện
hoặc do người đại diện của họ thực hiện trong một số trường hợp do pháp luật
quy định.
Xuất phát từ những điểm thống nhất trong một số quan điểm nêu trên và
quy định về quyền nhân thân tại Điều 24 BLDS năm 2005, có thể đưa ra định
nghĩa về quyền nhân thân như sau: “Quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền
với giá trị tinh thần của mỗi chủ thể, không định giá được bằng tiền và không
thể chuyển giao cho chủ thể khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.
1.1.2. Đặc điểm quyền nhân thân
Với bản chất là một bộ phận quyền dân sự, quyền nhân thân có đầy đủ các
đặc điểm của quyền dân sự nói chung. Ngoài ra, nó còn mang một số đặc điểm

riêng biệt nhằm phân biệt với quyền tài sản. Cụ thể như:
Thứ nhất, quyền nhân thân mang tính chất phi tài sản
Khác với quyền tài sản, đối tượng của quyền nhân thân là một giá trị tinh
thần, do đó, quyền nhân thân không biểu hiện bằng vật chất, không quy đổi được


17
thành tiền và mang giá trị tinh thần. Giá trị tinh thần và tiền tệ không phải là
những đại lượng tương đương và không thể trao đổi ngang giá. Do vậy, quyền
nhân thân không thể bị định đoạt hay mang ra chuyển nhượng cho người khác.
Một người không thể kê biên quyền nhân thân của con nợ. Pháp luật quy định
cho mọi chủ thể đều bình đẳng về quyền nhân thân. Mỗi một chủ thể có những
giá trị nhân thân khác nhau nhưng được pháp luật bảo vệ như nhau khi các giá trị
đó bị xâm phạm.
Thứ hai, quyền nhân thân gắn liền với một chủ thể nhất định và không thể
chuyển dịch
Mỗi một chủ thể mang một giá trị nhân thân đặc trưng, do đó, quyền nhân
thân luôn gắn liền với một chủ thể nhất định. Mặc dù vậy, quyền nhân thân
không bị phụ thuộc, chi phối bởi bất kỳ yếu tố khách quan nào như độ tuổi, trình
độ, giới tính, tôn giáo, địa vị xã hội,….
Quyền nhân thân không thể chuyển dịch cho người khác, tức là, quyền nhân
thân của mỗi cá nhân chỉ do chính cá nhân đó hoặc trong một số trường hợp do
chủ thể khác được pháp luật quy định thực hiện. Quyền nhân thân không thể là
đối tượng trong các giao dịch mua bán, trao đổi, tặng, cho,… Trên thực tế xuất
hiện nhiều hợp đồng liên quan đến quyền nhân thân, ví dụ: một người mẫu ký
hợp đồng với công ty quảng cáo về việc cho phép công ty đó sử dụng bức ảnh
của mình để quảng cáo. Vậy, quyền nhân thân đối với hình ảnh của người mẫu
trong trường hợp này có được xem là đối tượng chuyển dịch? Thực chất, đối
tượng chuyển dịch trong trường hợp này chính là những bức ảnh của người mẫu
đã được chụp mà không phải là quyền nhân thân đối với hình ảnh của người

mẫu. Bởi, như đã phân tích ở trên, quyền nhân thân mang giá trị tinh thần, do đó,
không thể định đoạt và chuyển giao cho người khác. Trong nghiên cứu mới đây
về quyền nhân thân, có quan điểm phân loại quyền nhân thân thành quyền nhân
thân cơ sở (hay còn gọi là quyền nhân thân gốc) và quyền nhân thân phái sinh.
Quyền nhân thân cơ sở là quyền nhân thân theo đúng bản chất của nó, không thể
chuyển nhượng. Quyền nhân thân phái sinh là quyền khai thác danh tiếng của


18
một cá nhân với mục đích thương mại. Liên quan đến hình ảnh của cá nhân,
quyền nhân thân đối với hình ảnh là quyền nhân thân cơ sở, còn quyền đối với
từng bức ảnh cụ thể của cá nhân trong trường hợp ký hợp đồng với công ty
quảng cáo nói trên là quyền nhân thân phái sinh.
1.2. Khái niệm hình ảnh
Trong BLDS năm 1995 cũng như BLDS năm 2005 có đặt ra quyền nhân thân
của cá nhân đối với hình ảnh. Do đó, việc nhận diện khái niệm hình ảnh là gì rất cần
thiết để từ đó xác định thế nào là quyền nhân thân đối với hình ảnh và khi nào thì
một hành vi được xem là vi phạm quyền nhân thân đối với hình ảnh. Mặc dù vậy,
cho đến nay, trong hệ thống pháp luật Việt Nam cũng như hệ thống các công trình
nghiên cứu chưa có một định nghĩa nào thống nhất và khái quát về khái niệm hình
ảnh mà trong mỗi ngành, mỗi lĩnh vực nghiên cứu khác nhau có một cách định
nghĩa riêng phục vụ cho yêu cầu chuyên môn của ngành, lĩnh vực đó.
Trong lĩnh vực văn học, “hình ảnh là hình ảnh ảo của sự vật mà ngôn ngữ
văn chương gợi lên trong óc tưởng tượng của chúng ta qua những khái niệm và
qua những biểu tượng” [2729]. Như vậy, hình ảnh trong văn học được hình thành
không phải do chính mắt thường nhìn thấy mà do người đọc mường tượng qua
ngôn ngữ thơ văn. Tuy nhiên, hình ảnh được đề cập trong BLDS năm 1995 cũng
như trong BLDS năm 2005 là hình ảnh của một cá nhân cụ thể – một thực thể tồn
tại khách quan, do đó, luận văn sẽ không nghiên cứu đối với loại hình ảnh ảo này.
Trong lĩnh vực truyền hình, hình ảnh được hiểu là “những gì mà con

người thấy được thông qua thị giác rồi sau đó chuyển về não, giúp con người
cảm nhận hình ảnh đó một cách thực chất. Từ đó, đưa ra những phản xạ, cảm
nhận những hình ảnh mà con người vừa tiếp nhận được” [2830]. Định nghĩa
này chưa làm rõ được cách thức hình thành cũng như đặc điểm phản ánh đối
tượng của hình ảnh.
Trong lĩnh vực triết học, hình ảnh được coi là “kết quả của sự phản ánh
khách thể đối tượng vào ý thức con người. Ở trình độ cảm tính, hình ảnh là
những cảm giác, tri giác và biểu tượng, ở trình độ tư duy, đó là những khái niệm


19
phán đoán, suy luận. Về mặt nguồn gốc, hình ảnh là khách quan, về cách nhận
thức tồn tại, hình ảnh là chủ quan. Hình thức thể hiện vật chất của hình ảnh là
các hành động thực tiễn, ngôn ngữ, các mô hình, ký hiệu khác nhau” [67]. Định
nghĩa này xem xét khái niệm hình ảnh dưới nhiều yếu tố khác nhau như: ở trình
độ cảm tính, ở trình độ tư duy, về mặt nguồn gốc, về cách nhận thức tồn tại và
hình thức thể hiện vật chất, qua đó, phần nào đã nêu được một số thuộc tính cơ
bản của hình ảnh. Tuy nhiên, do được tiếp cận ở góc độ triết học nên định nghĩa
này còn khá trừu tượng và mang tính chung chung, khái quát.
Trong nhiếp ảnh, hình ảnh là sự phản quang của đối tượng được định hình
trên phim và giấy ảnh [2931]. Dưới góc độ ngôn ngữ, hình ảnh được hiểu “là
hình người, vật, cảnh tượng thu được bằng khí cụ quang học (như máy ảnh)
hoặc để lại ấn tượng nhất định và tái hiện được trong trí óc, là khả năng gợi tả
sống động trong cách diễn đạt” [219]. Hai định nghĩa này cơ bản đã mô tả được
nội hàm của khái niệm hình ảnh nhưng lại bó hẹp phạm vi khái niệm hình ảnh
bởi trong thực tế, ngoài việc phản quang đối tượng trên phim, giấy ảnh hoặc
bằng khí cụ quang học, hình ảnh còn có thể phản ánh bằng việc vẽ lại đối tượng
hoặc phản ánh bằng nhiều cách thức khác.
Như vậy, qua việc nghiên cứu các định nghĩa trên, có thể hiểu “hình ảnh là
sự sao chép, tái hiện lại các đối tượng tồn tại khách quan trong thực tiễn mà con

người có thể nhìn thấy bằng mắt, được nhận thức bằng tư duy của con người
hoặc bằng cách sao chụp nguyên mẫu”.
Về cách hiểu về “hình ảnh của cá nhân”, có thể hiểu rằng “hình ảnh của cá
nhân là sự sao chép, tái hiện lại hình dáng, ngoại hình, đặc điểm bề ngoài,…
của một cá nhân cụ thể bằng một cách thức nhất định mà con người có thể nhìn
thấy bằng mắt”. Hình ảnh của cá nhân có thể tồn tại dưới hình thức là các tác
phẩm như ảnh chụp; ảnh vẽ; ảnh họa chép; ảnh do quay phim, ghi hình… thậm
chí cũng có thể là bức tượng của cá nhân đó. Xét về phương diện quyền sở hữu
trí tuệ đối với sản phẩm của hoạt động nghệ thuật là bức ảnh, tấm hình, pho


20
tượng… thì các tác phẩm này được Nhà nước bảo hộ. Người sử dụng tác phẩm
phải xin phép chủ sở hữu tác phẩm hoặc người có quyền sử dụng tác phẩm đó.
Xét về phương diện quyền nhân thân thì người sử dụng hình ảnh phải được sự
đồng ý của người có hình ảnh đó hoặc đại diện của người đó trong trường hợp
pháp luật quy định.
Hình ảnh cá nhân đề cập tại Điều 31 BLDS năm 2005 không hàm chứa
nghĩa rộng là dáng hình, điệu bộ của cá nhân hoặc là sự hình dung về một
người trong trí tưởng tượng, trong tâm tư, tình cảm của người khác. Hình ảnh
cá nhân được pháp luật bảo vệ theo Điều 31 BLDS năm 2005 phải là hình ảnh
được lấy từ một người và giống với người đó [78, tr.77], tức là khi nhìn vào
hình ảnh đó, cá nhân có hình ảnh có thể bị nhận dạng và người xem hình có
thể xác định được cá nhân đó là ai. Có hai căn cứ cơ bản để xác định hình ảnh
của cá nhân đó là: hình ảnh đó được tạo ra (vẽ, chụp, quay phim,...) từ con
người thực cụ thể nào? và hình ảnh đó có giống với người thực đã được vẽ,
chụp, quay phim,... hay không? Trong hình ảnh của cá nhân có thể có ghi tên
hoặc không ghi tên của người có hình ảnh đó.
1.3. Khái niệm quyền nhân thân đối với hình ảnh
Trên cơ sở tìm hiểu, và xây dựng khái niệm quyền nhân thân và khái niệm

hình ảnh nêu trên, luận văn đi sâu nghiên cứu khái niệm quyền nhân thân đối với
hình ảnh.
Trong bất cứ một thời gian và hoàn cảnh nào, xã hội luôn nhìn nhận, đánh
giá một cá nhân thông qua những thông tin, hình ảnh của cá nhân đó mà họ nhận
được [34, tr.50]. Chính vì vậy, hình ảnh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với
mỗi cá nhân, do đó, trong pháp luật hầu hết các nước phương Tây cũng như
trong pháp luật Việt Nam đều đặt ra quyền của cá nhân đối với hình ảnh, theo
đó, thừa nhận hình ảnh của cá nhân được bảo vệ dưới bất cứ hình thức nào, dù là
tranh vẽ, ảnh chụp hay, ảnh quay phim. Tuy nhiên, pháp luật chỉ bảo vệ những
hình ảnh mà thông qua việc xem hình đó, cá nhân xuất hiện trong hình có thể bị
nhận dạng và người xem hình có thể xác định được cá nhân đó là ai. Không phải


21
trong mọi trường hợp, hình ảnh của cá nhân phải có khuôn mặt và ghi rõ họ tên
người trong ảnh thì mới nhận dạng được cá nhân đó. Hình chụp một người từ
phía sau vẫn có thể là đối tượng được bảo vệ nếu qua hình chụp đó, bạn bè,
người thân có thể nhận ra người trong hình thông qua hình thể, kiểu tóc, trang
phục, tư thế,... của người đó.
Hiện nay, nếu như trong pháp luật các nước phương Tây, quyền của cá
nhân đối với hình ảnh tồn tại với tư cách là một bộ phận quyền cá nhân đối với
đời tư và quyền tác giả [34, tr.50] thì tại Việt Nam, quyền này được tách bạch và
quy định cụ thể ngay trong BLDS năm 2005. Tại Điều 31 BLDS năm 2005 quy
định về Quyền quyền của cá nhân đối với hình ảnh như sau:
“1. Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình.
2. Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý; trong
trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ mười lăm
tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện
của người đó đồng ý, trừ trường hợp vì lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng
hoặc pháp luật có quy định khác.

3. Nghiêm cấm việc sử dụng hình ảnh của người khác mà xâm phạm danh
dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh”.
Có thể thấy, hiện nay, trong hệ thống pháp luật Việt Nam chưa có một quy
định nào đưa ra định nghĩa về khái niệm quyền nhân thân đối với hình ảnh. Ngay
cả trong Điều 31 BLDS năm 2005 quy định trực tiếp về quyền của cá nhân đối với
hình ảnh cũng chỉ quy định chung chung “Cá cá nhân có quyền đối với hình ảnh
của mình” mà không chỉ ra cụ thể quyền nhân thân đối với hình ảnh là như thế
nào. Chính điều này đã gây ra không ít khó khăn trong việc xác định khi nào thì
một hành vi được xem là vi phạm quyền nhân thân đối với hình ảnh, từ đó, ảnh
hưởng không nhỏ đến việc bảo vệ quyền nhân thân đối với hình ảnh của các cá
nhân.
Quyền nhân thân đối với hình ảnh là quyền do Nhà nước quy định. Mọi
người đều có quyền này kể từ khi họ được sinh ra, không phân biệt giới tính, tôn
giáo, thành phần giai cấp, địa vị xã hội,... Mặc dù quyền nhân thân đối với hình


22
ảnh là quyền gắn liền với mỗi cá nhân và không thể chuyển giao cho người khác
nhưng quyền này không phải tự nhiên mà có, mà nó được pháp luật quy định
làm phát sinh quyền và bảo vệ khỏi sự xâm phạm từ những hành vi vi phạm.
Theo quy định tại Điều 31 BLDS năm 2005 thì cá nhân có quyền quyết định việc
sử dụng, phát tán, công khai cũng như cho phép người khác sử dụng hình ảnh
của mình theo đúng ý chí cá nhân.
Qua những phân tích trên, quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh có
thể được hiểu là “quyền nhân thân gắn liền với cá nhân được pháp luật quy định
và bảo vệ, liên quan đến việc sử dụng và cho phép sử dụng hình ảnh của
chính cá nhân đó”.
1.4. Đặc điểm của quyền nhân thân đối với hình ảnh
Quyền nhân thân đối với hình ảnh là một trong những quyền nhân thân của
cá nhân, do đó, quyền này mang đầy đủ các đặc điểm chung của quyền nhân

thân. Bên cạnh đó, quyền nhân thân đối với hình ảnh cũng mang một số đặc
điểm riêng biệt khác với các quyền nhân thân khác, cụ thể như sau:
* Quyền nhân thân đối với hình ảnh là quyền nhân thân
không gắn với tài sản
Về mặt bản chất, quyền nhân thân đối với hình ảnh là quyền phi tài sản,
không biểu hiện bằng vật chất, không được xác định bằng tiền và mang giá trị về
tinh thần. Quyền này điều chỉnh những quan hệ liên quan đến hình ảnh và không
thể tách rời khỏi một cá nhân nhất định. Một trong những đặc điểm cơ bản để
phân biệt quyền nhân thân đối với hình ảnh với một số quyền nhân thân khác
như quyền đặt tên cho tác phẩm; quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác
phẩm, được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng;
quyền công bố hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm; quyền bảo vệ sự
toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén, xuyên tạc tác
phẩm… đó là quyền này không gắn với tài sản. Quyền nhân thân đối với hình
ảnh được pháp luật công nhận vô điều kiện đối với mọi cá nhân một cách bình
đẳng và suốt đời, được bảo vệ như nhau khi các giá trị đó bị xâm phạm, không


23
phụ thuộc vào bất cứ hoàn cảnh kinh tế, địa vị xã hội hay mức độ tài sản của
người đó. Các quyền nhân thân này thể hiện giá trị tinh thần của chủ thể đối với
chính bản thân mình, luôn gắn với chính bản thân người đó và không dịch
chuyển được sang chủ thể khác.
* Quyền nhân thân đối với hình ảnh là quyền nhân thân thuộc về cá
nhân
Quyền nhân thân đối với hình ảnh là quyền thuộc về cá nhân, mang tính
chất cá nhân và luôn gắn với một cá nhân xác định. Điều đó có nghĩa là quyền
này được ghi nhận và điều chỉnh trong luật dân sự, thuộc về các cá nhân từ khi
họ sinh ra và không thể bị trưng mua hay chuyển giao cho người khác, trừ
trường hợp khi cá nhân đó chết, quyền nhân thân này có thể được thực thi và bảo

vệ bởi những chủ thể khác theo quy định pháp luật. Đây là một trong những đặc
điểm quan trọng để phân biệt với một số quyền nhân thân thuộc về chủ thể khác
không phải là cá nhân như quyền được bảo vệ danh dự, uy tín được đề cập đến
tại Điều 604 và Điều 611 BLDS năm 2005.
Trong xã hội, mỗi người có một hình dạng, đặc điểm, hình ảnh riêng. Dù
trong một số trường hợp đặc biệt như đối với các cặp song sinh cùng trứng, hình
ảnh của họ có thể giống nhau, nhưng xét về bản chất, đó hoàn toàn là hai hình
ảnh của hai cá nhân khác nhau và mang những đặc trưng nhất định. Do đó, hình
ảnh chỉ gắn liền và thuộc về một cá nhân xác định.
* Quyền nhân thân đối với hình ảnh là quyền cá thể hóa cá
nhân trong xã hội
Với đặc điểm nổi bật là sao chép lại và phản ánh đúng các đối tượng được
thể hiện trong các hình thức nghệ thuật, thông qua việc nhìn vào những hình ảnh
đó dù không ghi rõ tên tuổi, thông tin của người có trong ảnh nhưng người xem
vẫn dễ dàng nhận diện được đối tượng được phản ánh trong ảnh là ai. Do đó, có
thể khẳng định, hình ảnh là một trong các yếu tố có tính chất cá biệt hóa chủ thể
và quyền nhân thân đối với hình ảnh là quyền cá thể hóa cá nhân.
Quyền cá thể hóa cá nhân trong xã hội là quyền nhân thân của cá nhân,
trong đó, ghi nhận những đặc điểm riêng biệt của cá nhân như tên gọi, hình ảnh


24
và các yếu tố lý lịch để phân biệt cá nhân này với các cá nhân, chủ thể khác
trong xã hội nói chung và trong quan hệ pháp luật nói riêng. Trong xã hội, mỗi
người có một tên gọi, hình ảnh và yếu tố lý lịch khác nhau như dân tộc, giới tính,
quốc tịch, thông tin về khai sinh, khai tử, do đó, quyền cá biệt hoá chủ thể được
xem là các công cụ cá biệt hoá khác nhau ở mỗi chủ thể, làm cho bản thân nhân
thân cá nhân đó không thể bị lặp lại. Thông qua đó, chúng ta dễ dàng hình dung
và phân biệt được chủ thể này với các chủ thể khác.
Quyền nhân thân đối với hình ảnh thuộc nhóm quyền tuyệt đối, biểu hiện

bằng việc quyền này được bảo vệ một cách tuyệt đối trước sự xâm phạm của bất
kỳ chủ thể khác và được bảo vệ theo yêu cầu của chủ thể quyền. Bất kỳ hành vi
xâm phạm quyền nhân thân nào cũng phải chịu một trách nhiệm pháp lý. Việc cá
biệt hóa chủ thể trong quan hệ pháp luật có ý nghĩa lớn trong việc xác định rõ
quyền, nghĩa vụ của mỗi chủ thể cũng như trách nhiệm pháp lý của chủ thể khi
tham gia quan hệ pháp luật nói chung và quan hệ pháp luật dân sự nói riêng
[1213].
* Quyền nhân thân đối với hình ảnh là quyền được bảo hộ vô thời hạn
Con người có đời sống hữu hạn, đó là một quy luật không thể tránh khỏi. Vì
vậy, thời điểm được hưởng quyền và thời điểm chấm dứt quyền là vấn đề pháp
lý không thể bỏ qua trong pháp luật dân sự. Đối với quyền nhân thân đối với
hình ảnh cũng vậy, pháp luật dân sự xác định đây là quyền có mối quan hệ mật
thiết với năng lực pháp luật dân sự của cá nhân, điều đó có nghĩa là quyền này
gắn liền với cá nhân suốt cuộc đời. Một trong những đặc điểm riêng biệt, khác
với một số quyền nhân thân khác đó là quyền nhân thân đối với hình ảnh được
pháp luật bảo hộ vĩnh viễn. Chính vì hình ảnh có thể tạo ra tin đồn, thậm chí có
thể hạ thấp danh dự, uy tín của người đã chết trong cộng đồng, đồng thời, hình
ảnh đó cũng có thể ảnh hưởng đến các quan hệ xã hội cũng như cuộc sống của
những người liên quan còn sống, do đó, để bảo vệ tuyệt đối quyền nhân thân đối
với hình ảnh của người đã chết cũng như bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của
người liên quan còn sống, pháp luật ghi nhận và bảo vệ quyền này ngay cả khi cá
nhân đó đã chết. Theo quy định pháp luật, sau khi cá nhân chết, quyền đối với
hình ảnh của cá nhân đó sẽ do người thân thích là cha, mẹ, vợ, chồng, con đã


25
thành niên hoặc người đại diện của cá nhân đó bảo vệ. Họ có quyền đồng ý cho
phép chủ thể khác sử dụng hình ảnh của người đã chết nếu không xâm phạm
danh dự, nhân phẩm, uy tín của người đó, đồng thời, họ cũng có quyền yêu cầu
chấm dứt đối với các hành vi vi phạm.

* Hành vi xâm phạm quyền nhân thân đối với hình ảnh là hành vi tác
động vào vật phẩm liên quan đến quyền
Vật phẩm liên quan đến quyền nhân thân đối với hình ảnh chính là hình ảnh
của cá nhân đó. Khác với các quyền nhân thân khác, hành vi xâm phạm quyền
nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh là hành vi tác động trực tiếp vào vật
phẩm liên quan đến quyền mà không phải tác động vào chủ thể. Hành vi xâm
phạm đó có thể là hành vi sử dụng hình ảnh của cá nhân khi chưa có sự đồng ý
của cá nhân đó hoặc hành vi sử dụng hình ảnh xâm phạm đến danh dự, nhân
phẩm, uy tín của cá nhân có hình ảnh. Trong trường hợp hành vi xâm phạm có
gây ra thiệt hại thì có thể khắc phục phần nào thiệt hại thông qua việc tác động
đến hình ảnh bị xâm phạm đó. Tùy từng dạng hành vi xâm phạm khác nhau mà
chủ thể có quyền bị xâm phạm hoặc người có hành vi xâm phạm có các cách tác
động khác nhau, ví dụ: khi Tạp chí M có hành vi đăng hình ảnh cá nhân A mà
xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của A, thì để khắc phục thiệt hại, M
phải thu hồi lại cuốn tạp chí đó. Tuy nhiên, nếu hành vi xâm phạm quyền đối với
hình ảnh của A là hành vi nhãn hiệu B sử dụng hình ảnh của A làm poster quảng
cáo khi chưa có sự xin phép, cách tác động nhằm khắc phục thiệt hại là gỡ bỏ
poster quảng cáo đó. Đặc điểm này có ý nghĩa quan trọng trong việc nhận diện
và chứng minh một hành vi được coi là hành vi xâm phạm quyền nhân thân của
cá nhân đối với hình ảnh cũng như việc khôi phục lại các giá trị nhân thân bị
xâm phạm. Khi nộp đơn yêu cầu cơ quan nhà nước bảo vệ trước những hành vi
xâm phạm quyền nhân thân của mình thì chủ thể quyền phải chỉ ra được hành vi
đó đã trực tiếp xâm phạm đến quyền nhân thân đối với hình ảnh của mình.
* Phương thức Nhà nước bảo vệ quyền nhân thân đối với hình ảnh là
bảo vệ khi có yêu cầu
Nếu như đối với các quyền như quyền được đảm bảo an toàn về tính mạng,
sức khoẻ, thân thể; quyền được bảo vệ nhân phẩm; quyền được hưởng sự chăm



×