Tải bản đầy đủ (.doc) (25 trang)

Một số giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục dinh dưỡng vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ 5 6 tuổi ở trường mâm non nga thủy

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.36 MB, 25 trang )

1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài.
Ở lứa tuổi mầm non việc chăm sóc nuôi dưỡng có một tầm quan trọng đặc
biệt nó tạo điều kiện về thể chất cho sự phát triển toàn diện cho trẻ, không
những trong hiện tại mà còn ảnh hưởng đến tương lai trẻ sau này. Để đảm bảo có
một sức khỏe tốt, cường tráng, dẻo dai cần chú ý đến các chất dinh dưỡng, vì
dinh dưỡng sức khỏe ngày nay đang trở thành mối quan tâm hàng đầu của mọi
người, mọi nhà. Do đó dinh dưỡng hợp lí đã và đang nâng cao chất lượng cho
cuộc sống con người nói chung và trẻ em nói riêng. Chất lượng chăm sóc, giáo
dục trẻ ở trường mầm non tốt có tác dụng rất lớn đến chất lượng giáo dục ở bậc
học tiếp theo.
Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến công tác
Giáo dục và đào tạo. Nghị quyết TW 2 khóa VIII đã nêu rõ: “Giáo dục là quốc
sách hàng đầu, là sự nghiệp của toàn dân, toàn nước”. Đồng thời giáo giáo dục
mầm non cũng là một bộ phận quan trọng của hệ thống giáo dục quốc dân trong
sự nghiệp đào tạo thế hệ trẻ, vì trẻ là hạnh phúc của gia đình, là tương lai của đất
nước, là lớp người kế tục sự nghiệp của đất nước. Vì lứa tuổi này vốn có một
tiềm lực phát triển mạnh mẽ, nếu được chăm sóc nuôi dưỡng tốt các cháu sớm
được phát triển về thể chất, trí tuệ và tình cảm một cách đúng hướng. Đó là giai
đoạn cực kì quan trọng trong sự nghiệp hình thành nhân cách.[1]
Chính vì vậy nó có nhiệm vụ quan trọng nhằm giáo dục toàn diện cho trẻ về
thể chất, tình cảm, đạo đức, thẩm mỹ, trí tuệ là cơ sở để hình thành nên nhân
cách con người mới xã hội chủ nghĩa Việt Nam và chuẩn bị những tiền đề cần
thiết cho trẻ bước vào trường tiểu học được tốt.
Giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm hiện nay đang là vấn đề
nóng bỏng là mối quan tâm của toàn xã hội. Trong những năm gần đây, đã có
nhiều vụ xảy ra ngộ độc thực phẩm ở các địa phương các bếp ăn tập thể trong cả
nước ngày càng cao làm ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng của con người.
Song song với việc chăm sóc là việc nuôi dưỡng trẻ mà ăn uống là một nhu
cầu không thể thiếu được của mỗi con người. Nấu ăn là một công việc hết sức
gần gũi và quen thuộc trong mỗi gia đình và trường mầm non. Trong mỗi chúng


ta ai cũng có thể nấu ăn được những món ăn gần gũi quen thuộc, nhưng nấu như
thế nào để đảm bảo đầy đủ chất dinh dưỡng một cách an toàn và hợp lý nhất,
điều này không dễ, nó luôn luôn đòi hỏi chúng ta phải có những sáng kiến và
hiểu biết về nấu ăn cho các cháu ở trường mầm non. Nếu trẻ em được nuôi
dưỡng tốt sẽ có một sức khoẻ tốt và đó là tiền đề cho sự phát triển của trẻ sau
này. Vì vậy công tác nuôi dưỡng trong trường mầm non là một việc hết sức quan
trọng.
Chính vì những lý do trên mà tôi chọn đề tài: “Một số giải pháp nâng cao
chất lượng chăm sóc giáo dục dinh dưỡng - vệ sinh an toàn thực phẩm cho
trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non Nga Thủy” để nghiên cứu đưa vào thực tiễn.

1


1.2. Mục đích nghiên cứu.
Mục đích của đề tài là nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng - vệ sinh
an toàn thực phẩm cho trẻ 5 - 6 tuổi tại trường mầm non Nga Thủy đạt kết quả
cao và phát triển toàn diện về mọi mặt.
Giúp trẻ nhận biết và làm quen 4 nhóm thực phẩm, lợi ích, nguồn gốc của
các loại thực phẩm, và thức ăn đối với sức khỏe con người.
Biết được lợi ích của việc ăn uống đúng cách, ăn nhiều bữa, phối hợp nhiều
loại thức ăn khác nhau để đảm bảo đủ chất.
Giáo dục cho trẻ hiểu cách ăn khác nhau của từng loại thực phẩm.
Dạy trẻ biết phải sử dụng nguồn thực phẩm sạch sẽ, vệ sinh tay chân trước
khi ăn và trẻ ăn nhiều loại thức ăn với số lượng phù hợp và đầy đủ các nhóm
thực phẩm.
Đây là trách nhiệm của mỗi gia đình cũng như nhà trường cần làm tốt việc
giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm ở lứa tuổi mầm non .[2]
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
Trẻ lứa tuổi mẫu giáo 5 - 6 tuổi (Lớp Hoa Hồng) ở trường Mầm non xã Nga

Thủy - Huyện Nga Sơn.
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp thực hành, trải nghiệm.
- Phương pháp đàm thoại.
- Phương pháp tuyên truyền.
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin.
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu.
2. NỘI DUNG
2.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN:
Việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục thế hệ trẻ là trách nhiệm của mọi
người, mọi nhà và toàn xã hội, mọi trẻ em đều có quyền được chăm sóc nuôi
dưỡng và được học tập một cách bình đẳng không phụ thuộc hoàn cảnh riêng về
gia đình, dân tộc, địa phương. Đó không những là mục tiêu của cách mạng mà
còn là ước mơ tha thiết của những người làm cha làm mẹ, vì trẻ em là niềm hạnh
phúc của mọi gia đình, là tương lai của mọi dân tộc.Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã
từng nói:[3]
“Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai”
“Trẻ em là niềm hạnh phúc của mỗi gia đình là tương lai của đất nước”
Chính vì lẽ đó mà ở lứa tuổi mầm non việc giáo dục dinh dưỡng vệ sinh an
toàn thực phẩm là một trong những vấn đề vô cùng quan trọng và hết sức cần
thiết được đặt lên hàng đầu. Nếu sức khỏe trẻ phát triển tốt thì trẻ sẽ tích cực tự
giác tham gia vào các hoạt động học tập, vui chơi giúp trẻ phát triển toàn diện về
5 lĩnh vực (Phát triển thể chất, phát triển nhận thức, phát triển ngôn ngữ, phát
triển tình cảm xã hội, phát triển thẩm mỹ). Cụ thể là trẻ phải được chăm sóc ăn
uống đầy đủ các chất dinh dưỡng, đủ lượng, đảm bảo hợp vệ sinh, đúng lứa tuổi,
2


phù hợp với đặc điểm phát triển tâm sinh lý của trẻ. Giúp trẻ phát triển hài hòa
cân đối về thể lực, hình thành cho trẻ một số thói quen nề nếp, kỹ năng sống,

một cách tích cực, biết ăn đúng ăn đủ hợp vệ sinh văn minh.
Hơn nữa, trường mầm non là nơi tập trung đông trẻ. Trẻ còn non nớt chưa
chủ động, chưa ý thức đầy đủ về giáo dục dinh dưỡng - vệ sinh an toàn thực
phẩm, vì vậy ngành học mầm non đã đưa nội dung “Giáo dục dinh dưỡng - vệ
sinh an toàn thực phẩm” vào chương trình chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục trẻ
ở lứa tuổi mầm non. Đặc biệt trong những năm qua bậc học mầm non đã tổ chức
tập huấn rất nhiều lớp chuyên đề về vệ sinh an toàn thực phẩm và kiến thức về
chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường mầm non. Nhằm nâng cao chất lượng
chăm sóc, nuôi dưỡng bảo vệ sức khoẻ cho trẻ. Việc đưa các nội dung giáo dục
dinh dưỡng vệ sinh an toàn thực phẩm và sức khoẻ vào dạy cho trẻ mầm non là
việc làm rất cân thiết. Có như vậy mới tạo ra sự liên thông về kiến thức giáo dục
dinh dưỡng từ độ tuổi nhà trẻ đến lứa tuổi học đường. Tiến hành giáo dục dinh
dưỡng - vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ mầm non sẽ góp phần quan trọng
trong việc phát triển chiến lược con người tạo ra những lớp con người mới có đủ
trình độ hiểu biết về tri thức khoa học hiện đại, tiên tiến vững bước trên con
đường hội nhập và phát triển kinh tế đất nước hiện nay.
Như “Sức khỏe là vốn quý nhất của con người”
Con người sống tồn tại và phát triển được là nhờ nguồn dinh dưỡng, do vậy
giáo dục dinh dưỡng là một quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến
tình cảm, lý trí của con người, làm thay đổi nhận thức thái độ và hành động để đi
đến tự giác chăm lo đến vấn đề ăn uống và sức khỏe cá nhân, tập thể, cộng đồng.
Trước kia có người từng quan niệm “trời sinh voi trời sinh cỏ” theo quan
niệm này thì việc đứa trẻ sinh ra và lớn lên theo một cách tự nhiên theo năm
tháng miễn là cho trẻ ăn để nó lớn, còn ăn như thế nào? có phù hợp với nhu cầu
dinh dưỡng của cơ thể hay không? có đảm bảo thành phần dinh dưỡng của các
chất và cân đối hợp lý khẩu phần ăn hay không thì không cần biết. Nhưng ngày
nay điều kiện kinh tế, xã hội, khoa học ngày càng phát triển, trình độ dân trí
ngày càng cao. Vấn đề dinh dưỡng đối với con người là hết sức cần thiết. Dinh
dưỡng đối với con người là cả một công trình khoa học đã được nhiều nhà dinh
dưỡng học trong nước và trên thế giới nghiên cứu. Đặc biệt là đối với trẻ lứa

tuổi mầm non, không phải chỉ cho trẻ ăn no là đủ mà phải cho trẻ ăn đủ chất, đủ
lượng, cân đối, hợp vệ sinh có như vậy thì trẻ mới có đủ sức khoẻ tốt, cơ thể mới
phát triển hài hoà, cân đối là nền tảng để trẻ phát triển toàn diện cả về thể chất
và trí tuệ.
Đây là trách nhiệm và cũng là nhiệm vụ của mỗi chúng ta cần làm tốt việc
giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm ở lứa tuổi mầm non.
2.2. THỰC TRẠNG.
* Thuận lợi:
Trường mầm non Nga Thủy có đội ngũ giáo viên trẻ, khỏe, nhiệt tình, năng
động, yêu nghề, mến trẻ, luôn luôn không ngừng phấn đấu học tập để nâng cao
3


trình độ hiểu biết của mình về công tác nuôi dạy trẻ nói chung “Nội dung chăm
sóc nuôi dưỡng, giáo dục dinh dưỡng” nói riêng.
Thường xuyên nghiên cứu tiếp thu những kiến thức về nuôi dưỡng chăm
sóc, giáo dục dinh dưỡng cho trẻ qua chuyên đề, chương trình hội thi, hội thảo,
qua dự giờ thăm lớp, qua thông tin đại chúng, ti vi, sách báo tạp chí,….
Có được sự hướng dẫn chỉ đạo sát sao của đội ngũ cán bộ chuyên viên PGD
Huyện Nga Sơn và ban giám hiệu nhà trường.
Nhà trường có quy mô rộng rãi thoáng mát, môi trường xanh - sạch - đẹp,
đã có bếp ăn một chiều, có hệ thống nước sạch...
Với sự ủng hộ nhiệt tình của lãnh đạo Đảng, chính quyền địa phương, các
cấp, các ngành đoàn thể, phụ huynh nhiệt tình hưởng ứng, quan tâm chăm lo tạo
điều kiện xây dựng cơ sở vật chất mua sắm đồ dùng trang thiết bị phục vụ cho
công tác chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ. Nhằm phòng ngừa ngộ độc thực
phẩm đáng tiếc xảy ra ở trường lớp, địa phương mình. Đồng thời nâng cao chất
lượng về giáo dục sức khỏe trẻ được tốt.
* Khó khăn:
Bên cạnh những thuận lợi trên nhà trường không khỏi không có những khó

khăn bất cập cần được khắc phục trong thời gian tới đó là: kinh phí chi đầu tư
cho cơ sở vật chất như bếp hiện đại hơn, khu vệ sinh, lát sân đảm bảo vệ sinh
môi trường khỏi bụi bặm, có đủ nguồn nước tại chỗ tiện cho vệ sinh cá nhân trẻ
và một số điều kiện khác….
Đa số phụ huynh làm nghề nông nghiệp, đi công ty và nghề buôn bán bận
rộn với công việc nên không có thời gian chăm sóc con cái, một số trẻ chưa có ý
thức về giữ gìn vệ sinh chung, kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn, chất lượng
bữa ăn còn phụ thuộc vào mức thu nhập của cha mẹ, thiếu kiến thức, hiểu biết,
cũng như kinh nghiệm về nuôi dưỡng, chăm sóc con theo khoa học nên dẫn đến
tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng còn cao so với kế hoạch.
Một số bậc cha mẹ chưa thực sự quan tâm sức khỏe của trẻ, để trẻ ăn, ngủ,
vệ sinh tùy thích, mất vệ sinh, dẫn đến trẻ suy dinh dưỡng và mắc các bệnh như:
ngoài da, đau mắt, tiêu chảy, hô hấp...
Hơn nữa các loại thực phẩm có nguy cơ bị làm giả, làm nhái, và còn bị tẩm
ướp các hóa chất độc hại luôn ẩn chứa những nguy cơ nhiễm khuẩn làm ảnh
hưởng đến sức khỏe của trẻ, làm giảm chất lượng bữa ăn của trẻ tại trường mầm
non.
* Kết quả thực trạng
Đầu năm học 2018 - 2019 tôi được nhà trường phân công phụ trách lớp 5 6 tuổi với tổng số trẻ là 37 cháu. Theo hướng dẫn chỉ đạo của Phòng giáo dục và
đào tạo Huyện Nga Sơn về công tác chăm sóc sức khỏe và nuôi dưỡng nhà
trường có kế hoạch phối hợp với trạm y tế xã về khám sức khỏe, cân đo theo dõi
trên biểu đồ phát triển của trẻ vào đầu năm học.
* Kêt quả khảo sát đầu năm học: (Tháng 9/2018)
4


Số trẻ được khảo
sát đầu năm học
1. Chất lượng chăm sóc
Tổng số trẻ đến trường / trẻ điều tra của lớp

37/37
Tổng số trẻ ăn bán trú
28
Trẻ khám sức khỏe định kỳ
37
Trẻ mắc các bệnh
6
Trẻ có thói quen nề nếp vệ sinh cá nhân
25
2. Chất lượng nuôi dưỡng
Trẻ cân nặng bình thường
32
Trẻ Suy dinh dưỡng
5
Trẻ chiều cao bình thường
31
Trẻ thấp còi
6
Nội dung khảo sát

Tỷ lệ
%
100
75
100
16
67
86,5
13,5
83,8

16,2

Trước tình hình thực tế trên, để nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục
dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ ở lớp. Ngay từ đầu năm tôi đã
xây dựng kế hoạch, mục tiêu, nội dung, hình thức tổ chức biện pháp giáo dục
dinh dưỡng vệ sinh an toàn thực phẩm được ban giám hiệu nhà trường duyệt và
nhất trí về việc thực hiện nghiêm túc nội dung chương trình cam kết của tôi - từ
đó tôi đã chủ động tích cực sáng tạo nhiệt tình trong việc thực hiện giáo dục
dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ:
- Tôi hiểu rõ ý nghĩa tầm quan trọng của dinh dưỡng có liên quan đến sức
khỏe và bệnh tật của trẻ. Từ đó tôi xác định trách nhiệm trong công tác chăm sóc
về dinh dưỡng cho trẻ
- Nắm bắt được nhu cầu dinh dưỡng của trẻ theo từng độ tuổi như thế nào
là đầy đủ hợp lí.
- Biết giá trị dinh dưỡng của các loại thực phẩm thông thường có sẵn ở địa
phương.
- Biết nguyên tắc xây dựng thực đơn khẩu phần ăn, nguyên tắc thay thế các
loại thực phẩm để đảm bảo khẩu phần ăn cân đối.
- Biết cách chăm sóc trẻ khi trẻ kém ăn, quan tâm đến trẻ yếu, động viên để
trẻ ăn hết xuất.
- Nắm vững một số quy định cơ bản về vệ sinh an toàn thực phẩm. Biết
cách chọn mua thực phẩm đảm bảo để chế biến hợp khẩu vị cho trẻ. Thường
xuyên theo dõi sức khỏe trẻ trên biểu đồ tăng trưởng . Đồng thời cô phải hiểu
được ý nghĩa, mục đích phối kết hợp với trạm y tế xã, nhà trường để khám sức
khỏe cho từng trẻ theo từng giai đoạn để biết được sức khỏe, bệnh tật, phối hợp
với gia đình cùng có kế hoạch chăm sóc tốt hơn.
- Hiểu các nội dung giáo dục dinh dưỡng đối với trẻ.
- Cô cho trẻ khám phá một số thực phẩm thông thường, cách chế biến các
loại thực phẩm trẻ được ăn, một số món ăn được chế biến từ các loại thực phẩm
đó, dạy cho trẻ biết con người cần được chăm sóc ăn uống đủ chất dinh dưỡng,

ăn hết suất, không kén chọn thức ăn. Vì vậy, để thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục
5


dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ tôi đã sử dụng các giải pháp
khác nhau như sau:
2.3. CÁC GIẢI PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN:
2.3.1. Đầu tư cơ sở vật chất trang thiết bị để phục vụ chăm sóc giáo dục
dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm.
Đối với trường Mầm non việc tổ chức cho trẻ ăn bán trú tại trường thì cơ sở
vật chất, trang thiết bị là những đồ dùng, vật dụng không thể thiếu được vì đây
chính là điều kiện cần thiết để trường có thể tổ chức cho trẻ được ăn bán trú
Trang thiết bị,dụng cụ dùng để chế biến, chứa đựng thực phẩm: Phải có đủ
trang thiết bị, dụng cụ chứa đựng, bảo quản, chế biến riêng biệt cho thực phẩm
sống và thực phẩm chín. Phải có đủ trang thiết bị bảo hộ lao động cho người
tham gia trực tiếp vào các quá trình chế biến thực phẩm, đặc biệt là găng tay,
khẩu trang.
Chính vì vậy bản thân là một giáo viên tôi tự nhận thấy mình phải có trách
nhiệm cùng với nhà trường đưa ra những giải pháp để bàn về vấn đề đầu tư cơ
sở vật chất trang thiết bị để phục vụ chăm sóc giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an
toàn thực phẩm cho trẻ như: Mua xoong, nồi, ấm nhôm, xô chậu, bát, thìa, cốc
Inox, khăn mặt… đảm bảo đầy đủ đồ dùng cho 100% trẻ được ăn bán trú tại
trường, chính vì vậy chất lượng chăm sóc, giáo dục của nhà trường ngày càng
được khẳng định, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục hiện
nay, mang lại niềm tin yêu cho các bậc phụ huynh khi gửi con em vào trường.

Hình ảnh: Đồ dùng trang thiết bị nấu ăn trong trường mầm non Nga Thủy
* Kết quả:
Qua cuộc họp phụ huynh đầu năm nhà trường đã xây dựng kế hoạch mua
sắm, bổ sung cơ sở vật chất phục cho việc nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục trẻ

như: Đã mua nồi cơm điện, lắp toàn bộ hệ thống bếp ga công nghiệp, mua thêm
xoong nồi, bát thìa, cốc, khăn mặt, đặc biệt mua nồi cơm nấu bằng ga…Mua các
loại tranh ảnh, lô tô về các nhóm thực phẩm… đầy đủ phục vụ cho việc nuôi
dưỡng chăm sóc, giáo dục 100% trẻ trên toàn trường.
2.3.2. Tổ chức tốt bữa ăn cho trẻ ở tại nhóm lớp.
6


Bữa ăn hợp lý, đầy đủ chất dinh dưỡng, những năm đầu đời của trẻ mầm
non là vô cùng cần thiết giúp trẻ phát triển toàn diện trước mắt cũng như
lâu dài là rất rõ ràng.
Trẻ em thiếu dinh dưỡng sẽ ảnh hưởng không tốt đến mức độ phát triển và
kết quả học tập hiện tại cũng như sau này.
Vì vậy, việc tổ chức tốt hoạt động nuôi dưỡng cho trẻ tại trường mầm non
sẽ giúp cho trẻ phát triển tốt về thể lực cũng như trí tuệ, góp phần nâng cao chất
lượng chăm sóc giáo dục trẻ tại các trường mầm non.
Dinh dưỡng cho bé mỗi ngày khi đến trường luôn là một trong những vấn
đề quan trọng được Trường Mầm non đặc biệt quan tâm với trách nhiệm của
người giáo viên tôi luôn mong muốn mang đến những bữa ăn thực sự có chất
lượng cho các bé. Mỗi bữa ăn tại trường trẻ được cung cấp đầy đủ 4 nhóm thực
phẩm mà ngay từ đầu năm học các giáo viên trực tiếp đứng lớp như chúng tôi đã
tham mưu, đóng góp ý kiến cho Ban giám hiệu chỉ đạo cô nuôi cần thay đổi các
món ăn để trẻ khỏi nhàm chán, đảm bảo chất lượng cũng như số lượng bữa ăn và
phải thực hiện đúng giờ, đúng qui định vệ sinh và được ban giám hiệu nhất trí
đưa vào kế hoạch để chỉ đạo.
Hàng ngày Ban giám hiệu đi kiểm tra công tác chuẩn bị và tổ chức cho trẻ
ăn. Có những bữa ăn Ban chấp hành hội phụ huynh học sinh đột xuất đến kiểm
tra giám sát bữa ăn của các cháu. Khi phụ huynh trực tiếp thấy con em mình
được các cô chăm sóc, nuôi dưỡng khoa học như thế các Phụ huynh hoàn toàn
tin tưởng, yên tâm vào nhà trường ngày một gửi trẻ đông hơn. Có thể nói, việc

chăm sóc những bữa ăn giàu dinh dưỡng tại Trường Mầm non đóng vai trò quan
trọng trong việc giúp bé phát triển thể chất khỏe mạnh mỗi ngày khi đến trường.
Tổ chức bữa ăn cho trẻ chúng tôi cùng nhóm lớp đã phân công sắp xếp
công việc giữa các giáo viên một cách hợp lý, cần tạo cho trẻ ăn uống hợp vệ
sinh, chuẩn bị trước bữa ăn quét dọn phòng ăn sạch sẽ, bàn ghế sắp xếp gọn
gàng, ngăn nắp, lau sạch bàn chia thức ăn, bát, thìa, đĩa tráng nước sôi, đồ dùng
ăn uống sạch sẽ, khô ráo, bầy xếp đẹp mắt, sẽ gây được phản xạ kích thích trẻ
thèm ăn, hứng thú ăn ngon miệng, ăn hết xuất, sắp xếp chỗ ngồi ăn của trẻ phải
thoải mái, tránh ngồi quá chặt trẻ bị gò bó, ăn mất ngon hoặc gây vướng sẽ bị đổ
cơm, bố trí cho trẻ có chỗ ra vào, cô chia ăn phải rửa tay bằng xà phòng, đeo
khẩu trang, đi gang tay, mặc tạp dề chia thức ăn, chia cơm xong cho trẻ ăn ngay,
trước khi ăn trẻ phải rửa tay bằng xà phòng mới vào bàn ăn.
Khi ăn trẻ được tham gia trực tiếp trong quá trình tổ chức bữa ăn: trẻ tự sắp
xếp bàn ăn, chuẩn bị các đồ dùng, khăn ướt, đĩa đựng khăn, ca cốc, bát thìa cô
đã chuẩn bị, đĩa đựng cơm rơi ở mỗi bàn, trẻ cũng học cách trưng bày các món
ăn làm sao cho đẹp mắt và tham gia chọn thức ăn một cách hào hứng. Điều này
không chỉ có ý nghĩa về mặt dinh dưỡng như giúp trẻ ăn ngon miệng hơn, hấp
thu tốt hơn mà còn có ý nghĩa tích cực rất lớn trong việc giáo dục và hình thành
các kỹ năng, lịch sự trong văn hóa ẩm thực (không vừa ăn vừa nói, biết lấy thức
ăn vừa đủ, không bỏ thừa đồ ăn; đi lại nhẹ nhàng, không tranh giành, la hét...) và
hình thành sự hiểu biết của trẻ về thực phẩm, các món ăn mà trẻ yêu thích, tạo
không khí thoải mái hào hứng - hứng thú, đầm ấm như gia đình giúp trẻ ăn ngon
miệng, ăn hết suất.
7


Để đảm bảo vệ sinh trong ăn uống thì điều đầu tiên tôi phải vệ sinh cá nhân
sạch sẽ trước khi chia cơm và thức ăn cho các cháu. Trong khi chờ đợi chia cơm,
tôi cho trẻ hát bài “Mời bạn ăn” của nhạc sỹ Trần Ngọc
Mời bạn ăn, ăn cho chóng lớn

Mình cùng ăn, chúng mình sẽ lớn nhanh
Mời bạn uống, uống nước mịn da
Mình cùng ăn nhất định sẽ lớn nhanh
Thịt và rau, trứng đậu cá tôm
Được đi thi bé khỏe, bé ngoan
Từ đó để hình thành thói quen vệ sinh hành vi văn minh trong ăn uống cho
trẻ. Thói quen tự phục vụ, lao động vừa sức để giúp cô giáo rèn cho trẻ thói quen
trước khi ăn trẻ biết chào mời cô giáo, bạn bè, khách đến thăm.

Hình ảnh: Trẻ ăn bữa trưa trong trường mầm non
Trong khi ăn tôi luôn hỏi trẻ về các món ăn: hôm nay các con ăn những
món ăn gì?, các món ăn này cung cấp chất gì?, ăn đủ chất giúp cho cơ thể chúng
ta sẽ như thế nào? Trong khi ăn rèn cho trẻ biết ăn từ tốn, nhai kỹ không nói
chuyện riêng ăn không nhai nhồm nhoàm, phải ăn hết suất của mình, không làm
cơm rơi vãi, không xúc cơm đổ vào bát của bạn, không kén chọn thức ăn, không
thò tay bốc thức ăn, không cười đùa chạy lung tung. Hơn nữa tôi còn giáo dục
trẻ trong khi ăn nếu có hắt hơi thì phải lấy tay che miệng hay quay mặt ra ngoài
bàn ăn, nếu không sẽ bẳn cơm vào bàn ăn, bát ăn của bạn và các bạn…như thế
sẽ mất vệ sinh… Ngoài ra tôi còn động viên khuyến khích những trẻ nhác ăn, tôi
đề ra tiêu chí thi đua để khích lệ các cháu ăn thi với nhau, ăn tốt thì cơ thể mới
khỏe mạnh chóng lớn da dẻ hồng hào, học giỏi, được mọi người quý mến. Lười
ăn thì người gầy yếu mệt mỏi, da dẻ xanh xao, chậm lớn, sẽ gây bệnh tật, học
kém, bố mẹ cô giáo không vui lòng. Tuy nhiên không phải tất cả các cháu đều
có sở thích ăn uống giống nhau, bởi vì có những cháu không ăn cháo lươn, cháo
trai, canh trứng… mà đến bữa ăn cháu cứ ngồi thờ ơ, không muốn ăn, bởi vì khi
8


ở nhà các cháu thường ăn theo sở thích của mình nên ăn chưa đa dạng 4 nhóm
chất dinh dưỡng vì vậy các cháu không quen ăn những thức ăn ở trường. Chính

vì vậy là một giáo viên mầm non với công việc vừa chăm sóc, nuôi dưỡng và
giáo dục trẻ tôi luôn tìm ra những biện pháp để trẻ ăn được hết xuất như: tôi dỗ
giành, động viên trẻ mỗi bữa ăn 1 ít, dần rồi quen, nhằm khuyến khích trẻ để
giúp trẻ ăn được tất cả các loại thức ăn khác nhau. Tôi giúp cháu hiểu ăn đa
dạng và đầy đủ 4 nhóm chất thực phẩm: đạm, chất béo, bột đường, vitamin và
muối khoáng sẽ giúp cho cơ thể khỏe mạnh cân đối, da dẻ hồng hào.
Trẻ được ăn bán trú tại trường sẽ hình thành cho trẻ thói quen nề nếp học,
chơi, ăn, ngủ có giờ, có giấc, vì vậy sức khỏe các cháu được nâng lên. Hàng
ngày nhìn các cháu ngoan, vui khỏe, sạch sẽ, ăn uống ngon miệng lại biết lao
động tự phục vụ, ăn xong xếp gọn bát vào rổ, nhặt cơm rơi vãi, lau bàn xếp ghế,
uống nước lau miệng.
Khi đi ngủ biết lấy chăn gối kê sạp giường, lúc ngủ dậy biết gấp chăn gối
cất đúng nơi quy định, chải đầu soi gương. Thấy các cháu hồn nhiên ngây thơ
trong sáng mà lại dí dỏm, luôn tích cực tham gia vào các hoạt động học tập vui
chơi, lòng tôi như ấm lại, niềm vui được nhân lên và tự nhủ mình phải cố gắng
dạy dỗ, rèn luyện cho trẻ những kiến thức, kỹ năng sống, thân thiện hòa đồng,
những kỹ năng thói quen giao tiếp ứng xử, hành vi văn minh trong ăn uống, lối
sống có văn hóa, giờ đây đã đi vào nề nếp. Công việc này của tôi được tiến hành
thường xuyên liên tục hàng ngày.
Để giúp các cháu trở thành những con người mới có kiến thức, có kỹ năng
về giáo dục dinh dưỡng, có đủ sức khỏe tham gia học tập tốt.
* Kết quả:
Qua việc tổ chức bữa ăn cho trẻ ở lớp tôi: Thể lực của trẻ được nâng lên rõ
rệt: 100% trẻ nhận biết, phân biệt thành thạo và ăn đa dạng 4 nhóm chất dinh
dưỡng và biết lợi ích của các chất dinh dưỡng đối với cơ thể con người, biết khi
ăn không nói chuyện riêng, ăn không nhai nhồm nhoàm, ăn không làm rơi vãi
mất vệ sinh. Đặc biệt 100% trẻ trong lớp có những kỹ năng thói quen giao tiếp
ứng xử, hành vi văn minh trong ăn uống và trước, sau khi ăn đã đi vào nề nếp.
Từ đó tôi được phụ huynh, đồng nghiệp và học sinh tin yêu tuyệt đối yên tâm đi
làm trao gửi con cho cô giáo.

2.3.3. Đưa hoạt động giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực
phẩm vào các hoạt động trong ngày.
Muốn đứa trẻ phát triển toàn diện thì điều đầu tiên chúng ta nhắc đến đó là
"sức khoẻ" do đó dinh dưỡng là nhu cầu sống hàng ngày của mỗi con người. Trẻ
em cần dinh dưỡng để phát triển về thể lực, trí tuệ và góp phần phát triển toàn
diện nhân cách cho trẻ. Chúng ta biết rằng tình trạng dinh dưỡng tốt của mọi
người nói chung, trẻ em nói riêng phụ thuộc vào khẩu phần dinh dưỡng thích
hợp, việc được chăm sóc sức khoẻ đầy đủ có môi trường sống hợp vệ sinh.
Trên cơ sở nhận thức được tầm quan trọng của giá trị dinh dưỡng và điều
kiện kinh tế hiện nay, là một giáo viên mầm non tôi cần tuyên truyền giáo dục
dinh dưỡng cho mọi người, nhất là giáo dục dinh dưỡng đối với trẻ ngay ở độ
tuổi mầm non.
9


Giáo dục dinh dưỡng là một quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch
đến tình cảm, lý trí con người nhằm làm thay đổi nhận thức, thái độ và hành
động để đi đến tự giác. Chăm lo vấn đề ăn uống và sức khoẻ cá nhân, tập thể
cộng đồng.
Từ thực tiễn trên tôi đã lồng ghép giáo dục dinh dưỡng thông qua một số
hoạt động trong ngày vì: Giáo dục dinh dưỡng là biện pháp nhằm hướng đến
hình thành những thuộc tính tâm lý và năng lực chung của trẻ, nhằm phát triển
toàn diện nhân cách ban đầu ở trẻ, kích thích, thu hút, lôi cuốn trẻ tham gia giải
quyết những nhiệm vụ học tập như khám phá mối liên kết giữa hành vi và sức
khoẻ, củng cố sự hiểu biết của trẻ về dinh dưỡng sức khỏe. Chính vì vậy tôi đã
đưa hoạt động giáo dục dinh dưỡng vào các hoạt động trong ngày.
* Thông qua hoạt động Khám phá khoa học: Nhằm củng cố, hệ thống
hoá, chính xác hoá những kiến thức về dinh dưỡng mà trẻ đã làm quen ở mọi lúc
mọi nơi, phát triển trí tuệ cho trẻ.
- Dạy trẻ biết tên gọi đặc điểm cấu tạo của đối tượng trẻ biết được thành

phần các chất và giá trị dinh dưỡng của đối tượng đó đối với cơ thể con người.
- Trẻ biết được tác dụng của các chất Prôtít, Lipít, Gluxít, Các loại Vitamin
và muối khoáng với cơ thể con người.
- Khi sử dụng các hình thức này cần đạt các yêu cầu sau:
+ Phát huy tính tự giác, chủ động của trẻ, đảm bảo không khí vui tươi thoải
mái nhẹ nhàng, không gò bó áp đặt.
+ Giờ học phải có trọng tâm, tránh dàn trải, lan man, cần biết phối hợp các
phương pháp một cách linh hoạt, hợp lý.
+ Đối tượng làm quen phải gần gũi, quen thuộc.
* VD: Cho trẻ quan sát vườn rau của nhà trường trước khi vào bài dạy
(lớp Mẫu giáo 5- 6 tuổi). Ở chủ đề thế giới thực vật.

Hình ảnh: Cô và trẻ cùng quan sát vườn rau sạch trong trường

10


Mục đích: Giúp trẻ biết gọi tên và nhận xét được những điểm, công dụng,
lợi ích rõ nét của các loại rau: ăn củ, ăn lá (Cà rốt, khoai tây, mồng tơi, rau
muống...)
Trẻ biết so sánh nhận xét được điểm giống nhau đều gọi là rau, cung cấp
chất Vitamin và muối khoáng. Điểm khác nhau ( Cách chế biến, ăn củ, ăn lá...)
Giáo dục: Trẻ có ý thức biết chăm sóc: Tưới, bắt sâu, nhổ có…., biết giá trị
dinh dưỡng của một số loại rau đối với sức khoẻ con người.
Hình thức này tạo điều kiện cho trẻ được thực hành trải nghiệm: như khi
được đi chăm sóc rau ở vườn trường cùng cô, trẻ biết lấy nước tưới rau, nhổ cỏ,
bắt sâu cho rau. Ngoài ra trẻ còn được theo dõi sự lớn lên của rau qua vườn thiên
nhiên của trường. Giúp trẻ yêu thiên nhiên, hiểu thêm về môi trường xung quanh
biết công ơn của người chăm sóc và ăn hết xuất.
- Từ đó trẻ sẽ được tiếp xúc trực tiếp với các loại thức ăn thực phẩm. Do

vậy giáo dục cho trẻ tức là giáo dục trẻ hiểu được các thành phần vai trò ở từng
loại lương thực thực phẩm cụ thể nhanh hơn chính xác hơn. 100% trẻ biết tác
dụng của rau.Đặc biệt trẻ biết ích lợi của các loại rau đối với cơ thể như: Luộc,
xào, nấu canh…. từ đó trẻ có ý thức chăm sóc cây trồng có ích và tăng cường ăn
rau trong các bữa ăn
* Hoạt động ngoài trời
Trong giờ hoạt động ngoài trời: Cô cho trẻ quan sát, phân biệt, so sánh các
con vật, cách chăm sóc chúng. Trong quá trình trẻ chơi ngoài trời, cô chỉ cho trẻ
những nơi để trẻ không được đến gần như: giếng nước, vũng nước. Cô thường
xuyên nhắc nhở trẻ không đưa tay bẩn lên dụi mắt, không vứt rác bừa bãi sân
trường, không được chơi những vật sắc nhọn; không ngậm hột, hạt, không ngậm
vật bẩn vào mồm và rửa tay sạch sẽ trước khi vào lớp, trước khi ăn, sau khi đi vệ
sinh.
- Thông qua hoạt động ngoài trời giúp trẻ mở rộng tầm mắt của trẻ, nhận biết
các đặc điểm cơ bản của đối tượng, vừa giúp trẻ hiểu thêm về thành phần dinh
dưỡng của đối tượng đó.
- VD: Cho trẻ quan sát một số động vật sống dưới nước: Tôm, cua, cá (lớp
Mẫu giáo 5- 6 tuổi). Ở chủ đề thế giới động vật
Thông qua đó trẻ nhận biết gọi được tên, môi trường sống, đặc điểm, thành
phần dinh dưỡng, của động vật đó. Mở rộng hiểu biết, phát triển thể lực, trí tuệ,
ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ.
* 100% trẻ biết lợi ích, tác dụng, đặc diểm, môi trường sống của các con vật trẻ
được quan sát. Đặc biệt trẻ biết ích lợi của các loại động vật chế biến thành các
món ăn hàng ngày đối với cơ thể: như: Luộc, chiên, kho, nấu canh…. từ đó trẻ
có ý thức chăm sóc vật nuôi và tăng cường ăn thức ăn chứa chất đạm trong các
bữa ăn hàng ngày.
* Hoạt động góc:
Trẻ gọi tên các loại thực phẩm, biết đặc điểm của các loại thực phẩm, trẻ tự
học cách chế biến những thực phẩm thành những món ăn. Biết cách tạo ra
những thực phẩm trong cuộc sống, biết vệ sinh cá nhân và hành vi văn minh.

- Tổ chức giáo dục dinh dưỡng ở các trò chơi trong góc phân vai.
VD: Trò chơi : “Một góc chợ quê” , Trò chơi “ Tổ chức sinh nhật gia đình”
11


Trẻ thể hiện được vai chơi của mình và biết sáng tạo trong khi chơi.
Rèn khả năng tái tạo lại công việc của người lớn, biết lựa chọn thực phẩm
theo các nhóm chất để tổ chức tiệc sinh nhật cho người thân trong gia đình. biết
trưng bày, trang trí cho đĩa thức ăn ngon hơn. Tạo không khí vui tươi ấm áp
trong gia đình
Giáo dục trẻ khi chơi không tranh dành đồ chơi của bạn, giúp đỡ bạn, biết
đoàn kết trong khi chơi.
Quá trình chơi:
- Cho trẻ chơi: Cô có thể nhập vai chơi cùng trẻ, cô quan sát gợi ý trẻ chơi.
VD: Bác ơi quả này bao nhiêu tiền, bán cho tôi gói kẹo này, bao nhiêu tiền
ạ…: Người bán hàng nói về giá tiền cho khách hàng hiểu và niềm nở bán hàng,
khi người bán hàng đưa thì người mua phải lấy bằng hai tay và phải biết cảm ơn
người bán hàng. Nếu thừa tiền phỉ trả lại
- Cô tạo tình huống để trẻ giao lưu giữa các nhóm chơi.
Cô luôn nhắc trẻ: Người bán hàng phải chào khách mua hàng, phải nói
được tên hàng và giá trị dinh dưỡng của mặt hàng đó, quảng cáo các hàng.
Người mua hàng đi mua phải nói được tên mặt hàng, hỏi người bán hàng về các
chất dinh dưỡng có trong mặt hàng mình cần mua.
+ Tổ chức sinh nhật gia đình, phải biết chế biến ra các món ăn từ các thực
phẩm được mua về và nói được các chất dinh dưỡng của nhóm đó khi khách hỏi.
- Cô giáo dục thái độ cư xử của các trẻ với nhau trong khi chơi.

Hình ảnh: Trẻ chơi các trò chơi ở góc
Cô hướng dẫn trẻ rửa tay trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh, khi tay bẩn. Trẻ lứa
tuổi này không những có kỹ năng của việc rửa tay, lau mặt, đánh răng, rửa đồ chơi

mà còn hiểu được lợi ích của việc giữ gìn vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường. Do
vậy, trong quá trình hướng dẫn cho trẻ làm, tôi giải thích cho trẻ tại sao phải rửa
mặt, rửa tay, giữ gìn vệ sinh quần áo và lợi ích của những việc làm đó.
- Thường xuyên nhắc nhở trẻ không vứt đồ chơi bừa bãi ra sàn nhà, hướng
dẫn trẻ thu dọn đồ chơi gọn gàng, sắp xếp đúng nơi quy định sau khi chơi.
12


- Theo lịch vệ sinh, vào những thời điểm tổng vệ sinh đồ chơi, cô hướng
dẫn trẻ tham gia cùng cô, bước đầu hướng dẫn trẻ lau, rửa đồ chơi, làm trực nhật
cùng cô.
- Phối hợp với gia đình để giáo dục dinh dưỡng, vệ sinh và sức khỏe cho trẻ
tại gia đình, hình thành thói quen tốt về vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường, biết
tự chăm sóc sức khỏe và an toàn cho bản thân (ăn nhiều loại thức ăn, không
kiêng khem, mặc ấm, đi tất khi trời rét, đội mũ khi ra nắng, không chơi cạnh hồ
ao, không sờ vào ổ điện, dây điện, quạt…).
* Hoạt động chiều:
- Tổ chức giáo dục dinh dưỡng cho trẻ vào các họat động chiều dưới hình
thức ôn luyện các hình thức đã học, nhằm giúp trẻ khắc sâu được kiến thức hơn.
- VD: Khi thực hiện chủ đề: Động vật sống dưới nước đề tài “Tìm hiểu về
một số loại cá” thì vào buổi chiều cô cho trẻ ôn luyện qua trò chơi “Đố vui” về
các loại cá sau đó cô nói cho trẻ biết có rất nhiều loại cá chúng sống ở khắp nơi
như ao, hồ, sông, suối. Trong thịt cá chứa rất nhiều chất đạm, canxi là nguồn
thực phẩm rất tốt cho cơ thể con người, cá chế biến rất nhiều món ăn, cho trẻ kể
các món ăn được chế biến từ cá, và giáo dục trẻ ăn nhiều thức ăn được chế biến
từ cá.
* Tổ chức các trò chơi về giáo dục dinh dưỡng:
Trong quá trình tổ chức giáo dục dinh dưỡng cho trẻ thông qua bộ môn làm
quen với môi trường xung quanh, ngoài các hình thức trên tôi còn áp dụng một
số trò chơi nhằm gúp trẻ hiểu biết thêm về dinh dưỡng:

VD: Trong tiết học “Làm quen với một số loại rau” sau khi đã cung cấp
kiến thức tôi đã sử dụng trò chơi đi siêu thị để trẻ biết cách chọn rau tươi, rau
sạch và các chất dinh dưỡng có trong các loại rau đó.
Hoặc trò chơi với lô tô: Phân nhóm các loại thực phẩm theo các chất dinh
dưỡng vào các tiết học có chủ đề các con vật sống trong gia đình.
Ngoài ra còn cho trẻ được trải nghiệm thông qua trò chơi bé tập làm nội trợ
như: cho trẻ xếp lô tô theo quy trình pha nước cam... làm bánh, pha sữa, làm
sinh tố hoa quả.....
Khi áp dụng các trò chơi trên vào trong các hoạt động tôi thấy trẻ rất hứng
thú và phát huy được tính tích cực của trẻ trong các hoạt động đạt kết quả cao
chính vì vậy mà thông qua các hoạt động trong ngày nhằm giáo dục dinh dưỡng
và vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ đạt hiệu quả cao.
* Kết quả:
- 100 % trẻ biết được tên gọi, đặc điểm của các nhóm chất dinh dưỡng cung
cấp cho cơ thể thông minh khỏe mạnh.
- Thông qua các hoạt động trẻ tiếp thu và lĩnh hội được những kiến thức về
giáo dục dinh dưỡng cho trẻ trong trường mầm non.
- 37/37 = 100% trẻ có thói quen tốt về vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường,
biết tự chăm sóc sức khỏe và an toàn cho bản thân.
- 100% trẻ biết tự phục vụ, biết lao động cùng cô, biết rửa tay trước khi ăn
sau khi đi vệ sinh….
2.3.4. Giáo dục dinh dưỡng thông qua tổ chức hội thi, các ngày hội,
ngày lễ.
13


Nhà trường đã phối hợp cùng hội phụ nữ, ban văn hoá xã tổ chức tuyên
truyền kiến thức nuôi dạy con theo khoa học đến các bậc phụ huynh trên thông
tin đại chúng, qua các buổi sinh hoạt, hội họp địa phương tổ chức, kết hợp cùng
nhà trường để tổ chức các hội thi cho trẻ như hội thi “Bé khoẻ bé ngoan, nuôi

con khoẻ, gia đình dinh dưỡng trẻ thơ”; Hội thi “Hội khỏe, Bé mầm non” cấp
trường đều có nội dung liên quan đến giáo dục dinh dưỡng và bảo vệ sức khoẻ
cho trẻ. Ví dụ: Đối với lớp tôi bắt vào nội dung thi trò chơi vận động “Bò chui
qua cổng, rê bóng bằng hai chân qua đường dích dắc, lấy thực phẩm theo yêu
cầu chuyển về kho”. Tất cả các cháu đội tuyển của lớp tôi đều nhanh nhẹn, khéo
léo thực hiện qua các yêu cầu và lấy đúng thực phẩm theo yêu cầu chuyển về
kho được nhiều thực phẩm nhất và đã thắng cuộc. Đặc biệt là hội thi “Bé tập làm
nội trợ” qua các hội thi được đông đảo phụ huynh hưởng ứng, lãnh đạo địa
phương quan tâm ủng hộ, các cháu hào hướng phấn khởi, mạnh dạn, tự tin, nắm
vững kiến thức về nội dung giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm.
Công tác tuyên truyền qua các hội thi luôn đạt kết quả tốt (Vì trong hội thi
có đủ các thành phần tham dự như trẻ, cô, bố mẹ cùng tham gia), thông qua hội
thi giúp cho trẻ, giáo viên và phụ huynh hiểu biết, củng cố kiến thức kỹ năng
thực hành giáo dục dinh dưỡng, vệ sinh an toàn thực phẩm, giúp cho phụ huynh
học sinh hiểu thêm được tầm quan trọng của ngành học mầm non.
Qua các hội thi tạo được sự chuyển biến cao trong nhận thức của phụ
huynh về công tác chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ; về phòng chống suy dinh
dưỡng và đảm bảo VSATTP, làm thay đổi nhận thức của nhiều người về việc
cho trẻ ăn bán trú tại trường. Cũng qua các hội thi đã tạo ra động lực thúc đẩy sự
phối kết hợp chặt chẽ giữa các ban, ngành, đoàn thể ở địa phương ngày càng tốt
hơn. Nhà trường luôn nhận được sự hỗ trợ về kinh phí để tổ chức các hội thi từ
các đoàn thể và hội cha mẹ học sinh.
Đối với các cháu ở độ tuổi 5 - 6 tuổi thông qua các hoạt động trên trẻ sẽ
thực hành và thể hiện tốt các kiến thức kỹ năng khéo léo của đôi bàn tay bằng
vật thật, mô phỏng qua tranh theo các quy trình chế biến ra một số món ăn nước
uống đơn giản. Qua đó hình thành nhân cách trẻ, rèn cho trẻ thói quen hành vi
văn minh trong ăn uống, cách giao tiếp ứng xử với bạn bè, mọi người xung
quanh, hình thành kỹ năng sống cho bản thân biết sống gọn gàng ngăn nắp.
Ví dụ: Thông qua trò chơi “Nấu ăn”, “Bữa ăn hợp lý”, “Tổ chức buổi sinh
nhật”, “Gia đình đi siêu thị”.

Bằng những nội dung hình thức thay đổi theo chủ đề lớn, chủ đề nhỏ tôi
phối hợp với gia đình thống nhất nội dung giáo dục dinh dưỡng phù hợp, hình
thức: tổ chức các cuộc họp phụ huynh 2 lần/ năm vào tháng 9 và tháng 1 để
thông báo kết quả của trẻ và tuyên truyền chăm sóc giáo dục trẻ theo phương
pháp khoa học. Cho trẻ ăn đủ lượng đủ chất, đúng bữa, đúng giờ, ngủ đúng, ngủ
đủ. Tập cho trẻ có thói quen vệ sinh cá nhân văn minh, hạn chế ăn quà vặt, quà
không có chất dinh dưỡng, ảnh hưởng đến bữa ăn chính, vệ sinh không tốt có thể
làm ảnh hưởng đến vệ sinh răng miệng… không những đủ lượng đủ chất mà còn
cân đối 4 nhóm thực phẩm cùng phối hợp hỗ trợ lẫn nhau tăng khả năng hấp thu
và dễ tiêu hóa cho trẻ. Cần làm tốt khâu vệ sinh cá nhân, vệ sinh phòng bệnh, vệ
sinh môi trường thông thoáng giúp trẻ hít thở không khí trong lành.
14


Theo dõi lịch tiêm chủng đầy đủ các loại vacxin cũ và mới, thực hiện phối
hợp với trạm y tế cân đo khám sức khỏe định kỳ theo dõi trên biểu đồ phát triển
của trẻ qua từng lần, thông báo kết quả trẻ kịp thời cho phụ huynh biết.
Biểu đồ phát triển của cháu qua các lần thông báo kết quả sức khỏe trẻ kịp
thời cho phụ huynh biết. Không những thế phối hợp với tổ dinh dưỡng của
trường lựa chọn thực phẩm sạch đảm bảo chế biển thay đổi các món ăn phù hợp
khẩu vị trẻ ăn ngon miệng - phòng tránh ngộ độc thức ăn xảy ra. Tham mưu với
trường xây dựng mô hình rau sạch để cung cấp thực phẩm sạch, an toàn phục vụ
các cháu như trồng các loại rau xanh, củ, quả (đậu, lạc, bí đỏ…)
Kết quả: Thông qua các hội thi 100% trẻ và phụ huynh đã có nhận thức
đầy đủ nắm vững kiến thức về nội dung giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn
thực phẩm cho trẻ tại lớp đã làm cho tỷ lệ trẻ bị suy dinh dưỡng, mắc các loại
bệnh của lớp giảm đáng kể.
100% trẻ mạnh dạn, nhanh nhẹn, khéo léo, dẻo giai thực hiện tốt các hoạt
động. Đặc biệt là các trò vận động, dân gian...
2.3.5. Ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục dinh dưỡng và vệ

sinh an toàn thực phẩm.
Một trong những biện pháp tuyên truyền nhanh nhất và tốt nhất là công
nghệ thông tin, chính vì vậy tôi đã lựa chọn giải pháp ứng dụng công nghệ thông
tin trong giáo dục dinh dưỡng cho trẻ bằng cách tuyên truyền cho cộng đồng
mạng biết lợi ích về dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thược phẩm là vô cùng quan
trọng và cần thiết, nó là yếu tố quyết định cho sự phát triển toàn diện của trẻ,
Qua nghiên cứu tìm hiểu thực tế phụ huynh trong nhóm lớp tôi chủ nhiệm thì
100% phụ huynh đề sử dụng công nghệ thông tin, biết cập nhật những tin tức
trên các trang mạng, nắm bắt được điều đó tôi đã lập ra một nhóm riêng với tên
gọi “Vì sức khẻo trẻ thơ” và tăng tên phụ huynh lớp mình vào trong nhóm, sau
đó tôi bắt đầu tìm hiểu và nghiên cứu về những chế độ dinh dưỡng phù hợp đối
với độ tuổi, với chiều cao, cân nặng và sức khỏe của từng cháu, đưa ra những
hình ảnh, và những chế độ dinh dưỡng phù hợp với từng trẻ sau đó thông báo
cho từng phụ huynh biết tình trạng sức khỏe, sự phát triển cho cha mẹ biết để có
giải pháp và chế độ chăm sóc trẻ tốt nhất, hiệu quả nổi bật nhất của ứng dụng
CNTT vào quản lý và tổ chức các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục
trẻ mầm non là việc quản lý bữa ăn cho trẻ, từ việc xây dựng thực đơn, tính khẩu
phần ăn cân đối đến đảm bảo đủ các nhóm chất cho trẻ nhất là tìm hiểu các loại
thức ăn, đồ uống giàu chất dinh dưỡng , tốt cho sức khỏe của trẻ, trong giờ lên
lớp cũng như mọi lúc mọi nơi thì tôi luôn lồng ghép giáo dục trẻ phải biết ăn đủ
các nhóm chất để có một cơ thể khỏe mạnh, da dẻ hồng hào bằng cách cho trẻ
xem và quan sát những hình ảnh về những bạn nhỏ luôn biết giữ gìn vệ sinh
sạch sẽ và ăn đủ 4 nhóm chất thì sẽ có một cơ thể phát triển hài hòa cân đối, bên
cạnh đó cho trẻ xem và nhận xét về những hình ảnh các bạn nhỏ biếng ăn, ăn
uống không hợp vệ sinh thì sẽ có những hậu quả xấu xảy ra để trẻ lấy đó mà làm
gương cho mình, bởi vì tâm lý của các bé luôn thích được khen ngợi, luôn
muốm mình xinh đẹp, sau đó tôi lại tiếp tục tham mưu với BGH nhà trường chỉ
đạo cô nuôi đặt mua ở những nơi uy tín cho trẻ ăn, cách phòng các bệnh về mùa
để nhắc nhở phụ huynh cùng chăm sóc đẻ trẻ có sức khỏe tốt chống đỡ bệnh tật.
15



Thông qua đó không nhưng tôi được trang bị những kiến thức rất cơ bản và
hữu ích, có điều gì không hiểu, chúng tôi tự cập nhật, học hỏi nghiên cứu, tất cả
đều hướng tới 1 bữa ăn đầy đủ chát đảm bảo cả lượng và chất đầy đủ, giúp trẻ
phát triển cả về thể chất lẫn tâm hồn.
VD: Khi cho trẻ được quan sát 1 số hình ảnh liên quan đến bài dạy gì về
giáo dục dinh dưỡng, để mở rộng tầm hiểu biết cho trẻ tôi sử dụng phần mềm
baboy chuyển tải hình ảnh về và mở cho trẻ xem.

Hình ảnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục dinh dưỡng
và vệ sinh an toàn thực phẩm.
* Kết quả nghiên cứu.
Xuất phát từ tình hình thực tế với mục tiêu, hình thức, nội dung và một số
biện pháp thích hợp và tấm lòng yêu thương chăm sóc giáo dục trẻ như con của
mình đã giúp tôi có được kết quả đáng khích lệ trong việc nâng cao chăm sóc,
nuôi dưỡng và giáo dục dinh dưỡng - vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ ở nhóm
lớp qua đợt cân đo khám sức khỏe các cháu theo dõi trên biểu đồ: được trạm y tế
và ban giám hiệu nhà trường đánh giá cao so với đầu vào. Đặc biệt được Ban
giám hiệu đánh giá thu hút số cháu ăn đều đặn tại trường là 37 cháu rất cao so
với các lớp khác.
2.3.6. Công tác tuyên truyền phối kết hợp với phụ huynh trong chăm
sóc nuôi dưỡng và giáo dục trẻ.
Ngay từ cuộc họp phụ huynh, các buổi tọa đàm về chăm sóc nuôi dạy con,
các hội thi “Nuôi con khỏe, Gia đình công dân tý hon…”, đầu năm học, tôi đã
trao đổi với phụ huynh học sinh về bữa ăn ở trường mầm non, thực đơn của trẻ
trong một tuần để phụ huynh hoc sinh biết để cân đối với bữa ăn ở gia đình. Cô
đã trò chuyện mang tính chất tuyên truyền, động viên, trao đổi kinh nghiệm,
chia sẻ thông tin, nhắc nhở phụ huynh những kiến thức về dinh dưỡng cho trẻ,
về cách thức đa dạng hóa bữa ăn cho trẻ một cách thật dễ hiểu, thiết thực và phù

hợp. Để phụ huynh trẻ nắm chắc một điều rằng: Chế độ ăn của trẻ khi có sự đa
16


dạng là rất tốt. Giá trị của bất kỳ loại thực phẩm nào đều nằm ở sự chuyển hóa
chất của cơ thể vì thế không thể có loại “siêu thực phẩm” độc quyền.
Qua các ý kiến của phụ huynh, tôi nhận thấy các bậc phụ huynh ở quê còn
coi nhẹ bữa ăn đầy đủ chất, có gì ăn nấy, thậm chí nói còn nhỏ ăn vậy thôi, vả
lại kinh tế cũng còn nhiều khó khăn chưa cân đối đầy đủ 4 nhóm chất. Trước
tình hình thực tế hiện nay, trong cuộc sống hàng ngày tại các gia đình có con
nhỏ cũng như chế độ giáo dục chăm sóc trẻ ở trường mầm non còn có nhiều
quan niệm khác nhau về vấn đề dinh dưỡng.
Tôi quyết định phối kết hợp cùng các cô cáp dưỡng, thực hành chế biến
món ăn ngay tại lớp mình. Và trong buổi họp tôi cũng tuyên truyền kiến thức
nuôi con khỏe, dạy con ngoan, nuôi con theo khoa học…. Qua đó phụ huynh
biết được:
- Biết khẩu phần ăn như thế nào là đầy đủ và hợp lý…
- Biết giá trị dinh dưỡng của các loại thực phẩm thông thường có ở địa phương
- Biết được 10 lời khuyên vàng của tổ chức y tế thế giới WHO
- Biết được những điều cơ bản về vệ sinh an toàn thực phẩm.
- Cách tổ chức tiết học giáo dục dinh dưỡng vệ sinh an toàn dưới nhiều hình
thức: câu đố, trò chơi, thơ truyện, …giúp trẻ hứng thú tham gia học tập tốt.
- Thống nhất với các bậc cha mẹ về nội quy, các hình thức và biện pháp phối
hợp giữa phụ huynh và nhà trường trong từng giai đoạn và cả năm học.
- Trong khi phối hợp với các bậc cha mẹ, tôi cần căn cứ vào điều kiện và hoàn
cảnh cụ thể của từng gia đình để có hình thức phối hợp phù hợp và mang lại
hiệu quả cao nhất.
- Những lúc đón và trả trẻ, tôi trao đổi với phụ huynh về tình hình ăn uống, sức
khỏe của trẻ ở trường. Dựa vào kết quả theo dõi biểu đồ phát triển của trẻ, cô
đánh giá phân loại tình trạng dinh dưỡng của trẻ, tìm ra nguyên nhân như: tìm

hiểu cách chế biến thức ăn cho trẻ của người mẹ (qua trao đổi với người mẹ) để
tham mưu, xây dựng kế hoạch, biện pháp can thiệp hợp lý, hữu hiệu
*Từ những kết quả về kiến thức và thực hành chế biến bữa ăn cho trẻ tại lớp
100% phụ huynh tin tưởng và thu hút vào sự tham gia vào các hoạt động chăm
sóc, giáo dục trẻ của lớp và của nhà trường cũng như ở nhà. Lớp tôi giảm tỷ lệ
trẻ suy dinh dưỡng nhất so với toàn trường. Với ý tưởng này lớp tôi được BGH
nhân ra diện rộng toàn trường.
* Phối kết hợp với giáo viên và cô nuôi:
Giáo viên và cô nuôi luôn có sự trao đổi với nhau như chị em trong cùng
một nhà. Vì giáo viên là người trực tiếp cho trẻ ăn, sát sao trong từng bữa ăn của
trẻ. Biết được trẻ thích ăn những món gì thì phát huy và không thích ăn những món
gì. Bởi trẻ có ăn được thì mới lớn nhanh, mới có sức khỏe để vui chơi, học tập.
Vì thế hàng ngày sau khi nấu ăn xong các cô nuôi thường xuyên dự giờ ăn
các lớp qua đó nắm được khẩu vị ăn của trẻ. Sau đó trao đổi với cô giáo của trẻ
xem thức ăn hôm nay trẻ ăn như thế nào? Có hợp khẩu vị không? Trẻ có ăn hết
xuất không?. Từ đó các cô thay đổi món ăn cho phù hợp với từng độ tuổi (Nhà
trẻ và mẫu giáo) và từng trẻ. Các món ăn cho trẻ luôn phải thay đổi theo mùa,
theo khẩu vị của trẻ để tránh sự nhàm chán khi ăn. Khi thay đổi những món mới
thì trẻ ăn có hợp khẩu vị không và cách chế biến như vậy trẻ có thích ăn không.
17


* Kết quả: Qua công tác tuyên truyền và phối kết hợp với phụ huynh đã
thu được kết quả đáng mừng đó là: Đa số các bậc phụ huynh hiểu được ý nghĩa
và tầm quan trọng của việc nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ mầm non ở trường cũng
như ở gia đình, từ đó phụ huynh có biện pháp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ được tốt
hơn.
2.4. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Qua quá trình vận dụng các biện pháp tích cực cũng như sự nổ lực phấn
đấu của bản thân, đế cuối năm đã thu được kết quả như sau:

* Kêt quả khảo sát cuối năm so với đầu năm được thể hiện như sau:
Nội dung khảo sát

Số trẻ được khảo
sát đầu năm học

Tỷ lệ %

1. Chất lượng chăm sóc
Tổng số trẻ đến trường / trẻ điều tra của lớp
37/37
Tổng số trẻ ăn bán trú
37
Trẻ khám sức khỏe định kỳ
37
Trẻ mắc các bệnh
3
Trẻ có thói quen nề nếp vệ sinh cá nhân
37
2. Chất lượng nuôi dưỡng
Trẻ cân nặng bình thường
36

97,2

Trẻ Suy dinh dưỡng

2,7

Trẻ chiều cao bình thường

Trẻ thấp còi

1
35
2

100
100
100
8,1
100

95
5

- 100% cán bộ giáo viên, nhân viên được tập huấn kiến thức thực hành dinh
dưỡng, vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh chế biến, vệ sinh trong ăn uống.
- 100% cán bộ giáo viên, nhân viên thực hiện tốt công tác chăm sóc sức
khỏe, vệ sinh và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường. Quy trình sơ
chế, chế biến, chia ăn, cho trẻ.
- Trẻ ăn ngon miệng hơn và hết suất. Trẻ nhận biết được thế nào là một bữa
ăn hợp lý đặc biệt là trẻ biết vệ sinh văn minh trong bữa ăn.
- Trẻ có được những bữa ăn đầy đủ dinh dưỡng, những bữa ăn có hương vị
thơm ngon, kích thích sự thèm ăn nhờ vào sự thay đổi bữa ăn và cách chế biến
món ăn hợp lý.
- Thực đơn của nhà trường luôn thay đổi theo tuần, theo mùa có nhiều món
ăn mới phong phú, màu sắc bắt mắt hấp dẫn trẻ giúp trẻ ăn ngon miệng, ăn hết
xuất không có thức ăn thừa.
Có được kết quả trên là do có sự chỉ đạo sát sao của ban giám hiệu nhà
trường cùng với sự chuyển biến về nhận thức của phụ huynh, cộng với sự nhiệt

tình của cô giáo, tổ cấp dưỡng đã phối hợp thực hiên tốt công tác chăm sóc nuôi
dưỡng và giáo dục dinh dưỡng cho trẻ nhằm nâng cao sức khỏe cho trẻ giúp trẻ
phát triển tốt 5 lĩnh vực: phát triển thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, phát triển tình
cảm xã hội, phát triển thẩm mỹ.
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
18


* Kết luận:
Việc chăm sóc giáo dục dinh dưỡng trẻ mầm non là vấn đề hết sức cần thiết
và vô cùng quan trọng vì ăn uống khoa học hợp lý là cơ sở của sự phát triển về
sức khỏe, ăn uống theo đúng nhu cầu dinh dưỡng ngủ đúng, ngủ đủ thì cơ thể và
trí tuệ phát triển tốt. Trẻ khỏe mạnh hồn nhiên, thông minh, tích cực tham gia
vào các hoạt động học tập, vui chơi, chống đỡ một số bệnh tật, đồng thời ăn
uống đúng, đủ chất là thể hiện văn hóa ẩm thực của người Việt Nam. Chính vì
thế mà bản thân là một cô giáo Mầm non tôi không ngừng học tập, trau dồi kiến
thức và kinh nghiệm của mình áp dụng vào làm tốt công tác chăm sóc nuôi
dưỡng và giáo dục dinh dưỡng cho trẻ. Luôn quan tâm đến nhu cầu dinh dưỡng
của trẻ đảm bảo đủ lượng, đủ chất cân đối theo 4 nhóm thực phẩm, thay thế thực
đơn theo tuần phù hợp khẩu phần ăn của trẻ - phù hợp theo mùa. Cô luôn nhẹ
nhàng, tình cảm gần gũi yêu thương chăm sóc trẻ tạo không khí đầm ấm hào
hứng như gia đình, tổ chức tốt các hoạt động để phụ huynh yên tâm, tin tưởng
thu hút cháu đến với cô ngày càng đông hơn. Các cháu hiểu biết nhiều điều,
ngoan, sạch sẽ, có nề nếp thói quen văn minh để hình thành nhân cách trẻ toàn
diện 5 lĩnh vực phát triển. Ngoài ra cô cần sáng tạo linh hoạt trong việc xây
dựng kế hoạch mục tiêu nội dung, hình thức, có biện pháp mới phù hợp với kế
hoạch chăm sóc hơn.
Phối hợp chặt chẽ gia đình, nhà trường, thống nhất một số phương pháp
chăm sóc, nuôi dạy giúp trẻ không bị thấp còi, suy dinh dưỡng và mắc một số
bệnh khác. Cô chú ý nhiều đến trẻ yếu, trẻ cá biệt, có biện pháp động viên khích

lệ, khen ngợi kịp thời giúp trẻ hứng thú ăn ngon miệng, ăn hết suất, không kén
chọn thức ăn. “Trẻ khỏe mạnh, hồn nhiên, thông minh, nhanh nhẹn, là niềm
hạnh phúc của gia đình,là tương lai của đất nước”.
* Kiến nghị:
Qua quá trình thực hiện viết sáng kiến kinh nghiệm tôi có một số đề xuất:
- Cần phối hợp tạo sự liên kết giữa gia đình và nhà trường chia sẻ hỗ trợ lẫn
nhau trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻ, đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển
vế mọi mặt của trẻ, tạo điều kiện tốt mục tiêu chăm sóc giáo dục trẻ.
- Hàng năm phòng giáo dục và đào tạo phối hợp với trung tâm y tế dự
phòng Huyện tổ chức tập huấn về chuyên đề giáo dục dinh dưỡng và VSATTP
cho tất cả các giáo viên trong huyện đề được tham gia.
- Nhà trường có kế hoạch mua sắm, bổ sung trang thiết bị để phục vụ ăn
uống đặc biệt tham mưu với các cấp lãnh đạo địa phương tu sửa, mua sắm thêm
những trang thiết bị hiện đại hơn nhằm phục vụ cho công tác chăm sóc, nuôi
dưỡng giáo dục trẻ.
- Các nhóm lớp hàng năm trang trí môi trường trong và ngoài lớp và cần
chú trọng hơn về góc tuyên truyền với phụ huynh.
Trên đây là sáng kiến nhỏ của bản thân đã áp dụng vào lớp mình đang thực
hiện và đạt được hiệu quả rất cao.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Nga Thủy, ngày 12 tháng 4 năm 2019
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình,
19


không sao chép nội dung của người khác
Người thực hiện


Mai Thị Lý

Phạm Thị Hường

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nghị quyết hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành trung ương Đảng (khóa
VIII) về định hướng phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa
hiện đại hóa.
2. Chuyên đề hè năm 2016-2017 của sở giáo dục và đào tạo Thanh Hóa.
3. Quyết định số 2824-QĐ-BYT do Bộ Y tế ban hành 30/7/2007 về việc
Phê duyệt bảng nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho người Việt Nam.
20


DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNH KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Phạm Thị Hường
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên Trường MN Nga Thủy
TT

Tên đề tài SKKN

Cấp đánh giá
xếp loại
(Phòng, Sở,
Tỉnh…)


Kết quả đánh
giá xếp
Năm học đánh
loại( A,B
giá xếp loại
hoặc C)
21


1
2
3

4

5
6
7
8

9

Nâng cao chất lượng
cho trẻ MG 5-6
tuổilàm quen với văn
học
Một số phương pháp
dạy môn LQVMTXQ
Nâng cao chất lượng
giáo dục dinh dưỡng

cho trẻ MG 5 tuổi
Một số kinh nghiệm
dạy trẻ 5 -6 tuổi hình
thành biểu tượng toán
sơ đẳng
Kinh nghiệm dạy
hoạt động tạo hình
cho trẻ 5-6 tuổi
Kinh nghiệm dạy
hoạt động âm nhạc
cho trẻ MG 5 – 6 tuổi
Trò chơi dân gian với
trẻ MG 5 tuổi ở
trường Mn Nga Thủy
Trò chơi dân gian với
trẻ MG 5 tuổi ở
trường MN Nga Thủy
Một số biện pháp
kích thích sự hứng
thú cho trẻ 5 -6 tuổi
Làm quen với văn
học

PGD&ĐT

C

2008-2009

PGD&ĐT


C

2009-2010

PGD&ĐT

C

2010-2011

PGD&ĐT

C

2011-2012

PGD&ĐT

B

2012-2013

PGD&ĐT

B

2013-2014

PGD&ĐT


A

2014-2015

PGD&ĐT

B

2015-2016

PGD&ĐT

B

2017 -2018

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGA SƠN

22


SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
CHĂM SÓC GIÁO DỤC DINH DƯỠNG - VỆ SINH
AN TOÀN THỰC PHẨM CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI
Ở TRƯỜNG MẦM NON NGA THỦY


Người thực hiện: Phạm Thị Hường
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Mầm Non Nga Thủy
SKKN thuộc lĩnh vực: Chuyên môn

THANH HÓA, NĂM 2019

23


MỤC LỤC
Tên đề mục

Trang

Mục lục
1. Mở đầu

1

1.1. Lý do chọn đề tài

1

1.2. Mục đích nghiên cứu

2

1.3. Đối tượng nghiên cứu


2

1.4. Phương pháp nghiên cứu

2

2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm

2

2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm

2

2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

3

2.3. Các giải pháp tổ chức thực hiện

6

2.3.1. Đầu tư cơ sở vật chất trang thiết bị để phục vụ chăm sóc giáo
dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm

6

2.3.2. Tổ chức tốt bữa ăn cho trẻ ở tại nhóm lớp


7

2.3.3. Đưa hoạt động giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực
phẩm vào các hoạt động trong ngày

9

2.3. 4.Giáo dục dinh dưỡng thông qua tổ chức hội thi, các ngày hội,
ngày lễ

14

2.3.5. Ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục dinh dưỡng và vệ
sinh an toàn thực phẩm.

15

2.3.6. Công tác tuyên truyền phối kết hợp với phụ huynh trong chăm
sóc nuôi dưỡng và giáo dục trẻ

16

2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm

18

3. Kết luận, kiến nghị

19


Tài liệu tham khảo
Danh mục các đề tài sáng kiến kinh nghiệm được hội đồng các cấp
đánh giá xếp loại

24


1


×