Tải bản đầy đủ (.pdf) (136 trang)

Một số yếu tố tác động đến ý định mua sắm tại siêu thị nội của người tiêu dùng tại tp hồ chí minh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.85 MB, 136 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Quỳnh Như

MỘT SỐ YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN Ý ĐỊNH MUA SẮM TẠI
SIÊU THỊ NỘI CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG TP.HCM
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh (Hướng nghiên cứu)
Mã số: 8340101

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN QUANG THU

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2018


LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên: Nguyễn Quỳnh Như, sinh ngày 02/11/1988 tại Đồng Nai. Là học viên
lớp K24_LV_QTKD_NC, trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh.
Mã học viên : 7701240862A
Tôi xin cam đoan luận văn “Một số yếu tố tác động đến ý định mua sắm tại
siêu thị nội của người tiêu dùng tại TP.HCM” là do tôi thực hiện.
Trong phần cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu, tôi có tham khảo các tài
liệu đã nêu trong danh mục Tài liệu tham khảo. Dữ liệu được sử dụng để phân tích
trong phần thực trạng và giải pháp là các thông tin sơ cấp được thu thập từ khảo sát,
phỏng vấn đối tượng người tiêu dùng sống tại TP.HCM.
Tôi cam đoan kết quả nghiên cứu là của riêng tôi, không sao chép từ các công
trình nghiên cứu khoa học trước đó.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 4 năm 2018



Nguyễn Quỳnh Như


MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN.....................................................................................1
1.1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu ......................................................................................2
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.................................................................2
1.3.1.

Đối tượng nghiên cứu............................................................................2

1.3.2.

Phạm vi nghiên cứu ...............................................................................3

1.4. Phương pháp nghiên cứu...............................................................................3
1.4.1.

Nguồn dữ liệu ........................................................................................3

1.4.2.


Phương pháp thực hiện .........................................................................3

1.5. Kết cấu luận văn .............................................................................................4
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ........................5
2.1. Cơ sở lý luận ...................................................................................................5
2.1.1.

Tính vị chủng tiêu dùng ........................................................................5

2.1.2.

Hiệu ứng quốc gia xuất xứ ....................................................................8

2.1.3.

Giá trị cảm nhận ..................................................................................11

2.1.4.

Ý định mua hàng ..................................................................................13

2.2. Mô hình nghiên cứu và các giả thuyết........................................................14
2.2.1. Mối quan hệ giữa tính vị chủng tiêu dùng, ý định mua sắm tại siêu
thị nội và giá trị cảm nhận đối với siêu thị ngoại ............................................14


2.2.2. Mối quan hệ giữa quốc gia xuất xứ và giá trị cảm nhận đối với siêu
thị ngoại .............................................................................................................15
2.2.3. Mối quan hệ giữa giá trị cảm nhận đối với siêu thị ngoại và ý định
mua sắm tại siêu thị nội ....................................................................................16

Tóm tắt chương 2 .................................................................................................17
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..................................................18
3.1. Thiết kế nghiên cứu......................................................................................18
3.1.1.

Phương pháp nghiên cứu ....................................................................18

3.1.2.

Quy trình nghiên cứu ..........................................................................18

3.2. Phát triển và điều chỉnh thang đo ..............................................................21
3.2.1.

Thang đo tính vị chủng tiêu dùng .......................................................22

3.2.2.

Thang đo hiệu ứng quốc gia xuất xứ ..................................................23

3.2.3.

Thang đo giá trị cảm nhận đối với siêu thị ngoại ..............................24

3.2.4.

Thang đo ý định mua sắm tại siêu thị nội ..........................................25

3.3. Đánh giá sơ bộ thang đo ..............................................................................25
3.3.1.


Đánh giá thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach alpha .....................26

3.3.2.

Đánh giá thang đo bằng phân tích yếu tố khám phá EFA ................28

3.4. Nghiên cứu định lượng chính thức .............................................................31
3.4.1.

Bảng câu hỏi chính thức .....................................................................31

3.4.2.

Mẫu nghiên cứu ...................................................................................31

Tóm tắt chương 3 .................................................................................................32
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU..............................................................34
4.1. Đặc điểm của mẫu khảo sát .........................................................................34
4.2. Đánh giá sơ bộ thang đo ..............................................................................34
4.2.1.

Đánh giá thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach alpha .....................34

4.2.2.

Đánh giá thang đo bằng phân tích yếu tố khám phá EFA ................35

4.3. Kiểm định thang đo bằng CFA ...................................................................37
4.3.1.


Kiểm định thang đo tính vị chủng tiêu dùng ......................................39


4.3.2.

Kiểm định thang đo hiệu ứng quốc gia xuất xứ .................................40

4.3.3.

Kiểm định thang đo giá trị cảm nhận đối với siêu thị ngoại .............41

4.3.4.

Kiểm định thang đo ý định mua sắm tại siêu thị nội .........................42

4.3.5.

Kiểm định giá trị phân biệt giữa các khái niệm nghiên cứu .............43

4.4. Kiểm định mô hình nghiên cứu ..................................................................45
4.5. Ước lượng mô hình nghiên cứu bằng bootstrap .......................................47
4.6. Kiểm định giả thuyết....................................................................................47
4.7. Kết quả phân tích cấu trúc đa nhóm ..........................................................48
4.7.1.

Kiểm định sự khác biệt theo giới tính .................................................49

4.7.2.


Kiểm định sự khác biệt theo độ tuổi....................................................50

4.7.3.

Kiểm định sự khác biệt theo trình độ học vấn ....................................52

4.7.4.

Kiểm định sự khác biệt theo thu nhập hộ gia đình ............................54

4.7.5.

Kiểm định sự khác biệt theo tần suất đi mua sắm tại kênh siêu thị ..55

Tóm tắt chương 4 .................................................................................................57
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ ............................................58
5.1. Tóm tắt nội dung nghiên cứu ......................................................................58
5.2. Kết quả chính và đóng góp của nghiên cứu ...............................................59
5.3. Hàm ý quản trị .............................................................................................61
5.3.1.

Hàm ý đối với nhà hoạch định chính sách .........................................61

5.3.2.

Hàm ý đối với nhà quản trị dịch vụ bán lẻ .........................................63

5.4. Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo ...................................64
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỤC LỤC



DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
AMOS : Phân tích cấu trúc mô măng (Analysis of MOment Structures)
CE

: Tính vị chủng tiêu dùng

CFA

: Phân tích nhân tố khẳng định (Confirmatory Factor Analysis)

CO

: Hiệu ứng quốc gia xuất xứ

EFA

: Phân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analysis)

GFI

: Goodness of fit index

NFI

: Normed fit index

PI


: Ý định mua sắm đối với siêu thị nội

PV

: Giá trị cảm nhận đối với siêu thị ngoại

RMSEA : Root mean square error approximation
SEM

: Mô hình cấu trúc tuyến tính (Structural Equation Modeling)

SPSS

: Statistical Package for the Social Sciences

ST

: Siêu thị

TLI

: Tucker & Lewis index

WTO

: Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization)


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Các bước thực hiện nghiên cứu ................................................................18

Bảng 3.2: Tóm tắt các khái niệm và thang đo của nghiên cứu .................................22
Bảng 3.3: Kết quả Cronbach alpha trong bước nghiên cứu định lượng sơ bộ ..........27
Bảng 3.4: Kết quả phân tích EFA lần 1 trong nghiên cứu sơ bộ định lượng ............29
Bảng 3.5: Kết quả phân tích EFA lần 2 trong nghiên cứu sơ bộ định lượng ............30
Bảng 4.1: Đặc điểm mẫu khảo sát .............................................................................34
Bảng 4.2: Kết quả Cronbach alpha trong nghiên cứu chính thức .............................36
Bảng 4.3: Kết quả phân tích EFA trong nghiên cứu chính thức ...............................37
Bảng 4.4: Kết quả kiểm định giá trị phân biệt giữa các biến ....................................44
Bảng 4.5: Bảng tóm tắt kết quả kiểm định thang đo .................................................45
Bảng 4.6: Kết quả kiểm định mối quan hệ nhân quả giữa các khái niệm trong mô
hình nghiên cứu (chuẩn hóa) .....................................................................................47
Bảng 4.7: Kết quả ước lượng bằng Bootstrap với N = 1000 ....................................47
Bảng 4.8: Sự khác biệt các chỉ tiêu tương thích giữa hai mô hình khả biến và bất
biến từng phần theo giới tính ....................................................................................50
Bảng 4.9: Mối quan hệ giữa các khái niệm trong mô hình khả biến và bất biến từng
phần theo giới tính.....................................................................................................50
Bảng 4.10: Sự khác biệt các chỉ tiêu tương thích giữa hai mô hình khả biến và bất
biến từng phần theo độ tuổi .......................................................................................52
Bảng 4.11: Mối quan hệ giữa các khái niệm trong mô hình khả biến và bất biến từng
phần theo độ tuổi .......................................................................................................52
Bảng 4.12: Sự khác biệt các chỉ tiêu tương thích giữa hai mô hình khả biến và bất
biến từng phần theo trình độ học vấn ........................................................................53


Bảng 4.13: Mối quan hệ giữa các khái niệm trong mô hình khả biến và bất biến từng
phần theo trình độ học vấn ........................................................................................53
Bảng 4.14: Sự khác biệt các chỉ tiêu tương thích giữa hai mô hình khả biến và bất
biến từng phần theo thu nhập hộ gia đình .................................................................55
Bảng 4.15: Mối quan hệ giữa các khái niệm trong mô hình khả biến và bất biến từng
phần theo thu nhập hộ gia đình .................................................................................55

Bảng 4.16: Sự khác biệt các chỉ tiêu tương thích giữa hai mô hình khả biến và bất
biến từng phần theo tần suất đi siêu thị .....................................................................56
Bảng 4.17: Mối quan hệ giữa các khái niệm trong mô hình khả biến và bất biến từng
phần theo tần suất đi siêu thị .....................................................................................56


DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 2.1: Mô hình nghiên cứu đề xuất các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua sắm tại
siêu thị nội .................................................................................................................16
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu ................................................................................19
Hình 4.1: Mô hình CFA của thang đo tính vị chủng tiêu dùng (chuẩn hóa) ...........39
Hình 4.2: Mô hình CFA của thang đo hiệu ứng quốc gia xuất xứ (chuẩn hóa) ........40
Hình 4.3: Mô hình CFA của thang đo giá trị cảm nhận đối với siêu thị ngoại (chuẩn
hóa) ............................................................................................................................41
Hình 4.4: Mô hình CFA của thang đo ý định mua sắm tại siêu thị nội (chuẩn hóa) 42
Hình 4.5: Kết quả CFA mô hình đo lường tới hạn ...................................................44
Hình 4.6: Kết quả SEM của mô hình nghiên cứu .....................................................46
Hình 4.7: Kết quả SEM khả biến và bất biến từng phần theo giới tính (nam và nữ)49
Hình 4.8: Kết quả SEM khả biến và bất biến từng phần theo độ tuổi (nhóm trẻ và
nhóm trung niên) .......................................................................................................51
Hình 4.9: Kết quả SEM khả biến và bất biến từng phần theo trình độ học vấn (dưới
đại học và đại học trở lên) .........................................................................................53
Hình 4.10: Kết quả SEM khả biến và bất biến từng phần theo thu nhập hộ gia đình
(thu nhập thấp và thu nhập trung bình-cao) ..............................................................54
Hình 4.11: Kết quả SEM khả biến và bất biến từng phần theo tần suất đi siêu thị
(không thường xuyên và thường xuyên) ...................................................................56


1


CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
Lý do chọn đề tài

1.1.

Theo dự báo của Viện Nghiên cứu Thương mại (Bộ Công Thương), giai đoạn
2016 – 2020, tốc độ tăng trưởng thương mại bán lẻ của Việt Nam sẽ đạt
11,9%/năm, quy mô thị trường khoảng 179 tỷ USD vào năm 2020. Thị trường bán
lẻ Việt Nam luôn được đánh giá là giàu tiềm năng và thường xuyên nằm trong
nhóm các thị trường hấp dẫn nhất thế giới. Năm 2017, Việt Nam xếp thứ 6 trong
bảng xếp hạng Chỉ số phát triển bán lẻ toàn cầu (GRDI) (kết quả khảo sát thường
niên của A.T. Kearney).
Với việc mở cửa thị trường bán lẻ theo cam kết WTO, hàng loạt nhà bán lẻ
nước ngoài đã và đang đầu tư vào Việt Nam. Việc này đồng nghĩa là sự cạnh tranh
sẽ tăng lên, tạo ra áp lực cho các nhà bán lẻ trong nước, nhưng đồng thời bán lẻ
trong nước cũng sẽ có sự thay đổi về chất, tạo ra một diện mạo mới, bởi chính cạnh
tranh buộc các nhà bán lẻ phải nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, nhờ đó kênh
bán lẻ hiện đại sẽ phát triển nhanh hơn, năng động hơn, cung cấp thêm những dịch
vụ và hoạt động mới mang lại nhiều sự lựa chọn và giá trị gia tăng cho người tiêu
dùng.
Vài năm gần đây, thị trường bán lẻ Việt Nam trở nên sôi động bởi các hoạt
động M&A và thu hút sự quan tâm từ nhiều phía như doanh nghiệp (bán lẻ cũng
như sản xuất), chính phủ, người tiêu dùng, báo chí… Có thể kể đến là vụ Central
Group (Thái Lan) góp 49% vốn vào Nguyễn Kim đồng thời thâu tóm luôn cả Big C
Việt Nam; hay Metro, B’s Mart được bán cho BJC (Thái Lan); hay Aeon (Nhật
Bản) thâu tóm Fivimart, Citimart; VinGroup thì mua lại Ocean mart, Maximark.
Cục diện bán lẻ thay đổi nhanh chóng với làn sóng tấn công liên tục từ các
doanh nghiệp quốc tế khiến nhiều người quan ngại về viễn cảnh các nhà bán lẻ nội
sẽ bị thất thế ngay trên “sân nhà” khi mà các doanh nghiệp ngoại có nhiều tiềm lực
về tài chính cũng như kinh nghiệm quản lý. Rõ ràng xu hướng hội nhập là không

thể cưỡng lại và sự lo lắng này hoàn toàn có cơ sở vì việc lựa chọn nhà bán lẻ nội


2

hay ngoại có tác động khá lớn đến nền kinh tế nội địa nói chung, bởi có một điều
chắc chắn rằng tại các siêu thị của nước ngoài, tỷ trọng hàng ngoại nhập sẽ chiếm
rất cao.
Trong bối cảnh nước ta từ nhiều năm nay đã và đang có cuộc vận động “Người
Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” nhằm tiếp sức cho hàng nội, vậy thì câu hỏi
đặt ra là liệu người Việt có ủng hộ nhà bán lẻ Việt, ủng hộ hàng Việt hay không? Và
nếu có thì điều gì là nguyên nhân khiến họ sẵn lòng đi mua sắm tại các siêu thị
Việt? Liệu họ có tâm lý sính ngoại hay không? Làm cách nào để gia tăng ý định đi
mua sắm tại doanh nghiệp bán lẻ trong nước của người tiêu dùng… Đó là lý do để
đề tài này sẽ phát triển theo hướng nghiên cứu “Một số yếu tố tác động đến ý định
mua sắm tại siêu thị nội của người tiêu dùng tại TP.HCM”.
1.2.

Mục tiêu nghiên cứu
− Xác định và đo lường tác động của các yếu tố tính vị chủng tiêu dùng, giá
trị cảm nhận đối với siêu thị ngoại và hiệu ứng quốc gia xuất xứ đến ý định
mua sắm tại siêu thị nội của người tiêu dùng TP.HCM.
− Kiểm định sự khác biệt về mức độ tác động của các yếu tố tính vị chủng
tiêu dùng, giá trị cảm nhận đối với siêu thị ngoại và hiệu ứng quốc gia xuất
xứ đến ý định mua sắm tại siêu thị nội theo giới tính, độ tuổi, thu nhập,
trình độ và tần suất đi siêu thị.
− Hàm ý quản trị cho các nhà bán lẻ nội và nhà hoạch định chính sách.

1.3.


Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tác động của tính vị chủng tiêu dùng, giá trị cảm nhận và
quốc gia xuất xứ đến ý định mua sắm tại siêu thị nội của người tiêu dùng TP.HCM.


3

1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được thực hiện tại thị trường TP.HCM và chỉ tập trung
nghiên cứu đối với dịch vụ bán lẻ tại loại hình siêu thị kinh doanh tổng hợp, không
bao gồm các siêu thị chuyên doanh (siêu thị điện máy, siêu thị điện thoại di
động…).
Đối tượng khảo sát là người tiêu dùng từ 18 đến 60 tuổi có đi mua sắm tại loại
hình siêu thị tổng hợp.
Khái niệm siêu thị ngoại trong nghiên cứu này được hiểu là các siêu thị do nhà
đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam hoặc do
nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại. Như vậy, siêu thị nội được
hiểu là các siêu thị do nhà đầu tư trong nước thành lập tại Việt Nam. Ý định mua
sắm tại siêu thị nội trong nghiên cứu này được hiểu là sự sẵn lòng đi mua sắm tại
các hệ thống siêu thị nội của người tiêu dùng.
1.4.

Phương pháp nghiên cứu

1.4.1. Nguồn dữ liệu
Nghiên cứu này sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập bằng cách phỏng
vấn trực tiếp 317 người tiêu dùng TP.HCM thông qua bảng câu hỏi khảo sát.
1.4.2. Phương pháp thực hiện

Đề tài này sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng.
Dựa trên cơ sở lý thuyết về tính vị chủng tiêu dùng, giá trị cảm nhận, hiệu ứng
quốc gia xuất xứ và ý định mua hàng để điều chỉnh và phát triển các thang đo. Bảng
câu hỏi chi tiết sẽ được mang đi khảo sát sau đó.
Phương pháp xử lý bao gồm (1) kiểm định sơ bộ thang đo (phân tích
cronbach’s alpha và EFA), (2) kiểm định khẳng định thang đo (phân tích CFA), (3)
kiểm định mô hình lý thuyết (phân tích SEM), (4) kiểm định sự khác biệt đối với
các yếu tố nhân khẩu học (phân tích cấu trúc đa nhóm).


4

1.5.

Kết cấu luận văn
Luận văn gồm có 5 chương:
Chương 1: Tổng quan
Giới thiệu nội dung tổng quan về đề tài nghiên cứu.
Chương 2: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu
Trình bày cơ sở lý thuyết về tính vị chủng tiêu dùng, giá trị cảm nhận, hiệu
ứng quốc gia xuất xứ, ý định mua hàng và xây dựng mô hình, giả thuyết
nghiên cứu.
Chương 3: Thiết kế nghiên cứu
Trình bày nội dung của thiết kế nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Trình bày kết quả nghiên cứu của đề tài.
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị
Tóm tắt những kết quả chính của luận văn, hàm ý quản trị, cũng như hạn
chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo.
Tài liệu tham khảo

Phụ lục


5

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1. Tính vị chủng tiêu dùng
Tính vị chủng (ethnocentrism) là một khái niệm thuộc lĩnh vực tâm lý xã hội,
được William Graham Sumner mô tả và sử dụng lần đầu tiên vào năm 1906. Ông
định nghĩa tính vị chủng “là cách nhìn các sự vật của một người trong một cộng
đồng, mà cộng đồng đó được xem là trung tâm, là mẫu mực, thước đo cho tất cả các
sự vật xung quanh… mỗi cộng đồng đều nuôi dưỡng niềm tự hào, tự tôn, tán dương
những thành viên của mình và xem thường người ngoài cộng đồng” (dẫn theo
Shimp và Sharma, 1987, tr. 27).
Đây là thuật ngữ được áp dụng cho những sự thiên lệch về văn hóa hoặc dân
tộc, dù là vô thức hay có ý thức. Cụ thể, một cá nhân được sinh ra trong một nền
văn hoá nào đó với hệ thống ngôn ngữ, phong tục, giá trị, niềm tin, tôn giáo riêng
biệt, khi họ đối mặt với những nền văn hóa mới lạ, họ có thể xem những sự khác
biệt này là điều bất thường. Như vậy, tính vị chủng đại diện cho khuynh hướng của
một cá nhân nào đó đánh giá giá trị nhóm khác dựa trên quan điểm của nhóm mình,
và từ bỏ những ý tưởng không đồng quan điểm với nhóm mình. Nói cách khác,
những người có tính vị chủng cao thường tự hào, nâng cao giá trị, văn hóa và con
người thuộc vào nhóm của mình, và có xu hướng đánh giá thấp các giá trị, chuẩn
mực của nhóm khác (Levine & Campbell, 1972; dẫn theo Sharma, Shimp, & Shin,
1995).
Khái niệm tính vị chủng tiêu dùng (consumer ethnocentrism) được Shimp và
Sharma (1987) phát triển lên từ thuật ngữ tính vị chủng trong xã hội học. Khái niệm
này đại diện cho niềm tin của người tiêu dùng về tính ưu việt của sản phẩm nước
mình. Nhận thức này được giả định là vượt qua các cân nhắc về mặt kinh tế và chức

năng của sản phẩm, thay vào đó nó bắt nguồn từ một nền tảng cao hơn, đó là đạo
đức. Tính vị chủng tiêu dùng biểu thị niềm tin của người tiêu dùng về tính hợp lý và
đạo đức trong việc tiêu dùng hàng ngoại nhập. Điều này có nghĩa những người có


6

tính vị chủng tiêu dùng cao sẽ cảm thấy việc mua sản phẩm từ các nước khác là việc
làm không thích hợp, thậm chí là không có đạo đức, bởi vì việc này sẽ làm tổn hại
đến nền kinh tế trong nước, gây ra thất nghiệp, kiềm hãm sự phát triển của các
doanh nghiệp nội. Việc mua các sản phẩm ngoại nhập thậm chí có thể đơn giản
được xem là không yêu nước (Klein, 2002; Netemeyer và cộng sự, 1991; Sharma,
Shimp, & Shin, 1995; Shimp & Sharma, 1987). Vì vậy, những người này thường có
xu hướng ưa chuộng tiêu dùng hàng hóa sản xuất trong nước.
Tính vị chủng tiêu dùng không chỉ là hành vi cá nhân mà còn là trách nhiệm
đối với cộng đồng. Nó không đồng nhất cho tất cả các thành viên trong cộng đồng
vì sự hình thành nó có quan hệ chặt chẽ đến kiến thức, kinh nghiệm và điều kiện
kinh tế của mỗi cá nhân.
Trong nghiên cứu một số yếu tố chính tác động vào xu hướng tiêu dùng hàng
nội của người Việt, Nguyễn Đình Thọ (2004) cũng khẳng định: "Tính vị chủng tiêu
dùng đóng vai trò quan trọng trong xu hướng tiêu dùng hàng nội. Khi một người
tiêu dùng có tính vị chủng cao, có nghĩa là người này có xu hướng tôn vinh hàng
được sản xuất trong chính nước mình thì người này có xu hướng tiêu dùng hàng
nội".
Những người không có khuynh hướng vị chủng tiêu dùng đánh giá hàng ngoại
nhập dựa vào giá trị thật sự của chúng mà không quan tâm chúng được tạo ra bởi
quốc gia nào (Shankarmahesh, 2006).
Mức độ phát triển của một quốc gia cũng ảnh hưởng đến tính vị chủng tiêu
dùng. Theo Wang và Chen (2004), các nước phát triển có lợi thế là người tiêu dùng
đánh giá cao sản phẩm trong nước hơn, trái ngược với các nước đang phát triển,

trong đó người tiêu dùng coi các sản phẩm nước ngoài vượt trội so với các nước
trong khu vực.
Mức độ vị chủng tiêu dùng cũng có thể thay đổi theo loại sản phẩm, vì nó
chứa nhiều thuộc tính xác định sản phẩm. Sự cần thiết và tầm quan trọng của sản
phẩm có thể làm tăng hoặc giảm tính vị chủng (Sharma, Shimp & Shin, 1995).


7

Chẳng hạn, tính vị chủng của một người đối với sản phẩm xe máy có thể rất khác
biệt so với sản phẩm trái cây. Người tiêu dùng Mỹ có tính vị chủng cao hơn đối với
các sản phẩm phức tạp, nhưng người Hàn Quốc lại có tính vị chủng cao hơn đối với
những sản phẩm ít phức tạp (Ha 1998).
Nhiều định nghĩa về tính vị chủng tiêu dùng dựa trên chủ nghĩa yêu nước,
thậm chí thể hiện sự ác cảm đối với các sản phẩm nước ngoài. Đây là một hiện
tượng có thực, được minh họa trong nhiều nghiên cứu. Chẳng hạn, Wall và Heslop
(1986) nhận thấy người tiêu dùng Mỹ sẵn sàng mua các sản phẩm của Mỹ để giúp
nền kinh tế và tăng việc làm. Trong trường hợp các nước đang phát triển,
Kucukemiroglu (1999) cho thấy nhiều người tiêu dùng Thổ Nhĩ Kỳ không thích
mua các sản phẩm nước ngoài vì nó làm tổn thương nền kinh tế và gây ra thất
nghiệp. Tương tự, Marcoux, Filiatrault và Cheron (1997) cho thấy khía cạnh yêu
nước của tính vị chủng tiêu dùng dẫn đến một số người Ba Lan thích sản phẩm của
Ba Lan hơn. Tuy nhiên, một số định nghĩa khác tập trung vào việc người tiêu dùng
đánh giá quá cao chất lượng sản phẩm trong nước, và khái niệm về tính vị chủng
tiêu dùng ở đây được xem như là sự đại diện cho "niềm tin của người tiêu dùng về
tính ưu việt của các sản phẩm của nước mình" (Shimp 1984, trang 285). Vì vậy,
người tiêu dùng có thể lựa chọn sản phẩm trong nước do chủ nghĩa yêu nước, hoặc
vì chất lượng cảm nhận cao hơn, hoặc có thể bao gồm cả hai lý do.
Hầu hết các nghiên cứu về tính vị chủng hiện nay đều được thực hiện tại các
nước phát triển, nơi mà hầu hết các sản phẩm/dịch vụ có chất lượng cao, được sự tín

nhiệm của người dân trong nước. Do đó, ở những quốc gia này, tính vị chủng tiêu
dùng được định nghĩa một cách đơn giản như là một niềm tin rằng sản phẩm/dịch
vụ trong nước có chất lượng tốt nhất (Nguyễn Đình Thọ, 2004). Trong khi ở các
nước đang phát triển, người tiêu dùng có thể cảm nhận rằng sản phẩm nước mình
không tốt bằng các nước tiên tiến hơn. Số lượng nghiên cứu liên quan đến đề tài này
tại Việt Nam rất ít ỏi, và chủ yếu chỉ mới được thực hiện đối với các sản phẩm hữu
hình. Đối với lĩnh vực dịch vụ, mà đặc biệt là dịch vụ bán lẻ, hầu như chưa có


8

nghiên cứu nào về tính vị chủng tiêu dùng. Chính vì vậy, việc nghiên cứu về vai trò
của tính vị chủng tiêu dùng trong lĩnh vực bán lẻ tại Việt Nam là rất cần thiết.
Đề tài này nghiên cứu tính vị chủng tiêu dùng thể hiện ở khía cạnh chủ nghĩa
dân tộc, lòng yêu nước của mỗi cá nhân, nó được hiểu như là sự thiên vị, ủng hộ của
người tiêu dùng cho các sản phẩm, dịch vụ trong nước, đồng thời bài xích các sản
phẩm, dịch vụ của nước ngoài.
2.1.2. Hiệu ứng quốc gia xuất xứ
Quốc gia xuất xứ (country of origin) của sản phẩm, dịch vụ là một yếu tố quan
trọng trong marketing, ảnh hưởng đến nhận thức và hành vi của người tiêu dùng.
Hiệu ứng quốc gia xuất xứ được định nghĩa là "sự ảnh hưởng tích cực và tiêu
cực do đất nước mà sản phẩm được sản xuất ra có thể tác động đến các quá trình ra
quyết định của người tiêu dùng hoặc hành vi sau đó (Elliott và Cameron, 1994).
Nguồn gốc quốc gia của một sản phẩm là một nguồn thông tin, giống những
tín hiệu thông tin khác như giá, tên thương hiệu... giúp người tiêu dùng đánh giá sản
phẩm và phát triển thái độ đối với chúng (Maheswaran, 1994).
Theo Nagashima (1970), hình ảnh quốc gia xuất xứ là "các hình ảnh, uy tín, và
những khuôn mẫu mà doanh nghiệp và người tiêu dùng gán cho các sản phẩm hoặc
thương hiệu của một quốc gia cụ thể. Hình ảnh này được tạo ra bởi các biến như các
sản phẩm đại diện, đặc điểm quốc gia, nền kinh tế và chính trị, lịch sử và truyền

thống".
Thông tin về quốc gia xuất xứ sản phẩm là những thông tin liên quan đến địa
điểm hoặc vị trí mà sản phẩm được sản xuất hoặc hình thành (Liefeld, 2004) và
thường được xác định trên sản phẩm hoặc bao bì với các dòng chữ như "Made in ..."
hoặc "Product of ..." (Johansson, 1989).
Hiệu ứng quốc gia xuất xứ có vai trò như tín hiệu thông tin (Bilkey & Nes,
1982), tức là người tiêu dùng có thể hình thành nên những ấn tượng chung của các
quốc gia hoặc có những niềm tin về một quốc gia dựa trên kinh nghiệm sản phẩm


9

trực tiếp hoặc gián tiếp. Những ấn tượng hoặc niềm tin về một quốc gia lần lượt trở
thành những tín hiệu quyết định cung cấp thông tin cho người tiêu dùng để từ đó tạo
thành niềm tin về các thuộc tính sản phẩm (Steenkamp, 1990). Ví dụ, người tiêu
dùng có thể tin rằng ở các nước phát triển có nhiều lao động trình độ cao, cùng với
hệ thống kiểm soát chất lượng nghiêm ngặt. Do đó, các sản phẩm được sản xuất tại
các quốc gia này có xu hướng được xem là có phẩm chất cao hơn và được đánh giá
tốt hơn (Schooler, 1971).
Nhìn chung, những tài liệu liên quan đến khái niệm này có xu hướng giải thích
tác động của nguồn gốc sản phẩm trong hành vi nghiên cứu và lựa chọn của người
tiêu dùng bằng cách nhấn mạnh quá trình xử lý thông tin của họ. Nghĩa là người
tiêu dùng đánh giá chất lượng sản phẩm, dịch vụ dựa trên các tín hiệu hoặc thông
tin khác nhau mà sau đó được sử dụng như khả năng tiếp cận và phán đoán của họ
(Jo et al., 2003; Samiee và cộng sự, 2005). Các cá nhân xử lý thông tin về các sản
phẩm dựa trên các tín hiệu bên trong (chẳng hạn như thiết kế sản phẩm, hiệu suất)
và các tín hiệu bên ngoài (giá cả, thương hiệu, nguồn gốc quốc gia/khu vực của sản
phẩm). Tín hiệu bên ngoài trở nên ngày càng quan trọng khi các thông tin bên trong
không có sẵn hoặc khi các thuộc tính nội tại rất khó đánh giá vì sự phức tạp của sản
phẩm hoặc khách hàng không quen thuộc đối với chủng loại sản phẩm (Han và

Terpstra, 1988; Insch and McBride, 2004). Do đó, thông tin về nguồn gốc xuất xứ
sản phẩm đại diện cho một tín hiệu bên ngoài truyền đạt chất lượng và giá trị cho
người tiêu dùng, và ảnh hưởng đến thái độ cũng như ý định và hành vi của người
tiêu dùng.
Ngoài ra, người tiêu dùng có thể trực tiếp tích lũy kinh nghiệm tích cực đối
với một vài sản phẩm từ quốc gia nào đó, để rồi dần dần nâng cấp lên thành ấn
tượng chung về đất nước đó. Chẳng hạn, người tiêu dùng đánh giá cao chất lượng
xe hơi, xe máy hoặc đồ điện tử của Nhật Bản và rồi nâng lên thành ấn tượng tốt về
Nhật Bản, dẫn đến việc đánh giá tốt cho các sản phẩm được sản xuất tại nước này.
Những kinh nghiệm trong quá khứ mang đến cho người tiêu dùng ấn tượng rằng họ
có thể trông cậy vào quốc gia xuất xứ sản phẩm như một sự đảm bảo. Ví dụ, người


10

ta coi Đức là quốc gia sản xuất các sản phẩm có chất lượng cao, vì vậy ngay cả khi
họ không quen thuộc với một thương hiệu cụ thể, họ sẽ liên kết các khía cạnh quen
thuộc của đất nước với sản phẩm, cho biết nó là tiêu chuẩn giống như những gì họ
biết từ những hành động trước đây.
Thông tin quốc gia xuất xứ có nhiều khía cạnh riêng biệt. Quốc gia xuất xứ
của thương hiệu (country of brand – COB) và quốc gia sản xuất (country of
manufacture – COM) hiện nay được công nhận là những khái niệm khác biệt (Tse
& Gorn, 1992; Okechuku, 1994). Gần đây, quốc gia xuất xứ của thiết kế (country of
design – COD) đã được thiết lập như là một khái niệm riêng (Chao, 1993; Chao,
1998).
Quốc gia xuất xứ của các loại hình dịch vụ được cho là bao gồm COB và
COD. Trong lĩnh vực dịch vụ không có một quốc gia sản xuất riêng biệt, vì hầu hết
chúng được "sản xuất" tại địa điểm mà chúng được chuyển giao. Tuy nhiên, dịch vụ
có "nhà sản xuất", nghĩa là nhà cung cấp dịch vụ hoặc người mà khách hàng tương
tác trong quá trình cung cấp dịch vụ. Do đó, quốc tịch của đại diện dịch vụ (đại diện

bán hàng) có thể sẽ đóng một vai trò trong nhận thức của quốc gia xuất xứ.
Tác động của hiệu ứng quốc gia xuất xứ có thể thay đổi theo sản phẩm, dịch
vụ. Một quốc gia có thể được xem là tốt ở một số sản phẩm này, nhưng lại kém đối
với một số sản phẩm khác.
Hiện nay, lĩnh vực kinh doanh dịch vụ đang phải đối mặt với sự thay đổi và
toàn cầu hóa một cách nhanh chóng. Việc nghiên cứu hiệu ứng quốc gia xuất xứ có
ý nghĩa ngày càng tăng trong ngành dịch vụ, trong khi số lượng đề tài tập trung cho
lĩnh vực này lại khá hạn chế. Do đó, việc xem xét vai trò của quốc gia xuất xứ trong
lĩnh vực dịch vụ, mà cụ thể là kinh doanh bán lẻ là việc làm cần thiết.
Khái niệm hiệu ứng quốc gia xuất xứ trong nghiên cứu này được hiểu như
niềm tin, ấn tượng chung mà một người có được về một quốc gia cụ thể và ảnh
hưởng đến thái độ, ý định, hành vi của họ đối với sản phẩm, dịch vụ thuộc đất nước
đó. Quốc gia xuất xứ có ý nghĩa biểu tượng và cảm xúc đối với tiêu dùng, và nó


11

đóng một vai trò quan trọng cùng với các thuộc tính khác như chất lượng và độ tin
cậy trong việc định hình thái độ của người tiêu dùng đối với sản phẩm.
2.1.3. Giá trị cảm nhận
Theo Philip Kotler (2012, trang 16-17), "giá trị được cảm nhận bởi khách hàng
là sự đánh giá của khách hàng về sự khác biệt giữa tất cả các lợi ích và tất cả chi phí
của đề xuất thị trường trong sự đối sánh với những lợi ích và chi phí trong đề xuất
của các đối thủ". Quan trọng hơn, khách hàng thường không đánh giá giá trị và chi
phí một cách thực tế hay khách quan. Họ hành động dựa trên giá trị được khách
hàng cảm nhận.
Aaker (1991) định nghĩa, chất lượng cảm nhận là cảm nhận của khách hàng về
chất lượng hay tính vượt trội tổng thể của sản phẩm trong mối quan hệ so sánh với
các phương án cạnh tranh khác.
Còn theo Zeithaml (1988), “giá trị cảm nhận là sự đánh giá tổng thể của người

tiêu dùng về tiện ích của một sản phẩm hay dịch vụ dựa vào nhận thức của họ về
những gì nhận được và những gì phải bỏ ra”. Ông đánh giá giá trị cảm nhận như
một sự so sánh giữa hai thành phần “nhận được” và “bỏ ra” của sản phẩm, dịch vụ.
Một số người tiêu dùng cảm nhận được giá trị khi có một mức giá thấp, những
người khác cảm nhận được giá trị khi có một sự cân bằng giữa chất lượng và giá cả.
Như vậy những người tiêu dùng khác nhau, các thành phần của giá trị cảm nhận có
thể là khác biệt.
Theo Woodruff (1997, trang 142), “giá trị cảm nhận của khách hàng là sự yêu
thích, cảm nhận và đánh giá của khách hàng về các đặc tính của sản phẩm, sự thể
hiện của đặc tính và những kết quả đạt được (hoặc hậu quả phát sinh) từ việc sử
dụng đó tạo điều kiện thuận lợi đạt được mục tiêu và mục đích của khách hàng
trong các trường hợp sử dụng”. Khái niệm này kết hợp chặt chẽ giá trị mong muốn
và giá trị nhận được và nhấn mạnh rằng giá trị xuất phát từ nhận thức, sự ưa thích
và đánh giá của khách hàng. Nó cũng liên kết sản phẩm với các trường hợp sử dụng
và hiệu quả đạt được qua quá trình sử dụng bởi các khách hàng.


12

Có rất nhiều khái niệm giá trị cảm nhận của khách hàng khác nhau. Giá trị
cảm nhận luôn thay đổi, nó khác nhau giữa các khách hàng, văn hóa và thời gian
(Sanchez et al, 2006). Tuy vậy, các khái niệm đều có điểm chung khi nói về giá trị
cảm nhận của khách hàng là sự so sánh giữa những gì khách hàng nhận được (lợi
ích) và những gì họ bỏ ra (sự hy sinh) để có được sản phẩm hay dịch vụ. Sự hy sinh
ở đây không chỉ là giá cả mang tính tiền tệ mà còn bao gồm cả những chi phí cơ hội
không mang tính tiền tệ được gọi là giá cả hành vi, đó là thời gian, nỗ lực bỏ ra để
có được dịch vụ.
Cho đến nay vẫn không có định nghĩa phổ quát cho khái niệm giá trị cảm
nhận, định nghĩa có lẽ được sử dụng phổ biến nhất là của Zeithaml (1988). Tuy
nhiên, một số nhà nghiên cứu (Sweeney & Soutar 2001, Sánchez & Iniesta 2007) đã

lập luận rằng chất lượng và chi phí chỉ là không đủ để giải thích các khía cạnh khác
nhau của giá trị được khách hàng cảm nhận. Sánchez và Iniesta (2007) đã xem xét
các lý thuyết, định nghĩa khác nhau về giá trị của khách hàng, và tìm ra hai luồng
nghiên cứu chính, đó là tiếp cận giá trị cảm nhận theo phương pháp đơn hướng và
đa hướng.
Phương pháp tiếp cận đơn hướng, vốn được áp dụng rộng rãi trong lĩnh vực
marketing và cũng được ủng hộ bởi Zeithaml (1988), coi giá trị như một sự cân
bằng giữa lợi ích (chất lượng) và sự hy sinh (giá cả). Đối với cách tiếp cận xem giá
trị cảm nhận như một cấu trúc đa chiều, những người ủng hộ phương pháp này cho
rằng cách tiếp cận một chiều đơn giản hóa thế giới quá nhiều và bỏ qua những ảnh
hưởng của các yếu tố đạo đức và cảm xúc.
Các nghiên cứu đã được thực hiện tại Việt Nam liên quan đến giá trị cảm nhận
của người tiêu dùng hầu hết đều tập trung xem xét đối với các sản phẩm hữu hình.
Đối với loại hình dịch vụ bán lẻ siêu thị gần như chưa được xem xét một cách chi
tiết. Trong bối cảnh phải cạnh tranh với các đại gia bán lẻ quốc tế, các nhà bán lẻ
nội địa rất cần những nghiên cứu liên quan đến giá trị cảm nhận của người tiêu dùng
trong lĩnh vực này, đặc biệt là xem xét yếu tố trong mối quan hệ tác động qua lại


13

với các yếu tố quan trọng khác (như tính vị chủng tiêu dùng, hình ảnh của quốc gia
xuất xứ thương hiệu bán lẻ).
2.1.4. Ý định mua hàng
Ý định mua hàng luôn được xem là một biến số quan trọng và được sử dụng
rộng rãi trong lĩnh vực marketing, vì nó là một dấu hiệu tốt cho hành vi mua thực
sự, là một chỉ số ước lượng thái độ tiêu dùng của khách hàng.
Thuyết hành vi dự định (Ajzen, 1991) giả định rằng một hành vi có thể được
dự báo hoặc giải thích bởi các xu hướng hành vi để thực hiện hành vi đó. Theo
Ajzen (1991, tr.181) ý định được xem là "bao gồm các yếu tố động cơ có ảnh hưởng

đến hành vi của mỗi cá nhân; các yếu tố này cho thấy mức độ sẵn sàng hoặc nỗ lực
mà mỗi cá nhân sẽ bỏ ra để thực hiện hành vi". Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định là
(1) thái độ cá nhân, (2) chuẩn chủ quan và (3) kiểm soát hành vi cảm nhận. Trong
đó:
- Thái độ (attitudes) là những đánh giá tích cực hay tiêu cực về hành vi thực
hiện, thái độ có thể giải thích cho hành động, là cơ sở phức tạp hình thành
nên niềm tin, cảm xúc của người mua về sản phẩm, dịch vụ và khuynh
hướng hành động đối với sản phẩm, dịch vụ đó.
- Chuẩn chủ quan (subjective norm) được xem như những ảnh hưởng của
môi trường xã hội về việc thực hiện hay không thực hiện hành vi.
- Kiểm soát hành vi cảm nhận (perceived behavioral control) phản ánh mức
độ khó khăn hay dễ dàng để thực hiện hành vi, điều này phụ thuộc vào sự
sẵn có của các nguồn lực và các sơ hội để thực hiện hành vi.
Ý định mua hàng là cơ hội quyết định mua một món hàng hay đi mua sắm tại
một cửa hàng cụ thể. Quyết định này cũng có thể xuất phát từ nhận thức về giá trị
và lợi ích của những người không phải là khách hàng.
Trong nghiên cứu này, khái niệm ý định mua sắm tại siêu thị nội được hiểu là
ý chí và khả năng của một cá nhân trong việc dành sự ưa thích của mình cho siêu thị
trong nước hơn là siêu thị của nước ngoài khi cân nhắc lựa chọn nơi mua sắm. Nói


14

cách khác, nó biểu thị cho mức độ sẵn lòng của người tiêu dùng trong việc đi mua
sắm tại các siêu thị trong nước, và được đề cập trong cả dự định mua (purchase
intention) cũng như dự định mua lại (repurchase intentions).
2.2. Mô hình nghiên cứu và các giả thuyết
2.2.1. Mối quan hệ giữa tính vị chủng tiêu dùng, ý định mua sắm tại siêu thị nội
và giá trị cảm nhận đối với siêu thị ngoại
Shimp và Sharma (1987) cho rằng tính vị chủng tiêu dùng là nguyên nhân giải

thích tại sao khách hàng thích và có xu hướng ủng hộ sản phẩm, dịch vụ nội địa hơn
ngoại nhập.
Nhiều nghiên cứu cho thấy tính vị chủng có tác động tiêu cực đến sự sẵn lòng
mua hàng ngoại nhập của người tiêu dùng, hay nói cách khác tác động tích cực đến
sự sẵn lòng mua hàng nội, chỉ khác nhau ở từng mức độ mạnh hay nhẹ (Spillan,
2008).
Trong một nghiên cứu của Renko (2012) tại Croatia, một quốc gia đang phát
triển cũng chứng minh rằng những người tiêu dùng có tính vị chủng tiêu dùng thích
các sản phẩm trong nước hơn, đồng thời tránh mua các sản phẩm từ các nước ngoài.
Tương tự, Wu và các cộng sự (2010) đã chỉ ra rằng người tiêu dùng Trung
Quốc bị ảnh hưởng sâu sắc bởi yếu tố truyền thống. Khi họ chọn sản phẩm giữa các
sản phẩm trong nước và nước ngoài, người tiêu dùng có tính vị chủng cao hơn
thường lựa chọn sản phẩm trong nước dựa trên tình cảm mà không nhất thiết phải
xem xét sản phẩm một cách cẩn thận. Đồng thời họ cũng khẳng định tính vị chủng
tiêu dùng tác động đến ý định mua hàng nội theo hai hướng vừa trực tiếp và vừa
gián tiếp. Trong đó chủ yếu tác động theo hướng trực tiếp, còn lại một phần nhỏ
gián tiếp thông qua hiệu ứng trung gian đối với thái độ dành cho sản phẩm. Từ
những phân tích trên, các giả thuyết H1a, H1b được đề xuất như sau:


15

H1a: Có mối quan hệ dương giữa tính vị chủng tiêu dùng và ý định mua sắm
tại siêu thị nội, hay người tiêu dùng càng có tính vị chủng tiêu dùng cao càng
sẵn lòng đi mua sắm tại các siêu thị nội.
H1b: Có mối quan hệ âm giữa tính vị chủng tiêu dùng và giá trị cảm nhận đối
với siêu thị ngoại, hay người có tính vị chủng càng cao càng đánh giá thấp giá
trị của siêu thị ngoại.
2.2.2. Mối quan hệ giữa quốc gia xuất xứ và giá trị cảm nhận đối với siêu thị
ngoại

Thông tin quốc gia xuất xứ có thể ảnh hưởng đến nhận thức của khách hàng về
chất lượng, hiệu suất, thiết kế, thẩm mỹ, uy tín, giá cả của sản phẩm cũng như đánh
giá sản phẩm của người tiêu dùng và quyết định mua hàng. Hiệu ứng quốc gia xuất
xứ được hiểu là một loại hiệu ứng hào quang khi người tiêu dùng dựa vào những ấn
tượng chung của họ về một quốc gia tạo thành một số niềm tin về các thuộc tính
hoặc hiệu suất của sản phẩm.
Những ấn tượng hoặc niềm tin về một quốc gia lần lượt trở thành những tín
hiệu quyết định cung cấp thông tin cho người tiêu dùng để từ đó tạo thành niềm tin
về các thuộc tính sản phẩm (Steenkamp, 1990). Ví dụ, người tiêu dùng có thể tin
rằng ở các nước phát triển có nhiều lao động trình độ cao, cùng với hệ thống kiểm
soát chất lượng nghiêm ngặt. Do đó, các sản phẩm được sản xuất tại các quốc gia
này có xu hướng được xem là có phẩm chất cao hơn và được đánh giá tốt hơn
(Schooler, 1971).
Trong một nghiên cứu thực nghiệm tại Ấn Độ, Bandyopadhyay (2014) cũng
đưa ra khẳng định rằng, việc đánh giá về sản phẩm của người tiêu dùng Ấn Độ bị
ảnh hưởng tích cực bởi nhận thức của họ về quốc gia xuất xứ của sản phẩm đó.
Tương tự, nghiên cứu của Kabadayi và Lerman (2011) tại Mỹ về sản phẩm đồ
chơi có dãn nhãn "Made in China" cũng chứng minh giữa hiệu ứng quốc gia xuất xứ
và đánh giá sản phẩm có mối quan hệ đống biến với nhau. Từ phân tích trên, giả
thuyết H2 được phát biểu như sau:


16

H2: Có mối quan hệ dương giữa hiệu ứng quốc gia xuất xứ và giá trị cảm nhận
đối với siêu thị ngoại, hay người tiêu dùng càng đánh giá cao quốc gia xuất
xứ của siêu thị ngoại thì có giá trị cảm nhận đối với siêu thị ngoại càng cao.
2.2.3. Mối quan hệ giữa giá trị cảm nhận đối với siêu thị ngoại và ý định mua
sắm tại siêu thị nội
Trong nghiên cứu các yếu tố tác động vào xu hướng tiêu dùng hàng nội,

Nguyễn Đình Thọ (2004) đã chỉ ra có mối quan hệ nghịch chiều giữa yếu tố đánh
giá giá trị hàng ngoại nhập và xu hướng tiêu dùng hàng nội. Vì vậy, giả thuyết H3
được phát biểu như sau:
H3: Có mối quan hệ âm giữa giá trị cảm nhận đối với siêu thị ngoại và ý định
mua sắm tại siêu thị nội, hay người có giá trị cảm nhận đối với siêu thị ngoại
càng cao thì càng giảm ý định mua sắm tại siêu thị nội.
Từ những phân tích trên, mô hình nghiên cứu đề xuất được minh họa ở hình
2.1 dưới đây.

Hin
̀ h 2.1: Mô hình nghiên cứu đề xuất các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua sắm
tại siêu thị nội
Nguồn: Đề xuất của tác giả


×