Tải bản đầy đủ (.pdf) (96 trang)

Tương quan giữa các dấu hiệu tổn thương sức khoẻ tâm thần với nhận thức về sức khoẻ tâm thần của sinh viên tại hà nội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.45 MB, 96 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

LÊ THỊ THU HƯƠNG

TƯƠNG QUAN GIỮA CÁC DẤU HIỆU
TỔN THƯƠNG SỨC KHOẺ TÂM THẦN VỚI NHẬN THỨC VỀ
SỨC KHOẺ TÂM THẦN CỦA SINH VIÊN TẠI HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC TÂM LÝ HỌC

HÀ NỘI - 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

LÊ THỊ THU HƯƠNG

TƯƠNG QUAN GIỮA CÁC DẤU HIỆU
TỔN THƯƠNG SỨC KHOẺ TÂM THẦN VỚI NHẬN THỨC VỀ
SỨC KHOẺ TÂM THẦN CỦA SINH VIÊN TẠI HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

CHUYÊN NGÀNH: Tâm lý học lâm sàng trẻ em và vị thành niên
Mã số: Thí điểm

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Bahr Weiss
PGS.TS Đặng Hoàng Minh


HÀ NỘI - 2017



 

LỜI CẢM ƠN
Sau quá trình học tập tại trường Đại học Giáo dục Hà Nội, chương
trình Tâm lý học lâm sàng trẻ em và vị thành niên và suốt thời gian hoàn
thành luận văn nghiên cứu với đề tài Tương quan giữa các dấu hiệu tổn
thương sức khoẻ tâm thần và nhận thức về sức khoẻ tâm thần của sinh viên tại
Hà Nội, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu, nhiệt tình của các
thầy cô, các anh chị và các bạn. Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin bày tỏ lòng
cảm ơn chân thành tới ban giám hiệu, các thầy, cô giảng viên, cán bộ các
phòng, ban chức năng trường Đại học Giáo dục đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi
trong quá trình học tập cũng như hoàn thành bài luận văn này.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Đặng Hoàng
Minh, người đã trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo cũng như khuyến khích tôi
trong quá trình làm luận văn. Cô đã luôn dành thời gian quý báu hướng dẫn,
chỉ bảo và tạo điều kiện cũng như đưa ra những hướng dẫn hữu ích cho tôi
trong quá hoàn thiện luận văn.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến các bạn sinh viên của 5 trường
Đại học đã tham gia hỗ trợ cho tôi trong thời gian nghiên cứu, trường Đại học
Khoa học xã hội và nhân văn, trường Đại học Kiến trúc, trường Đại học Y tế
công cộng, trường Đại học Lao động xã hội và trường Đại học Kinh tế quốc
dân. Nếu không có sự tham gia của các bạn trong nghiên cứu có lẽ tôi đã
không thể hoàn thành luận văn này.
Luận văn này là một bước ngoặt đánh dấu sự cố gắng nghiêm túc của
tôi trong quá trình học tập, đánh dấu bước chuyển tiếp trên con đường học
vấn của tôi, do đó sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi chân thành mong

nhận được những ý kiến đóng góp, bổ sung của quý thầy cô và bạn bè.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 24 tháng 11 năm 2017


 

i



 

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

 

CIDI

Bộ câu hỏi phỏng vấn chẩn đoán quốc tế tổng hợp

CI

Khoảng tin cậy

Cs

Cộng sự

ĐH


Đại học

MHLS

Thang đo về hiểu biết sức khỏe tâm thần

OR

Odds Ratio

PTSD

Rối loạn căng thẳng sau sang chấn

RL

Rối loạn

RLTT

Rối loạn tâm thần

SAVY

Cuộc đánh giá khảo sát thanh niên Việt Nam

SKTT

Sức khoẻ tâm thần


THCS

Trung học cơ sở

THPT

Trung học phổ thông

WHO

Tổ chức y tế thế giới


 

ii



 

MỤC LỤC

 
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................. i
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT ............................... ii
MỤC LỤC ...................................................................................................... iii
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH MINH HOẠ..................................... v
MỞ ĐẦU ......................................................................................................... 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU ........................................ 8
1.1. Tổng quan một số nghiên cứu .................................................................... 8
1.1.1. Các nghiên cứu liên quan tới nhận thức về SKTT ................................ 8
1.1.2. Những nghiên liên quan tới tình trạng tổn thương SKTT................... 15
1.1.3. Nghiên cứu tương quan giữa dấu hiệu tổn thương SKTT với nhận thức
về SKTT ......................................................................................................... 22
1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài............................................................... 23
1.2.1. Khái niệm sức khoẻ tâm thần.............................................................. 23
1.2.2. Dấu hiệu tổn thương sức khoẻ tâm thần ............................................. 25
1.2.3. Khái niệm nhận thức về sức khoẻ tâm thần ........................................ 27
1.2.4. Sinh viên ............................................................................................. 30
CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............. 33
2.1. Quy trình nghiên cứu ............................................................................... 33
2.2. Xác định mẫu nghiên cứu ........................................................................ 34
2.3. Công cụ nghiên cứu ................................................................................. 36
2.3.1. Công cụ đo lường nhận thức về SKTT ............................................... 37
2.3.2. Công cụ đo lường tình trạng SKTT .................................................... 41
2.4. Chiến lược xử lý số liệu ........................................................................... 42
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ................................................... 45
3.1. Thực trạng sức khoẻ tâm thần của sinh viên ............................................ 45
3.2. Nhận thức của sinh viên về sức khoẻ tâm thần ........................................ 50
3.1.1. Hiểu biết về sức khoẻ tâm thần ........................................................... 50


 

iii




 

3.1.2. Niềm tin về mức độ hữu ích của các hình thức can thiệp trị liệu ....... 59
3.1.3. Tương quan giữa hiểu biết về SKTT với niềm tìn về mức độ hữu ích
của các hình thức can thiệp trị liệu ................................................................. 65
3.3. Tương quan giữa nhận thức và tình trạng SKTT của sinh viên ............... 67
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ .............................................................. 70
1. Kết luận ..................................................................................................... 70
2. Khuyến nghị.............................................................................................. 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................... 74
PHỤ LỤC ..................................................................................................... 78


 

iv



 

DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH MINH HOẠ

 

Bảng 1. 1. Tỉ lệ các vấn đề sức khoẻ tâm thần trên thế giới ........................... 15
Bảng 2. 1 Phân bố mẫu tham gia nghiên cứu theo các trường Đại học

36


Bảng 2. 2 Độ tin cậy của các item niềm tin về các hình thức trị liệu

40

Bảng 3. 1. Tình trạng SKTT của sinh viên

45

Bảng 3. 2 Các vấn đề liên quan tới cảm xúc ở sinh viên

46

Bảng 3. 3 Các vấn đề liên quan tới hành vi ở sinh viên

47

Bảng 3. 4 Các vấn đề liên quan tới bạn bè

48

Bảng 3. 5 Các vấn đề liên quan tới xã hội tích cực

49

Bảng 3. 6 Các vấn đề liên quan tới tăng động

50

Bảng 3. 7 Nhận thức về SKTT của sinh viên


51

Bảng 3. 8 Mức độ nhận biết chung các rối loạn tâm thần

51

Bảng 3. 9 Mức độ nhận biết từng rối loạn tâm thần cụ thể

52

Bảng 3. 10 Mức độ tự tin với việc tìm kiếm thông tin bệnh tâm thần

53

Bảng 3. 11 Mức độ tự tin với việc tiếp cận các nguồn thông tin cụ thể

54

Bảng 3. 12 Mức độ đồng ý đối với các nhận định về bệnh tâm thần

55

Bảng 3. 13 Mức độ sẵn sàng trong các tình huống giao tiếp với người bệnh
tâm thần

57

Bảng 3. 14 Mức độ sẵn sàng trong các tình huống giao tiếp cụ thể với người
bệnh tâm thần


57

Bảng 3. 15. Mức độ tương quan giữa các nhóm yếu tố nhận thức về SKTT 59
Bảng 3. 16. Mức độ hữu ích của hình thức trị liệu lối sống

61

Bảng 3. 17. Mức độ hữu ích của các hình thức trị liệu tâm lý

62

Bảng 3. 18. Mức độ hữu ích của hình thức can thiệp trị liệu sử dụng thuốc 63
Bảng 3. 19. Mức độ hữu ích với các nguồn thông tin về trị liệu

64

Bảng 3. 20. Tương quan giữa nhận thức về SKTT

65

Bảng 3. 21. Tương quan giữa các tiểu thang đo hiểu biết về SKTT

67

Bảng 3. 22. Tương quan giữa nhận thức, niềm tin

67


 


v



 

Bảng 3. 23. Tương quan giữa tình trạng SKTT

68

Bảng 3. 24. Tương quan giữa tình trạng SKTT

69

Hình 3. 1 Mức độ hữu ích của các hình thức can thiệp trị liệu

60


 

vi



 

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài

Các vấn đề liên quan tới sức khoẻ tâm thần (SKTT) ở trẻ em, vị thành niên
và thanh niên đang có chiều hướng gia tăng. Ở Hoa Kỳ, các vấn đề SKTT ở trẻ
em và thanh niên khá phổ biến. Theo báo cáo vào ngày 16 tháng 5 năm 2013
của Trung tâm Kiểm Soát và phòng ngừa bệnh Hoa Kỳ (CDC) với các kết quả
thu thập từ các nghiên cứu từ năm 2005 - 2013, ước tính có 13 – 20% trẻ em
sống tại Hoa Kỳ trải qua rối loạn tâm thần trong một năm nhất định nghĩa là cứ
5 trẻ em thì có 1 trẻ có vấn đề liên quan tới SKTT [37]. Cũng theo CDC, tự tử
có thể là kết quả của sự tương tác giữa rối loạn tâm thần (RLTT) và các yếu tố
khác, là nguyên nhân thứ hai gây tử vong ở thanh thiếu niên tuổi từ 12 đến 17
trong năm 2010. Tại Việt Nam, trong báo cáo về SKTT của thanh niên và vị
thành niên dựa trên kết quả điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên
Việt Nam (SAVY) 2009 tác giả Nguyễn Thanh Hương đã chỉ ra trong hơn
10,000 thanh thiếu niên thì có 73,1% có trải nghiệm buồn chán và vô ích tới
mức không thể làm việc hay học tập bình thường. Tỷ lệ thanh thiếu niên đã
cảm thấy hoàn toàn vô vọng về tương lai là 21,3% và 4,1% đã nghĩ đến việc tự
sát. So sánh với số liệu của cuộc điều tra 5 năm trước đó thì tỷ lệ thanh thiếu
niên trải qua cảm giác buồn chán đã tăng lên. Đặc biệt, tỷ lệ thanh thiếu niên
nghĩ đến chuyện tự tử tăng lên khoảng 30% [23].
Các vấn đề SKTT ở thanh thiếu niên, nếu không được chăm sóc và chữa
trị phù hợp luôn dẫn tới các hậu quả tiêu cực trong tương lai. Khoảng 70%75% các vấn đề SKTT ở người lớn và các rối loạn tâm thần bắt đầu biểu hiện
trong thời thanh thiếu niên hoặc ở tuổi trưởng thành sớm (12-25). Trên toàn thế
giới, các rối loạn tâm thần chiếm khoảng 1/3 gánh nặng bệnh tật ở thanh thiếu
niên. Cuộc Điều tra Quốc gia Úc năm 2007 về Sức khoẻ Tâm thần và Tình
trạng Sức khoẻ Tâm thần ước tính rằng các rối loạn về tâm thần hoặc sử dụng
chất gây nghiện ảnh hưởng đến một trong bốn người trong độ tuổi từ 16 đến 24
trong khoảng thời gian 12 tháng. Do đó, độ tuổi mà khoảng 50% thanh thiếu


 


1



 

niên đang học đại học cũng là thời điểm bắt đầu xuất hiện đỉnh điểm đối với
các vấn đề về sức khoẻ tâm thần, với rối loạn tâm thần và sử dụng chất gây
nghiện xảy ra lần đầu tiên trước 24 tuổi ở 75% trường hợp [25]. Mặc dù nhiều
sinh viên thích ứng và đối phó tốt với quá trình chuyển đổi sang giáo dục đại
học, nhưng đối với những người khác, nó không dễ dàng, hầu hết là do các nhu
cầu cạnh tranh về công việc, học tập và gia đình. Một nghiên cứu của Úc năm
2010 về mức độ đau khổ của 955 sinh viên đại học cho thấy rằng 48% bị căng
thẳng về tâm lý. Gần 11% đã được điều trị cho một vấn đề về sức khoẻ tâm
thần. Các vấn đề về sức khoẻ tâm thần đã ảnh hưởng đến hiệu suất của kỳ thi
và tỷ lệ học sinh bỏ học đại học, với khoảng 86% những người bị rối loạn tâm
thần rút khỏi trường đại học trước khi hoàn thành. Stallman nhận thấy rằng,
các sinh viên Úc có mức độ đau khổ rất cao, trung bình không thể làm việc
hoặc học tập trong 8 ngày trong vòng 4 tuần trước đó và đã có 9 ngày giảm khả
năng làm việc [25]. Các tác động giáo dục như vậy có thể có hậu quả suốt đời,
đặc biệt nếu sinh viên không thể hoàn thành các môn học của mình. Không
những vậy, các tác động đó còn kéo theo các vấn đề tệ nạn xã hội cũng như các
gánh nặng cho xã hội. Giống như tất cả các bạn trẻ, sinh viên đại học cần có
kiến thức hành động để giải quyết các vấn đề về sức khoẻ tâm thần, cho dù đó
là tìm kiếm trợ giúp chuyên nghiệp hoặc các hành vi tự giúp mình thích hợp.
Một số biểu hiện rối loạn sức khoẻ tâm thần thường thấy ở sinh viên như
tình trạng thường xuyên nhức đầu do thiếu ngủ, lo lắng thái quá, không kiểm
soát được cảm xúc của bản thân nên dễ rơi vào tình trạng buồn bã, dễ kích
động, tâm trạng bất an, lo lắng khi gặp bất cứ vấn đề gì trong cuộc sống, tình
trạng căng thẳng kéo dài vì những áp lực từ việc học hành, bạn bè, gia đình,

v.v [2]. Nhưng trên thực tế, nhiều sinh viên khi có những biểu hiện này lại
không nghĩ rằng đó chính là những biểu hiện của rối loạn sức khoẻ tâm thần.
Chính nhận thức sai lầm đó đã khiến sinh viên không nhìn nhận đúng tình
trạng SKTT của bản thân và coi thường các biểu hiện của sự rối loạn SKTT.
Việc cho rằng những tổn thương về SKTT là dành cho những người bị trầm


 

2



 

cảm, bị điên… đã làm cho không ít sinh viên không tìm đến sự giúp đỡ chính
thức của các nhà tham vấn, trị liệu cũng như có cái nhìn “miệt thị” đối với
những người có những rối loạn về SKTT. Và khi họ tìm tới sự hỗ trợ từ các
nhà chuyên môn thì tình trạng SKTT đã quá nặng, có người có biểu hiện tự sát
[9]. Những thái độ như vậy sẽ góp phần vào việc cản trở sinh viên đi tìm
những hỗ trợ chuyên môn và gây những tác động tiêu cực khác lên tâm lý.
Việc có nhận thức về SKTT là yếu tố quan trọng để nâng cao tình trạng SKTT
ở cả cá nhân và cộng đồng. Bằng chứng cho thấy kiến thức SKTT và các
RLTT sẽ giúp cải thiện nhận thức, việc tìm kiếm sự trợ giúp, trị liệu cũng như
giảm kỳ thị đối với bệnh tâm thần [26].
Với mức độ quan trọng của nhận thức với tình trạng SKTT đã có một số
nghiên cứu trên thế giới về vấn đề này. Chẳng hạn, nghiên cứu của Jorm
(2000) cho thấy nhiều thành viên trong cộng đồng không thể nhận ra các rối
loạn cụ thể hoặc các loại rối loạn tâm lý khác nhau. Họ khác với các chuyên
gia về SKTT trong niềm tin của họ về các nguyên nhân của RLTT và phương

pháp điều trị hiệu quả nhất. Các thái độ cản trở việc thừa nhận và tìm kiếm sự
trợ giúp thích hợp là phổ biến. Phần lớn thông tin về SKTT dễ dàng có sẵn đối
với công chúng nhưng lại gây hiểu nhầm [19]. Một nghiên cứu tại Úc trên 774
sinh viên và 422 giảng viên về nhận thức SKTT, kết quả cho thấy có trên 70%
sinh viên và nhân viên có thể nhận xác định trầm cảm theo tình huống mô tả
(vignette) [24]. Nghiên cứu của nhóm tác giả Wright và cộng sự năm 2007
phát hiện ra rằng vị thành niên và thanh thiếu niên (từ 12 đến 25 tuổi) có thể
gắn nhãn một rối loạn được miêu tả [15]. Tại Việt Nam có ít nghiên cứu về
nhận thức của cộng đồng hay một nhóm người về SKTT hoặc một nhóm bệnh
cụ thể về SKTT. Nghiên cứu nhằm tìm hiểu nhận thức của giáo viên tiểu học
về SKTT ở trẻ em nói chung và học sinh nói riêng trên 235 giáo viên thuộc 5
khối lớp tại 11 trường tiểu học ở Hà Nội cho thấy nhận thức của giáo viên về
SKTT còn mang tính bề mặt, chưa phân biệt và hiểu rõ được các biểu hiện của
từng rối loạn cụ thể [7].


 

3



 

Do vậy, việc can thiệp nhằm nâng cao hiểu biết, nhận thức cộng đồng về
SKTT chính là góp phần vào nâng cao SKTT cho người dân, đặc biệt việc này
sẽ hiệu quả hơn khi chúng ta có sự can thiệp sớm. Hiện nay đã có một số can
thiệp về SKTT được thực hiện tại các trường trung học, nhưng các cơ sở giáo
dục đại học thường không nhận được sự quan tâm. Những nghiên cứu hiện có
về chăm sóc SKTT ở sinh viên có xu hướng tập trung vào những người tham

gia các khoá học về sức khoẻ như y học, điều dưỡng và tâm lý học. Rất ít
nghiên cứu đã đánh giá kiến thức về SKTT trong một phạm vi rộng lớn của
sinh viên [25]. Như vậy, dường như chưa có một sự đánh giá đầy đủ về hiểu
biết, nhận thức của sinh viên cũng như tình trạng SKTT của họ. Để tạo tiền đề
cho các chương trình nâng cao sức khoẻ cũng như góp phần vào việc cung cấp
thêm một góc nhìn về tình trạng SKTT ở sinh viên, chúng tôi tiến hành nghiên
cứu “Tương quan giữa các dấu hiệu tổn thương SKTT với nhận thức về
SKTT của sinh viên tại Hà Nội” nhằm tìm hiểu tình trạng SKTT và hiểu biết
của họ về vấn đề SKTT.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành nhằm mục đích chỉ ra thực trạng tổn thương
SKTT và nhận thức của sinh viên về SKTT. Đồng thời, xác định mối quan hệ
giữa tình trạng tổn thương SKTT và nhận thức về SKTT của sinh viên tại Hà
Nội. Từ đó đề xuất các kiến nghị giúp nâng cao SKTT và hiểu biết về SKTT ở
sinh viên.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Mối tương quan giữa tình trạng tổn thương SKTT và nhận thức của sinh
viên về SKTT của sinh viên tại Hà Nội.
3.2. Khách thể nghiên cứu
559 sinh viên đại học năm thứ 3 thuộc các nhóm ngành kinh tế, kỹ thuật, xã
hội và nhóm ngành khác trên địa bàn Hà Nội.
4. Giả thuyết khoa học


 

4




 

− Tỉ lệ sinh viên có vấn đề về SKTT khoảng từ 20% - 30%.
− Nhận thức của sinh về đối với các vấn đề liên quan tới SKTT không cao
điều này thể hiện ở việc sinh viên chưa nhận biết được một số rối loạn (RL)
cụ thể, cũng như thái độ của họ đối với bệnh tâm thần và niềm tin đối với
mức độ hữu ích của các phương pháp trị liệu.
− Có tương quan giữa nhận thức của sinh viên đối với SKTT với tình trạng
SKTT của họ. Theo đó, những sinh viên có tình trạng SKTT kém sẽ có
nhận thức tốt hơn đối với các vấn đề liên quan tới SKTT.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1.

Nhiệm vụ nghiên cứu lý luận

Hệ thống hoá cơ sở lý luận, các tài liệu liên quan về dấu hiệu tổn thương
SKTT và nhận thức về SKTT để làm cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu.
5.2.

Nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn

− Xây dựng bộ công cụ nghiên cứu để tìm hiểu thực trạng tổn thương
SKTT và nhận thức của sinh viên về SKTT.
− Tìm hiểu thực trạng tổn thương SKTT của sinh viên Hà Nội, đồng thời
tìm hiểu thực trạng nhận thức của họ về SKTT ở các khía cạnh: khả năng
nhận biết các rối loạn (RL) cụ thể; mức độ tự tin với việc tìm kiếm thông
tin về bệnh tâm thần; định kiến với bệnh tâm thần; thái độ tích cực với bệnh
tâm thần và niềm tin về mức độ hữu ích của các hình thức can thiệp trị liệu.
− Đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao nhận thức của sinh viên về SKTT

6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6.1. Về khách thể nghiên cứu chính
− Sinh viên đại học năm thứ 3 tại Hà Nội.
6.2. Về giới hạn nghiên cứu
− 559 sinh viên năm thứ 3 tại 5 trường Đại học (ĐH) thuộc các khối ngành
kinh tế, kỹ thuật, xã hội và nhóm ngành khác.
6.3. Về địa bàn nghiên cứu


 

5



 

− Dữ liệu được thu thập ở 5 trường đại học tại Hà Nội: ĐH Kinh tế quốc
dân (khối ngành kinh tế); ĐH Kiến trúc (khối ngành kỹ thuật), ĐH Khoa
học xã hội và nhân văn và ĐH Lao động xã hội (khối ngành xã hội); ĐH Y
tế công cộng (khối ngành khác).
6.4. Nguồn thông tin
− Sinh viên tự trả lời vào bộ công cụ được phát.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp này được sử dụng để hệ thống lại cơ sở lý thuyết, đồng thời
tìm hiểu các nghiên cứu đã có về SKTT, về tình trạng, nhận thức về SKTT của
sinh viên, thanh niên bằng việc tham khảo các công trình nghiên cứu, sách,
báo, tạp chí chuyên ngành, v.v.
Tìm hiểu các bộ công cụ nghiên cứu của các đề tài đi trước về nhận thức

SKTT, và tình trạng SKTT để học tập kinh nghiệm và phát triển bộ công cụ
phù hợp với văn hoá Việt Nam sử dụng cho đề tài.
7.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Các số liệu thống kê được sử dụng trong luận văn chủ yếu được tổng hợp
và phân tích từ bảng hỏi chuẩn hoá. Để đo lường nhận thức của sinh viên về
SKTT, đề tài sử dụng 2 thang đo: Thang đo về hiểu biết SKTT (MHLS)
(O'Connor & Casey, 2015) và thang đo niềm tin về mức độ hữu ích của các
phương pháp trị liệu (Anthony E. Jorm, 2005).
Đối với việc đánh giá tình trạng SKTT của đối tượng tham gia, chúng tôi
sử dụng thang đo điểm mạnh, điểm yếu (SDQ, Goodman, 1997) cho đối tượng
trên 18 tuổi.
7.3. Phương pháp xử lý thông tin
Áp dụng các nguyên thắc thống kê xã hội học, số liệu của đề tài được mã
hoá và xử lý bằng chương trình SPSS phiên bản 21.0. Trong giới hạn của đề
tài, chúng tôi chủ yếu sử dụng các phép thống kê mô tả với các giá trị điểm


 

6



 

trung bình, độ lệch chuẩn, tỉ lệ %, giá trị tương quan Pearson, phép kiểm định
so sánh trung bình hai mẫu độc lập (independent – t – test).
8. Đóng góp mới của luận văn
− Nghiên cứu này giúp bổ sung thêm nguồn tài liệu trong lĩnh vực SKTT,
cụ thể là thực trạng tổn thương SKTT và nhận thức về SKTT của sinh viên.

− Ngoài ra, nghiên cứu cũng sẽ cung cấp thêm các số liệu, kết quả thực tế
về tổn thương SKTT và nhận thức về SKTT của sinh viên.
− Kết quả nghiên cứu sẽ là tiền đề cho các chương trình nâng cao sức khoẻ
tâm thần cho thanh niên, đặc biệt là sinh viên tại các trường đại học.
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội
dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu: trình bày về công cụ
nghiên cứu, phương pháp lấy mẫu, mẫu nghiên cứu và cách thức phân tích số
liệu.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu: trình bày những kết quả nghên cứu đạt
được.


 

7



 

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan một số nghiên cứu
Trong cộng đồng khi nói tới các dấu hiệu tổn thương SKTT là người ta
nghĩ tới các biểu hiện qua “bên ngoài”, “hành vi”, hay “cảm xúc”. Các biểu
hiện này cũng được xem như là tiêu chí đánh giá một người nào đó có “khoẻ”
về mặt SKTT hay không. Do đó, các dấu hiệu tổn thương SKTT cũng được coi

như là tình trạng SKTT của con người. Việc nghiên cứu tình trạng SKTT hay
các vấn đề liên quan tới SKTT nhằm mục đích tìm hiểu thực trạng cũng như
các yếu tố ảnh hưởng để từ đó có được các biện pháp nhằm nâng cao SKTT
cho cộng đồng. Trên thế giới đã có khá nhiều các nghiên cứu về các RL tâm
thần cụ thể, nhưng về SKTT nói chung vẫn còn hạn chế. Tương tự vậy các
nghiên cứu về nhận thức của sinh viên đối với SKTT nói chung cũng chưa có
nhiều trong khi các nghiên cứu về nhận thức SKTT đối với từng bệnh riêng lẻ
lại khá phổ biến. Nhiều thành viên trong cộng đồng không thể nhận ra các rối
loạn cụ thể hoặc các loại rối loạn tâm lý khác nhau. Có sự khác biệt giữa các
chuyên gia SKTT với cộng đồng về niềm tin các nguyên nhân gây rối loạn tâm
thần và phương pháp điều trị hiệu quả nhất. Nếu như các chuyên gia dựa trên
cơ sở khoa học để tiến hành trị liệu thì cộng đồng lại có xu hướng trị liệu theo
kinh nghiệm và tin tưởng vào những gì đã có từ lâu đời. Thái độ là một trong
những yếu tố cản trở việc thừa nhận và tìm kiếm trợ giúp thích hợp là rất phổ
biến.
1.1.1.Các nghiên cứu liên quan tới nhận thức về SKTT
1.1.1.1. Những nghiên cứu liên quan tới nhận thức SKTT trên thế giới
Nhận thức về SKTT là một khái niệm đa chiều bao quát rộng rãi kiến
thức và niềm tin của cá nhân về sức khoẻ tâm thần giúp nhận biết, quản lý hoặc
phòng ngừa [19]. Nhận thức về SKTT cung cấp một cấu trúc hữu ích để hiểu
các yếu tố có thể ảnh hưởng đến SKTT của một cá nhân và hành vi tìm kiếm
giúp đỡ. Trên bình diện toàn cầu, tỷ lệ mắc bệnh tâm thần cao, có ảnh hưởng


 

8




 

lớn đến chất lượng cuộc sống của cá nhân và cộng đồng (Tổ chức Y tế thế giới,
2006, 2008). Tuy nhiên, so với sức khoẻ thể chất, người dân nói chung có kiến
thức hạn chế về các yếu tố ảnh hưởng đến sức khoẻ tâm thần, có thể ảnh hưởng
đến khả năng nhận ra các chứng rối loạn và tìm kiếm phương pháp điều trị
hiệu quả [22].
Nhiều người trong công đồng không thể nhận ra chính xác các RLTT và
không hiểu ý nghĩa của các thuật ngữ tâm thần. Ví dụ, trong một nghiên cứu
lấy mẫu đại diện là người dân Úc khi được hỏi về trầm cảm hoặc tâm thần
phân liệt, hầu hết đều nhận ra rằng có một số vấn đề về sức khoẻ tâm thần
nhưng gọi đúng tên của RL đối với trầm cảm là 39% và tâm thần phân liệt
27% [16]. Một nghiên cứu của Hoa Kỳ cho thấy cộng đồng có kiến thức về các
triệu chứng cảm xúc của trầm cảm, nhưng ít có kiến thức về những thay đổi về
thể chất [19].
Nghiên cứu của Lawrence T Lam về nhận thức SKTT và tình trạng
SKTT ở thanh niên tập trung vào trầm cảm, dựa trên một điều tra cắt ngang
dựa vào cộng đồng, với phương pháp lấy mẫu hai giai đoạn, tại thành phố Nam
Ninh, tỉnh Quảng Tây ở khu vực Tây Nam Trung Quốc vào tháng 10 năm
2013, trên đối tượng học sinh trung học từ 13-17 tuổi. Tổng cộng có 1678 sinh
viên tham gia khảo sát cung cấp các thông tin hữu ích. Kết quả nghiên cứu cho
thấy, chỉ có 275 (16,4%) người được hỏi được phân loại là có nhận thức về
SKTT tương ứng với nhận dạng trầm cảm đúng và cũng có ý định tìm kiếm sự
giúp đỡ, với 392 (23,4%) trong tổng số mẫu nhận diện được trầm cảm [21].
Trong một nghiên cứu trước đây của Jorm và cộng sự được thực hiện vào
năm 2005 cho thấy rằng gần một nửa số người trả lời không thể xác định trầm
cảm chính xác. Tuy nhiên, trong một nghiên cứu sau này trong năm 2011 tỷ lệ
nhận biết chính xác sự trầm cảm đã được tìm thấy là khoảng 75%. Kết quả
tương tự về nhận biết các triệu chứng trầm cảm cũng được tìm thấy trong một
nghiên cứu khác được thực hiện ở Úc gần đây. Có 70% số sinh viên trình độ

đại học đã nhận ra tình trạng trầm cảm. Trong so sánh, chỉ có 23,4% người


 

9



 

được hỏi lại trong nghiên cứu này đã xác định chính xác trầm cảm. Tỷ lệ nhận
dạng trầm cảm thấp có thể liên quan đến thực tế là các phản hồi trẻ hơn và có
thể có ít kinh nghiệm cá nhân về tâm trạng trầm cảm. Nó cũng có thể liên quan
đến khả năng thiếu giáo dục sức khoẻ tâm thần được thiết kế đặc biệt để nhắm
mục tiêu vào những người trẻ tuổi ở địa bàn địa lý mà cuộc khảo sát đã diễn ra.
Về những kết quả đạt được về mối quan hệ giữa hiểu biết về sức khoẻ sức
khoẻ tâm thần và trầm cảm ở trẻ vị thành niên, so sánh kết quả có thể gặp khó
khăn vì chưa có nghiên cứu nào tìm thấy trong tài liệu. Do đó, nghiên cứu này
có thể được coi là độc nhất và kết quả thu được chưa được báo cáo trước đây
[21].
Nghiên cứu được tiến hành trên nhóm nhân viên và sinh viên của Đại học
Victoria (VU) tại Melbourne, Úc. Trong số các cuộc phỏng vấn đã hoàn thành,
774 (65%) là sinh viên và 422 (35%) là giảng viên. Hơn 70% sinh viên và
nhân viên có thể nhận ra trầm cảm, với khả năng nhận biết tốt hơn liên quan tới
tuổi, giới tính, sinh ở Úc và trình độ học vấn cao hơn. Hơn 80% người được
hỏi cho biết họ sẽ tìm kiếm sự trợ giúp nếu họ gặp vấn đề tương tự như trong
tình huống đưa ra. Tuy nhiên, tỷ lệ các ý định tìm kiếm trợ giúp cụ thể cho sinh
viên tương đối thấp, chỉ có 26% lựa chọn bác sĩ đã khoa, 10% lựa chọn tư vấn
học đường. Các yếu tố liên quan đến thái độ kỳ thị bao gồm giới tính nam, tuổi

trẻ, trình độ học vấn thấp hơn, sinh ra bên ngoài nước Úc và thiếu nhận thức về
trầm cảm [24].
Điều tra quốc gia về nhận thức và kỳ thị về SKTT của Reavley và Jorm
năm 2011, là một cuộc khảo sát gồm hai cấu phần: một cuộc khảo sát trên toàn
cộng đồng những người từ 15 tuổi trở lên và một cuộc khảo sát thanh thiếu
niên những người từ 15 đến 25 tuổi. Điều tra cộng đồng nói chung bao gồm
các cuộc phỏng vấn qua điện thoại với sự hỗ trợ của máy tính trên 6019 người
và cuộc điều tra thanh niên đã tiến hành phỏng vấn tương tự với 3025 thanh
thiếu niên. Cuộc điều tra được thực hiện từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2011. Các
cuộc phỏng vấn dựa trên các tình huống được mô tả (vignette) của một người


 

10



 

bị rối loạn tâm thần. Trên cơ sở ngẫu nhiên, người trả lời trong cuộc khảo sát
cộng đồng đã được đọc một trong sáu trường hợp: trầm cảm, trầm cảm với ý
nghĩ tự tử, tâm thần phân liệt sớm, bệnh tâm thần phân liệt, ám ảnh xã hội và
rối loạn căng thẳng sau sang chấn (PTSD). Đối với cuộc khảo sát thanh niên,
các tình huống minh hoạ: trầm cảm, trầm cảm với suy nghĩ tự tử, trầm cảm với
lạm dụng chất gây nghiện, tâm thần / tâm thần phân liệt, ám ảnh xã hội và
PTSD. Sau khi được giới thiệu các tình huống, người trả lời đã được hỏi một
loạt các câu hỏi để đánh giá nhận thức của họ về rối loạn trong tình huống mô
tả, các ý định tìm kiếm trợ giúp, niềm tin về các can thiệp, niềm tin và ý định
về cấp cứu, niềm tin về nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ, niềm tin về các kết

quả, niềm tin về phòng ngừa, thái độ kỳ thị, tiếp xúc với rối loạn tâm thần, tâm
lý căng thẳng, nhận thức của các tổ chức liên quan đến sức khoẻ tâm thần, tiếp
xúc với phương tiện truyền thông và các đặc điểm xã hội. Kết quả cho thấy đối
với cả hai cuộc điều tra, khoảng 75% trong số những người được đưa ra tình
huống với trầm cảm đã có thể ghi nhãn bệnh này một cách chính xác. Khoảng
1/3 có thể dán nhãn cho các tình huống đối với bệnh tâm thần phân liệt và
PTSD. Trong cuộc điều tra cộng đồng nói chung, chỉ có 9% người được hỏi có
thể dán nhã chính xác cho tình huống về ám sợ xã hội, trong khi điều tra thanh
niên, chỉ có 3% có thể làm như vậy. Trong cuộc tổng điều tra cộng đồng, các
bác sĩ đa khoa thường được coi là nguồn giúp đỡ đối với trầm cảm và tâm thần
phân liệt tốt nhất, trong khi tham vấn thường được coi là hữu ích nhất cho
chứng rối loạn lo âu. Trong cuộc khảo sát thanh niên, đại đa số người trả lời
báo cáo rằng họ sẽ tìm kiếm sự giúp đỡ, với các triệu chứng trầm cảm với suy
nghĩ tự tử và PTSD. Các ý định tìm kiếm sự giúp đỡ từ các nguồn không chính
thức là phổ biến nhất. Việc quá xấu hổ hoặc nhút nhát là rào cản được thừa
nhận nhiều nhất để thúc đẩy người trẻ tìm kiếm sự trợ giúp [25].
Một cuộc khảo sát ở vùng nông thôn Maharashtra, Ấn Độ của Kermode,
Bowen và cs (2007) để tìm hiểu về nhu cầu được thăm khám SKTT của người
dân bằng việc sử dụng bảng hỏi “Đánh giá nhận thức về SKTT – Mental


 

11



 

Health Literacy assessment” trên 240 người dân và 60 nhân viên chăm sóc sức

khoẻ. Người tham gia phỏng vấn được giới thiệu hai trường hợp mô tả một số
triệu chứng của RLTT (trầm vảm, loạn thần) của một người gặp phải. Nhiệm
vụ của họ là cần phải gọi tên được vấn đề, nhận diện được cách điều trị và
những người có thể điều trị RL đó, và kết quả lâu dài cảu RL đó. Kết quả, hầu
hết người được hỏi nhận ra được các trường hợp có vấn đề SKTT. Việc điều trị
từ phía gia đình, bạn bè, môi trường xung quanh được xem là cách hỗ trợ phổ
biến nhất. Vai trò của nhân viên chăm sóc sức khoẻ và bác sĩ được đề cao,
nhưng bác sĩ tâm thần lại ít được đề cập tới. Khoảng 1/2 số khách thể có thể tự
giải quyết vấn đề của mình. Các liệu pháp tâm lý không được chú trọng [7].
1.1.1.2. Nghiên cứu liên quan tới nhận thức SKTT tại Việt Nam
Ở thời điểm diễn ra nghiên cứu, chúng tôi tìm thấy khá nhiều những
nghiên cứu ở Việt Nam về nhận thức, tuy nhiên những nghiên cứu này trên
những đối tượng ngoài sinh viên và thường là các nghiên cứu cho một bệnh cụ
thể, ví dụ như “Tương quan nhận thức về sức khoẻ tâm thần và hành vi tìm
kiếm sự trợ giúp vấn đề sức khoẻ tâm thần của học sinh trung học phổ thông”,
năm 2016 của Đặng Thị Thu Trang tại 2 trường Trung học phổ thông (THPT)
tại Hà Nội (THPT Nhân Chính và THPT FPT) và 2 trường THPT tại Hưng
Yên (THPT Yên Mỹ và THPT Hồng Bàng) với 390 người trả lời từ lớp 10 đến
lớp 12. Kết quả chỉ ra mức độ nhận thức của học sinh THPT về SKTT ở mức
trung bình (72.89%), học sinh có nhận thức thấp về SKTT 12.89% [15].
Nghiên cứu của Đặng Thị Thanh Tùng về “Mối quan hệ giữa nhận thức
của cha mẹ về biểu hiện và nguyên nhân tổn thương SKTT trẻ em với hành vi
ứng xử của họ”, năm 2015 trên 221 cha/ mẹ học sinh ở 4 trường tiểu học trên
địa bàn Hà Nội (trường tiểu học Kim Giang; trường tiểu học Định Công;
trường tiểu học dân lập Đoàn Thị Điểm và trường tiểu học dân lập Thăng Long
Kidsmart). Nghiên cứu chỉ ra phụ huynh học sinh có khả năng nhận diện các
bệnh tâm thần hay tổn thương SKTT nặng như tâm thần phân liệt (78,6%); tự
kỷ (70,9%); chậm phát triển tâm thần (62,7%); động kinh (60%) hay một số



 

12



 

các bệnh được truyền thông đề cập đến nhiều hiện nay như trầm cảm (69,1%)
và tăng động giảm chú ý (55%). Song, có tới 70% bố mẹ không nhận diện
được các bấn đề như chống đối xã hội, nghiện game, stress, lo lắng hay lạm
dụng chất v.v [16].
Nghiên cứu năm 2015 của Trần Ngọc Ly về “Nhận thức của giáo viên
tiểu học về sức khoẻ tâm thần học sinh”, nghiên cứu trên 235 giáo viên thuộc 5
khối ở 11 trường tiểu học tại Hà Nội. Nhận thức của giáo viên được đánh giá
thông qua việc trả lời 2 phần chính: (1) nhận diện 7 trường hợp mô tả trẻ em có
các biểu hiện của một vấn đề SKTT cụ thể; (2) niềm tin về nguyên nhân gây ra
các vấn đề SKTT nói chung và hình thức can thiệp. Kết quả cho thấy, nhận
thức của giáo viên về vấn đề này còn mang tính bề mặt, chưa phân biệt và hiểu
rõ các biểu hiện của từng RL cụ thể [6]
Nghiên cứu “Nhận thức về tự kỷ của sinh viên năm cuối các ngành chăm
sóc SKTT ở Việt Nam” của Trịnh Thanh Hương năm 2014 tại Hà Nội trên 4
trường ĐH (ĐH Lao động xã hội; ĐH Khoa học xã hội và nhân văn, ĐH Sư
phạm Hà Nội 1 và ĐH Giáo dục), 1 trường cao đẳng (Cao đẳng Sư phạm
Trung Ương) và bệnh viện tâm thần Trung Ương 1 với tổng số khách thể tham
gia nghiên cứu là 252 người. Kết quả cho thấy sinh viên có nhận thức sai về
nguyên nhân tự kỷ cao, chỉ có một bọ phận sinh viên nhận thức hoàn toàn đúng
về vấn đề này. Cụ thể có 84,9% cho rằng nguyên nhân tự kỷ là do thiếu hụt sự
quan tâm chăm sóc của cha mẹ và 82,7% nghĩ là do nguyên nhân tâm lý [3].
Một nghiên cứu trên đối tượng sinh viên ĐH quốc gia thành phố Hồ Chí

Minh về nhận thức và thái độ với rối loạn SKTT của Ngô Thị Mỹ Duyên năm
2013, kết quả thu được cho thấy nhận thức của sinh viên từ năm thứ đầu tới
năm thứ cuốivề cách phòng ngừa và chữa trị rối loạn SKTT là khá tương đồng
và không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê nào trong lựa chọn của các
nhóm sinh viên đối với vấn đề này. Sinh viên có nhận thức khá tích cực đối với
rối loạn SKTT nhưng những nhận thức tích cực này là chưa cao vì điểm trung
bình vẫn còn trong khoảng 3.0 – 4.0 (khoảng từ phân vân đến đồng ý) [2].


 

13



 

Như vậy, hiện còn thiếu vắng nghiên cứu về nhận thức của sinh viên đối
với SKTT nói chung. Do đó, cần có thêm những nghiên cứu trên đối tượng
sinh viên để có những can thiệp trong tương lai, bởi đây là một trong những độ
tuổi xuất hiện các biểu hiện tâm thần sớm và cũng là độ tuổi chuyển giao giữa
việc học trên ghế nhà trường để đi vào thực tiễn cuộc sống làm việc.
Theo nghiên cứu tài liệu trên thế giới và Việt Nam về nhận thức SKTT,
chúng tôi thấy rằng, cộng đồng có khuynh hướng có nhiều quan điểm khác
nhau về việc điều trị RLTT. Những khuynh hướng này được đưa ra không đơn
giản chỉ phản ánh sự thiếu kiến thức về trị liệu mà còn là hoạt động của các hệ
thống tín ngưỡng chung trước đây tồn tại về các can thiệp sức khoẻ. Nghiên
cứu của Jorm trên 3998 người trưởng thành Úc về sự hữu ích của các can thiệp
trị liệu đối với trầm cảm và tâm thần phân liệt năm 2005 sử dụng phân tích
nhân tố để kiểm tra cấu trúc niềm tin của công chúng. Kết quả bốn nhân tố đã

được tìm thấy. Ba trong số này-Phong cách sống, tâm lý và y tế tương ứng với
các yếu tố được tìm thấy trước đó. Một yếu tố bổ sung là tìm kiếm thông tin
được xác định bởi các mục không được bao gồm trong nghiên cứu trước đó.
Các mục này liên quan đến việc nhận thông tin hoặc lời khuyên từ nhiều nguồn
khác nhau bao gồm internet, sách và các nhà giáo dục sức khoẻ. Sự khác nhau
về các yếu tố này là một đặc điểm của các yếu tố nhân khẩu học xã hội và khả
năng xác định tình trạng được miêu tả. Tuy nhiên, tầm quan trọng của những
khác biệt này là nhỏ. Sự khác biệt giữa các yếu tố đã được tuyên bố rõ ràng
hơn, với xếp hạng trung bình về Yếu tố y tế giảm giữa có hại và trung lập,
trong khi xếp hạng trung bình về các yếu tố khác nằm giữa trung lập và đầy đủ.
Kết luận Công chúng có xu hướng ủng hộ các can thiệp về tâm lý và lối sống
đối với những người chăm sóc y tế. Những niềm tin này không phản ánh được
kiến thức cụ thể về hiệu quả của các phương pháp điều trị đặc biệt mà là những
cam kết chung đối với các lớp điều trị rộng rãi được áp dụng cho dù loại rối
loạn tâm thần là gì. Các chiến dịch giáo dục để nâng cao kiến thức công cộng
về điều trị sẽ cần phải tính đến các hệ thống tín ngưỡng trước đó.


 

14



 

1.1.2.Những nghiên liên quan tới tình trạng tổn thương SKTT
1.1.2.1. Những nghiên cứu về tình trạng tình SKTT trên thế giới
Năm 1990, lần đầu tiên cuộc điều tra của WHO nhằm xác định tỷ lệ bệnh
tâm thần trong cộng đồng, thiệt hại do bệnh tâm thần gây ra, đồng thời khảo sát

việc sử dụng dịch vụ y tế, hoạt động của ngành y tế v.v đã diễn ra với bộ câu
hỏi phỏng vấn chẩn đoán quốc tế tổng hợp (CIDI), trên 60.559 người ở trên 14
quốc gia khác nhau, đã chỉ ra kết quả như sau:
Bảng 1. 1. Tỉ lệ các vấn đề sức khoẻ tâm thần trên thế giới
Vùng và quốc gia

Rối loạn tâm thần
Suốt đời
%

12 tháng

Độ lệch chuẩn

%

Độ lệch
chuẩn

Châu Mỹ
Colombia

36

1,4

18

0,9


Mexico

25

1,1

13

0,9

Mỹ

47

1,1

26

0,9

Bỉ

29

2,3

10

1,1


Pháp

38

2

14

1,2

Đức

25

1,6

8,6

0,9

Ý

18

1,1

7,2

0,7


Hà Lan

31

2,1

11

0,9

Tây Ban Nha

20

1,4

8,4

0,6

Ukranie

33

1,7

19

1,3


Nhật Bản

20

1,7

8,3

1,1

Thành phố Bắc Kinh

17

2,4

9,3

1,6

Thành phố Thượng Hải

8,6

1,3

4,5

0,9


Châu Âu

Châu Á


 

15



 

(Nguồn: Giáo trình Dịch tễ học tâm thần, ĐH Y Phạm Ngọc Thạch, tác
giả Đặng Hoàng Hải)
Với kết quả trên, Mỹ là nước có tỉ lệ RLTT suốt đời cao nhất 47%, tiếp
đó là Pháp 38%. Và đây cũng là 2 nước có tỉ lệ RLTT trong vòng 12 tháng cao
nhất lần lượt là 26% và 14%.
Cũng bằng công cụ CIDI, năm 1999, một điều tra quốc gia Úc đã cho
kết quả nghiên cứu người dân Úc mắc các vấn đề SKTT phổ biến là 17,7%.
Trong đó có 4,6% không bao giờ liên lạc với các cơ sở chăm sóc sức khoẻ,
29,4% đã có gặp bác sĩ và 7,5% đã có gặp bác sĩ tâm thần trong năm qua [8].
Theo báo cáo của WHO tại Geneva ngày 4 tháng 10 năm 2001, trên thế
giới cứ 4 người thì có một người sẽ bị ảnh hưởng bởi chứng rối loạn tâm thần
hoặc rối loạn thần kinh vào một thời điểm nào đó trong cuộc đời. Khoảng 450
triệu người hiện đang phải chịu đựng tình trạng như vậy, đưa các RLTT trở
thành nguyên nhân hàng đầu về sức khoẻ và tàn tật trên toàn thế giới.
Ở Hoa Kỳ, tỷ lệ mắc trong đời các RLTT là 32,2% dân số, ít nhất 15%
dân số Hoa Kỳ bị rối loạn tâm thần trong 1 năm (D.Reiger, 1978). Theo Harold
Kaplan, tỷ lệ mắc trong đời 1 số bệnh tâm thần như sau: Bệnh tâm thần phân

liệt 1.5%; rối loạn trầm cảm 1 cực 6,0%; rối loạn trầm cảm 2 cực 1,0%; nghiện
rượu 13,3%; nghiện ma tuý 5,9%; rối loạn tâm căn 3% - 8% [8].
Nghiên cứu của Lawrence trên 1678 sinh viên Trung Quốc đã cho kết
quả 248 người (14,8%) được phân loại là có trầm cảm từ vừa đến nặng [21].
Theo WHO trong báo cáo năm 2005, RLTT chiếm 13% gánh nặng bệnh
tật trên thế giới, là một trong những nguyên nhân hàng đầu giảm các chức năng
cuộc sống. WHO cho rằng gần một nửa dân số thế giới chịu ảnh hưởng của các
vấn đề SKTT, tác động đến tự trọng, quan hệ, khả năng thực hiện các chức
năng cuộc sống hàng ngày. 10% - 20% trẻ em và vị thành niên trên thế giới có
một trong những RLTT. Nếu không được chữa trị, các RL này sẽ ảnh hưởng
nghiêm trọng đến sự phát triển, học tập/ giáo dục và tiềm năng sống lành mạnh
và có ích cho xã hội [10].


 

16



 

1.1.2.2. Những nghiên cứu về tình trạng SKTT ở Việt Nam
Hiện nay, đa số các nghiên cứu tình trạng SKTT được thực hiện ở Việt
Nam có thể phân chia làm 2 loại: (1) những nghiên cứu về một bệnh tâm thần
cụ thể; (2) những nghiên cứu về các vấn đề SKTT nói chung. Một trong những
nghiên cứu đầu tiên ở nước ta, do Nguyễn Văn Siêm thực hiện tại thành phố
Đà Nẵng, khảo sát toàn bộ các hộ trong phường với tổng số dân là 23758. Dựa
trên tiêu chuẩn chẩn đoán ICD10, tác giả đã sử dụng 2 bộ công cụ khảo sát:
Phiếu sức khoẻ gia đình dung để khảo sát sàng lọc và Bảng phỏng vấn bệnh

tâm thần phân liệt dùng cho người có biểu hiện bệnh để tìm kiếm những dấu
hiệu nghi bệnh. Kết quả cho thấy tỷ lệ mắc chung là 0,52% - 0,61% dân số. Tỷ
lệ mắc điểm là 0,49% - 0,53%. Tỷ lệ mắc mới trong một năm 0,29%o –
0,56%o. Xác suất mắc bệnh 1,26% - 1,44%. Tỷ số bệnh nhân nữ/ nam là 0,9.
Số bệnh khởi phát ở độ tuổi 15 – 25 có tỷ lệ cao nhất 49% - 65%. Tuổi khởi
phát trung bình ở nam là 20 – 25, ở nữ là 25 – 30 [10].
Năm 1994 được sự giúp đỡ của WHO, Việt Nam đã tiến hành điều tra tâm
thần 3 điểm: xã Tự Nhiên, xã Quất Động huyện Thường Tín; xã Tiên Kiên,
huyện Lâm Thao – Phú Thọ. Điều ra này đã chỉ ra [8]:
− Bệnh tâm thần phân liệu: 0,3% - 1% dân số.
− Rối loạn cảm xúc trầm cảm: 2,0% - 3,0% dân số.
− Rối loạn tâm căn (lo âu, ám ảnh, suy nhược thần kinh): 4,0% - 5,0%.
− Nhân cách bệnh: 0,5% - 1,0%.
− Nghiện ma tuý: 0,15% - 1,5%.
− Nghiện rượu: 0,21% - 3,0%.
− Rối loạn hành vi ở thanh thiếu niên (độ tuổi 10 – 17) là 0,3% - 3,7%.
− Loạn thần do chấn thương sọ não: 0,15% - 0,2%.
− Chậm phát triển tâm thần: 0,5% - 1,0%
− Động kinh: 0,5% - 1,5%


 

17


×