Tải bản đầy đủ (.docx) (194 trang)

Giáo dục năng lực văn hóa ứng xử học đường cho sinh viên đại học sư phạm vùng đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh hiện nay.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.27 MB, 194 trang )

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ NGỌC HÀ

GIÁO DỤC NĂNG LỰC VĂN HÓA ỨNG XỬ
HỌC ĐƯỜNG CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM VÙNG
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG TRONG
BỐI CẢNH HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN - 2019
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM


22
2 2

NGUYỄN THỊ NGỌC HÀ

GIÁO DỤC NĂNG LỰC VĂN HÓA ỨNG XỬ
HỌC ĐƯỜNG CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM VÙNG
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
HIỆN NAY

TRONG BỐI CẢNH

Ngành: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ GIÁO DỤC
Mã số: 9140102



LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN DỤC QUANG

THÁI NGUYÊN - 2019

2


3 3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong
Luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào.
Tác giả Luận án

Nguyễn Thị Ngọc Hà


4 4
MỤC LỤC


5 5
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TT
1
2
3
4

5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15

Chữ viết tắt
CB
ĐBSCL
ĐH
GD & ĐT
GV
HS
KN
NL
PP
SVĐHSP
TN
VH
VHƯX
VHƯXHĐ
XH

Chữ đầy đủ

Cán bộ
Đồng bằng sông Cửu Long
Đại học
Giáo dục và Đào tạo
Giáo viên, giảng viên
Học sinh
Kỹ năng
Năng lực
Phương pháp
Sinh viên đại học sư phạm
Thực nghiệm
Văn hóa
Văn hóa ứng xử
Văn hóa ứng xử học đường
Xã hội


6 6
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1.

Khung năng lực VHƯXHĐ cho SVĐHSP trong bối cảnh hiện nay

Bảng 2.1.

Quan niệm của SV về VHƯXHĐ

Bảng 2.2.

Biểu hiện về thái độ của SV đối với VHƯXHĐ


Bảng 2.4.

Các hành vi ứng xử của SV trong học tập

Bảng 2.5.

Các hành vi ứng xử trong các tình huống giao tiếp SV - SV

Bảng 2.6.

Các hành vi ứng xử trong các tình huống giao tiếp SV - CB/GV

Bảng 2.7.

Các hành vi ứng xử đối với những vấn đề cá nhân/riêng tưtrong mối quan hệ SV-SV

Bảng 2.8.

Thực trạng về mục tiêu giáo dục năng lực VHƯXHĐqua ý kiến của SV

Bảng 2.9.

Mục tiêu giáo dục năng lực VHƯXHĐ qua ý kiến của GV

Bảng 2.10.

Nội dung giáo dục năng lực VHƯXHĐ qua ý kiến của SV

Bảng 2.11.


Nội dung giáo dục năng lực VHƯXHĐ qua ý kiến của GV

Bảng 2.12.

Hình thức tổ chức giáo dục năng lực VHƯXHĐqua khảo sát ý kiến SV

Bảng 2.13.

Hình thức tổ chức giáo dục năng lực VHƯXHĐqua khảo sát ý kiến GV

Bảng 2.14.

Đánh giá trong giáo dục VHƯXHĐ qua ý kiến SV

Bảng 2.15.

Đánh giá trong giáo dục năng lực VHƯXHĐ qua khảo sát ý kiến GV

Bảng 2.16.

Đánh giá của sinh viên về các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình giáo dục năng lực văn
hóa ứng xử học đường

Bảng 2.17.

Đánh giá của GV về các yếu tố ảnh hưởngđến quá trình giáo dục năng lực VHƯXHĐ

Bảng 3.1.


Thang đánh giá kết quả bồi dưỡng, nâng cao nhận thức

Bảng 3.2.

Thang đánh giá kết quả hình thành kỹ năng

Bảng 3.3.

Danh mục các hoạt động rèn luyện năng lực VHƯXHĐ

Bảng 3.4.

Kết quả khảo sát đầu vào về nhận thức và kỹ năng của SV nhóm TN

Bảng 3.5.

Kết quả khảo sát sau thực nghiệm lần 1 và lần 2 về nhận thức và kỹ năng của SV
nhóm TN


7 7
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ


8 8
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
VHƯX thể hiện trình độ trình độ đạo đức, thẩm mỹ, diện mạo nhân cách của cá nhân trong cộng
đồng. Thông qua những biểu hiện ứng xử của một cá nhân, một cộng đồng, một dân tộc, người ta có thể
đánh giá được trình độ phát triển của con người và của xã hội. Vì vậy, văn hóa ứng xử luôn là nội dung

hàng đầu trong giáo dục lối sống của cá nhân, gia đình, nhà trường.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển của khoa học công nghệ, con người được tiếp cận
với nhiều nhân cách, nhiều nền văn hóa khác nhau và các nguồn thông tin phong phú từ nhiều kênh, nguồn
khác nhau. Hệ quả của điều này là lối sống và định hướng hành vi, thái độ của cá nhân trở nên đa dạng hơn;
từ đó làm nảy sinh những rối loạn nhất định trong hành vi, thái độ ứng xử và dẫn đến sự xung đột giữa giá
trị truyền thống và giá trị đương đại. Trong những năm gần đây, các phương tiện thông tin đại chúng đã
đăng tải khá thường xuyên những câu chuyện về bất cập về VHUX của GV như: Đối với HS: Thiếu
tôn trọng HS (ví dụ: Khi HS có sự phản biện hoặc không đồng ý với quan điểm của thầy thì thầy coi như
đó là sự hỗn láo), xâm phạm thể xác và tinh thần của HS (ví dụ: chửi mắng, đe dọa HS; có hành vi bạo
lực, dâm ô với HS) [74], [81]; đưa ra những hình phạt phi văn hóa đối với HS (ví dụ: ép HS uống
nước giẻ lau, ăn ớt, dán băng keo vào miệng HS…) [79], [80]. Đối với đồng nghiệp: Cư xử thiếu
thiện chí, thiếu tôn trọng đồng nghiệp (ví dụ: Nói xấu, ganh tị với đồng nghiệp; có lời nói, thái độ
thiếu tôn trọng đồng nghiệp, người lớn tuổi) [85]. Đối với phụ huynh: Bị động, lúng túng, thiếu kinh
nghiệm trong ứng xử (ví dụ: Quỳ gối trước phụ huynh khi được yêu cầu; có cử chỉ, lời nói thiếu tôn
trọng phụ huynh) [83] hoặc tình trạng lạm thu tại một số cơ sở giáo dục phổ thông [84]. Bên cạnh đó,
kết quả khảo sát của tác giả Nguyễn Thị Bích Hồng và cộng sự được thực hiện trên 200 SV Trường ĐH Sư
phạm TP.HCM và 53 giáo viên, nhân viên trường phổ thông tại TP. HCM cho thấy: Có 26,5% SV cảm thấy
bình thường trước những sự việc tiêu cực trong ngành giáo dục gần đây. Những SV này giải thích rằng trước
đây bản thân họ từng bị giáo viên cư xử không tốt và hiện nay các em của họ vẫn tiếp tục chịu đựng thái độ
không đúng mực của thầy cô trường phổ thông. Vì vậy, những thông tin vừa qua không làm cho cho họ bất
ngờ nữa [82].
Tuy nhiên, không chỉ GV là chủ thể của những bất cập về ứng xử mà một bộ phận HS, SV cũng có
những biểu hiện hành vi phi văn hóa trong mối quan hệ với GV: Cãi lại khi bản thân có lỗi, khi bị phê bình;
trả lời cộc lốc, không chào hỏi, ra vào lớp không xin phép, xé bài kiểm tra trước mặt GV, có những phát
biểu khiếm nhã về GV trên mạng xã hội, ăn uống, nói chuyện riêng trong giờ học, chọc phá GV. Đối với
SV, cũng có nhiều biểu hiện đáng lưu ý về trang phục, kỷ luật lớp học, sự tôn trọng GV [75].


9 9
Nâng cao năng lực ứng xử văn hóa là một trong những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu được xác định

trong Đề án “Xây dựng văn hóa ứng xử trong trường học giai đoạn 2018 - 2025” (được Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt ngày 3 tháng 10 năm 2018 và được Bộ GD&ĐT ban hành kế hoạch thực hiện theo Quyết
định số 1506/QĐ- BGDDT ngày 31/5/2019) nhằm đạt mục tiêu chung là tạo chuyển biến căn bản về ứng
xử văn hóa của CB quản lý, nhà giáo, nhân viên, HS, SV. Một trong những định hướng được xác định để
đạt mục tiêu nói trên là tổ chức các hoạt động về giáo dục VHƯX trong chương trình đào tạo GV trong các
cơ sở đào tạo sư phạm (Điều 1 - Khoản 2 - Mục 4) [76]. Bên cạnh đó, năng lực VHUX cũng là yêu cầu đối
với GV để Xây dựng môi trường giáo dục (tiêu chuẩn 3) và Phát triển mối quan hệ giữa nhà trường, gia
đình và XH (tiêu chuẩn 4) [77] được quy định trong Chuẩn nghề nghiệp GV (Ban hành kèm theo Thông
tư số 20/2018/TT- BGDĐT ngày 22 tháng 8 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT)
Với những đặc trưng về văn hóa vùng miền cùng sự tác động của xu thế hội nhập và sự phát
triển của khoa học - công nghệ, SVĐHSP vùng ĐBSCL đã bộc lộ một số bất cập về sự linh hoạt, sự
phù hợp, sự lễ độ, sự tôn trọng, tính kỷ luật, sự phối hợp… trong mối quan hệ với CB/GV, với SV
trong các hoàn cảnh ứng xử đa dạng của học đường. Những bất cập này là nguyên nhân của sự rạn
nứt mối quan hệ bạn bè, những ấn tượng không tốt về hình ảnh SVĐHSP, những rào cản trong việc
xây dựng văn hóa nhà trường và môi trường giáo dục. Nếu không được giáo dục từ cơ sở đào tạo sư
phạm, những bất cập này sẽ trở thành thói quen và bộc lộ qua những biểu hiện ứng xử phi văn hóa
trong các mối quan hệ sư phạm, trong hoạt động nghề nghiệp. Do vậy, việc giáo dục năng lực
VHƯXHĐ cho SVĐHSP vùng ĐBSCL - những thầy cô giáo tương lai - những người sẽ ảnh hưởng trực
tiếp đến văn hóa ứng xử của thế hệ HS sau này - là việc làm cấp thiết và có ý nghĩa đặc biệt.
Việc giáo dục năng lực VHƯXHĐ cho SVĐHSP vùng ĐBSCL đã được thực hiện tại các cơ sở đào
tạo sư phạm thuộc khu vực ĐBSCL với những hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp. Tuy nhiên, để xây dựng
VHƯXHĐ trong bối cảnh hiện nay, cần xem năng lực VHƯXHĐ là một mục tiêu của quá trình đào tạo
để SV có thể thực hiện được năng lực VHƯXHĐ trong các tình huống đa dạng của mối quan hệ người người ở trường ĐH; đồng thời đặt nền tảng cho văn hóa ứng xử trong lao động sư phạm tương lai. Muốn
vậy, cần có những công trình nghiên cứu về lý luận và thực trạng của vấn đề này cùng những biện pháp
giáo dục đảm bảo tính khoa học và khả thi để thúc đẩy quá trình giáo dục diễn ra thuận lợi và đạt hiệu
quả. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề này.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “ Giáo dục năng lực văn hóa ứng xử học
đường cho sinh viên đại học sư phạm vùng đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh hiện nay ” để
thực hiện nghiên cứu Luận án Tiến sĩ Giáo dục học.



1010
2. Mục đích nghiên cứu
Xây dựng các biện pháp giáo dục năng lực VHƯXHĐ cho SVĐHSP vùng ĐBSCL trong bối cảnh
hiện nay nhằm góp phần nâng cao năng lực VHƯX trong trường ĐH và trong lao động sư phạm tương
lai.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình giáo dục năng lực VHƯXHĐ cho SVĐHSP trong bối cảnh hiện nay.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Mối quan hệ giữa giáo dục VHƯXHĐ với việc phát triển năng lực VHƯXHĐ cho SVĐHSP vùng
ĐBSCL trong bối cảnh hiện nay.
4. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học
4.1. Câu hỏi nghiên cứu
Cần có những biện pháp nào để ngăn ngừa, hạn chế những bất cập về văn hóa ứng xử trong trường
ĐH và trong trường phổ thông của vùng ĐBSCL trong bối cảnh hiện nay?
4.2. Giả thuyết khoa học
Năng lực VHƯXHĐ là một năng lực cần thiết cho cả thầy lẫn trò trong bối cảnh hiện nay. Nếu
các biện pháp giáo dục năng lực VHƯXHĐ được xây dựng theo hướng vừa hình thành năng lực
VHƯX cho SV tại cơ sở đào tạo sư phạm, vừa tạo nền tảng cho việc hình thành năng lực VHƯX
trong lao động sư phạm tương lai; đồng thời được tổ chức thực hiện theo đúng yêu cầu và thời điểm,
phù hợp với đặc điểm của SVĐHSP vùng ĐBSCL thì sẽ hướng SV vào việc thể hiện năng lực
VHƯXHĐ trong các mối quan hệ người - người, góp phần ngăn ngừa, hạn chế những bất cập về
VHƯXHĐ tại các cơ sở đào tạo sư phạm và các cơ sở giáo dục phổ thông trong lao động sư phạm
tương lai .
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về giáo dục năng lực VHƯXHĐ cho SVĐHSP trong bối cảnh hiện
nay.
5.2. Khảo sát và đánh giá thực trạng về năng lực VHƯXHĐ của SVĐHSP vùng ĐBSCL, thực
trạng về giáo dục năng lực VHƯXHĐ cho SVĐHSP vùng ĐBSCL trong bối cảnh hiện nay.

5.3. Đề xuất các biện pháp giáo dục năng lực VHƯXHĐ cho SVĐHSP vùng ĐBSCL trong bối
cảnh hiện nay.
5.4. Tổ chức thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính khả thi và tính hiệu quả của các biện pháp.
6. Phạm vi nghiên cứu
6.1. Các hoạt động giáo dục năng lực VHƯXHĐ cho SVĐHSP vùng ĐBSCL .
6.2. Địa bàn điều tra thực trạng giới hạn trong SVĐHSP năm thứ 2 của 3 trường: Đại học Cần


1111
Thơ, Đại học An Giang và Đại học Đồng Tháp.
6.3. Thực nghiệm sư phạm được thực hiện đối với SVĐHSP năm thứ 2 của trường Đại học Đồng
Tháp.
6.4. VHƯXHĐ được giới hạn trong mối quan hệ người - người: SV-SV, SV-CB/GV trong các
tình huống ứng xử của đời sống học đường.
6.5. Các tình huống ứng xử được giới hạn trong phạm vi các diễn biến thường nhật trong
trường học và các vụ việc liên quan đến hoạt động dạy học, giáo dục của trường đại học.
6.6. Lao động sư phạm tương lai của SVĐHSP vùng ĐBSCL được giới hạn trong phạm vi các
trường phổ thông.
6.7. Năng lực VHƯXHĐ được xây dựng dựa vào Chuẩn nghề nghiệp giáo viên.
6.8. Việc giáo dục năng lực VHƯXHĐ cho SVĐHSP vùng ĐBSCL được thực hiện bởi lực
lượng giáo dục nhà trường.
7. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp luận nghiên cứu
7.1.1. Tiếp cận hệ thống - cấu trúc
Quá trình giáo dục năng lực VHƯXHĐ cho SVĐHSP vùng ĐBSCL trong bối cảnh hiện nay là một hệ
thống gồm nhiều thành tố: mục tiêu giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp, hình thức giáo dục, các chủ
thể giáo dục (CB/GV), người được giáo dục (SV) và kết quả giáo dục. Mỗi thành tố có vai trò, chức năng
riêng nhưng không tồn tại độc lập mà có mối liên hệ mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau. Do đó, trong
nghiên cứu giáo dục năng lực VHƯXHĐ, nội hàm của mỗi thành tố cần thể hiện tính logic, nhất quán với các
thành tố còn lại và hướng đến mục tiêu giáo dục là các năng lực về VHƯXHĐ cho SVĐHSP vùng ĐBSCL

trong bối cảnh hiện nay.
Bên cạnh đó, thành phần cơ bản trong cấu trúc của năng lực bao gồm kiến thức, KN và thái độ.
Các thành tố này có mối liên hệ biện chứng với nhau. Việc xây dựng các biện pháp giáo dục năng lực
VHƯXHĐ không chỉ nhằm đạt được 3 mục tiêu riêng lẻ nói trên mà cần chú ý đến việc rèn luyện năng
lực tổng hợp bao gồm 3 thành tố. Ngoài ra, bên cạnh việc rèn luyện các năng lực riêng lẻ, cần quan tâm
rèn luyện năng lực tổng hợp bao gồm các năng lực riêng lẻ nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong
cấu trúc của năng lực VHƯXHĐ.
Ngoài ra, tiếp cận hệ thống - cấu trúc còn thể hiện qua việc trình bày kết quả nghiên cứu theo một
hệ thống thể hiện tính logic giữa các nội dung để đảm bảo tính khoa học của kết quả nghiên cứu.
7.1.2. Tiếp cận lịch sử - logic
Chủ đề VHƯXHĐ đã được nhiều tác giả đề cập, nghiên cứu theo nhiều hướng tiếp cận khác nhau và
được thực hiện trong thực tiễn bằng nhiều cách tác động khác nhau. Vì vậy, việc nghiên cứu vấn đề giáo dục


1212
năng lực VHƯXHĐ trong bối cảnh hiện nay là sự kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đây; đồng thời được
tác giả chọn lọc, bổ sung và phát triển cho phù hợp với mục đích nghiên cứu của luận án.
7.1.3. Tiếp cận hoạt động
Năng lực VHƯXHĐ thường được thể hiện qua các hoạt động học tập, rèn luyện, sinh hoạt, vui
chơi. Do đó, trong nghiên cứu về giáo dục năng lực VHƯXHĐ trong bối cảnh hiện nay, cần chú ý đến
việc đa dạng hóa những hình thức tổ chức hoạt động để SV được trải nghiệm và rèn luyện, thể hiện năng
lực VHƯXHĐ. Bên cạnh đó, việc đánh giá kết quả giáo dục năng lực VHƯXHĐ cũng được thực hiện
trong các hoạt động trong đó nảy sinh các tình huống ứng xử học đường.
7.1.4. Tiếp cận giá trị
Yếu tố cốt lõi của VHƯXHĐ chính là giá trị. VHƯXHĐ được cấu thành từ các giá trị và định
hướng cho những biểu hiện ứng xử. Vì vậy, trong nghiên cứu giáo dục năng lực VHƯXHĐ trong bối
cảnh hiện nay, cần quan tâm nghiên cứu những giá trị cốt lõi của VHƯXHĐ cùng những con đường,
cách thức để tiếp cận và làm chủ được các giá trị; qua đó giúp SV thể hiện các giá trị một cách hiệu quả
trong các tình huống, hoàn cảnh cụ thể.
7.1.4. Tiếp cận năng lực

Giáo dục năng lực VHƯXHĐ có nghĩa là thực hiện các tác động giáo dục nhằm hình thành năng
lực VHƯXHĐ. Hay nói cách khác là SV có thể vận dụng kiến thức, KN đã được lĩnh hội qua quá trình
giáo dục vào việc ứng xử trong các hoàn cảnh ứng xử cụ thể ở trường ĐH và trong lao động sư phạm
tương lai. Vì vậy, trong nghiên cứu về giáo dục năng lực VHƯXHĐ cho SVĐHSP vùng ĐBSCL trong
bối cảnh hiện nay, cần xác định khung năng lực phù hợp với yêu cầu của thực tiễn ứng xử trong trường
ĐH và tiệm cận với yêu cầu về năng lực VHUX trong lao động sư phạm tương lai.
7.2. Phương pháp nghiên cứu
7.2.1. Các phương pháp nghiên cứu lý luận
Sau khi thu thập, sưu tầm và đọc các tài liệu, công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về
VHƯXHĐ, giáo dục năng lực VHƯXHĐ và các vấn đề liên quan; tác giả sử dụng các phương pháp phân
tích, tổng hợp, hệ thống hóa. khái quát hóa… nhằm xây dựng cơ sở lý luận của luận án.
7.2.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.2.1. Phương pháp quan sát sư phạm
- Quan sát các hoạt động giao tiếp - ứng xử của SV ngoài lớp học nhằm thu thập thông tin bổ sung
cho kết quả điều tra thực trạng từ phiếu khảo sát.
- Dự giờ để quan sát hoạt động học của SV trong các giờ lên lớp nhằm đánh giá thực trạng về năng
lực VHƯXHĐ của SV trong hoạt động học và vấn đề giáo dục năng lực VHƯXHĐ cho SV trong giờ
học.
7.2.2.2. Phương pháp điều tra giáo dục


1313
- Phương pháp dùng bảng hỏi (Anket): Dùng bảng hỏi đối với GV và SV đang giảng dạy, học tập
tại các địa bàn nghiên cứu để tìm hiểu nhận thức, thái độ, hành vi về VHƯXHĐ và vấn đề giáo dục năng
lực VHƯXHĐ.
- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn trực tiếp GV và SV tại các địa bàn nghiên cứu để làm rõ
hơn những kết quả thu được qua bảng hỏi, đồng thời bổ sung thêm những thông tin cần thiết để phục vụ
cho việc nghiên cứu đề tài.
7.2.2.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
TN sư phạm được tiến hành trên đối tượng SVĐHSP năm thứ 2 của trường Đại học Đồng Tháp

nhằm kiểm tra tính hiệu quả và tính khả thi của các biện pháp được đề xuất.
7.2.2.4. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Học tập kinh nghiệm giáo dục từ các trường ĐH, từ thực tiễn nhằm phục vụ cho việc làm sáng tỏ
lý luận và bổ sung thông tin về thực trạng liên quan đến năng lực VHƯXHĐ và giáo dục năng lực
VHƯXHĐ cho SVĐHSP vùng ĐBSCL trong bối cảnh hiện nay.
7.2.2.5. Phương pháp chuyên gia
Hỏi ý kiến các chuyên gia về những vấn đề lý luận của đề tài, về bộ công cụ điều tra, về các biện
pháp giáo dục, về quy trình TN.
7.2.3. Phương pháp thống kê
Xử lí số liệu khảo sát, trình bày kết quả nghiên cứu định lượng kết quả điều tra thực trạng, kết quả
thực nghiệm làm cơ sở cho việc đánh giá thực trạng.
8. Những luận điểm bảo vệ
- Giáo dục năng lực VHƯXHĐ cho SVĐHSP vùng ĐBSCL hiện nay đã được thực hiện nhưng vẫn
chưa chú trọng đến việc hình thành năng lực cho SV. Vì vậy, một số bất cập về năng lực VHƯX vẫn còn hiện
hữu trong các cơ sở đào tạo sư phạm
- Giáo dục năng lực VHƯXHĐ cho SVĐHSP vùng ĐBSCL trong bối cảnh hiện nay cần được thực
hiện theo các khâu của quá trình giáo dục, trong đó chú trọng việc đưa SV trải nghiệm trong các hoạt
động đa dạng và kết hợp đánh giá kết quả giáo dục.
- Giáo dục năng lực VHƯXHĐ cho SVĐHSP vùng ĐBSCL trong bối cảnh hiện nay sẽ giúp SV
phát triển các năng lực VHƯXHĐ tại cơ sở đào tạo sư phạm và hình thành năng lực VHƯXHĐ trong lao
động sư phạm phù hợp với Chuẩn nghề nghiệp GV. Đó là các NL sau: NL về phẩm chất SVĐHSP, NL
xây dựng môi trường giáo dục, NL phát triển mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và XH.
- Giáo dục năng lực VHƯXHĐ cho SVĐHSP vùng ĐBSCL trong bối cảnh hiện nay chỉ đạt hiệu
quả với sự đảm bảo các điều kiện dưới đây: các khâu của quá trình giáo dục được thiết kế với quy trình
mang tính khoa học và cụ thể, việc kiểm tra - đánh giá được thực hiện sau mỗi quá trình giáo dục.
9. Đóng góp của luận án


1414
9.1. Về mặt lý luận

Luận án đã có những đóng góp về mặt lý luận như sau:
- Bổ sung các lý thuyết nền tảng về năng lực VHƯXHĐ và giáo dục năng lực VHƯXHĐ cho
SVĐHSP trong bối cảnh hiện nay.
- Xác định nội hàm các thành tố cấu trúc của quá trình giáo dục năng lực VHƯXHĐ cho SVĐHSP
trong bối cảnh hiện nay.
- Xây dựng quy trình giáo dục năng lực VHƯXHĐ cho SVĐHSP trong bối cảnh hiện nay.
9.2. Về mặt thực tiễn
Luận án đã có những đóng góp về mặt thực tiễn như sau:
- Phân tích và đánh giá thực trạng về năng lực VHƯXHĐ của SVĐHSP vùng ĐBSCL và thực
trạng về giáo dục năng lực VHƯXHĐ cho SVĐHSP vùng ĐBSCL trong bối cảnh hiện nay.
- Xác định các yếu tố tác động đến việc giáo dục năng lực VHƯXHĐ cho SVĐHSP vùng ĐBSCL
trong bối cảnh hiện nay.
- Đề xuất biện pháp giáo dục năng lực VHƯXHĐ cho SVĐHSP vùng ĐBSCL trong bối cảnh hiện
nay với qui trình thực hiện mang tính khoa học, cụ thể. Các biện pháp có giá trị tham khảo và gợi ý cho
việc vận dụng linh hoạt vào việc nghiên cứu và tổ chức hoạt động giáo dục năng lực VHƯXHĐ cho
SVĐHSP trong bối cảnh hiện nay tại các cơ sở đào tạo sư phạm thuộc ĐBSCL.
10. Cấu trúc luận án
Luận án gồm 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận về giáo dục năng lực văn hóa ứng xử học đường cho sinh viên đại học sư
phạm trong bối cảnh hiện nay.
Chương 2. Thực trạng giáo dục năng lực văn hóa ứng xử học đường cho sinh viên đại học sư phạm
vùng đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh hiện nay.
Chương 3. Biện pháp giáo dục năng lực văn hóa ứng xử học đường cho sinh viên đại học sư phạm
vùng đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh hiện nay.
Ngoài ra, luận án có phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, Danh mục các tài liệu tham khảo và
Phụ lục.


1515



1616
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC NĂNG LỰC
VĂN HOÁ ỨNG XỬ HỌC ĐƯỜNG CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TRONG
BỐI CẢNH HIỆN NAY
1.1. Tổng quan các nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Những nghiên cứu về năng lực văn hoá ứng xử học đường cho sinh viên đại học
1.1.1.1. Những nghiên cứu ngoài nước về năng lực văn hoá ứng xử học đường cho sinh viên đại học
Điểm qua các công trình nghiên cứu ngoài nước được tiếp cận, tác giả nhận thấy hầu hết các tác
giả tập trung vào những phạm trù hướng vào đầu ra là hành vi ứng xử học đường phù hợp chuẩn mực.
Các công trình nghiên cứu có thể được hệ thống hóa theo các hướng dưới đây:
- Hướng thứ nhất: Nghiên cứu về tác động của môi trường đến hành vi ứng xử của HS/SV:
Nhiều tác giả đã chỉ ra mối liên hệ giữa môi trường và hành vi ứng xử của HS/SV. Tính văn hóa trong
hành vi của người học tỉ lệ thuận với tính văn hóa, thẩm mỹ của môi trường. Ta có thể hệ thống hóa
các công trình nghiên cứu của các tác giả theo các nhóm sau:
+ Nghiên cứu về tác động của môi trường nói chung: Sandra Nadelson (2006) nghiên cứu về vai
trò của môi trường trong việc hình thành hành vi thẩm mỹ của SV [68]; Story, Linda Cox (2010) tìm hiểu
về tính hiệu quả của văn hóa trường học đến SV [70]. Daniel K. Korir, Felix Kipkemboi (2014) chỉ ra tác
động của môi trường học đường đến thành tích của người học ở quận Vihiga Kenya. [46]
+ Nghiên cứu về tác động của môi trường vật lý: Các tác giả Eric Wayne Hines (1996), Glen I.
Earthman và Linda Lemasters (1996), Ulrich, C. (2004)… cho rằng môi trường vật lý có ảnh hưởng đến
kết quả học tập và biểu hiện hành vi của người học [47], [49], [73]. Môi trường vật lý có thể bao gồm
những yếu tố sau: nhiệt độ, ánh sáng, âm thanh, các tiện ích, điều kiện phòng thí nghiệm, tính thẩm mỹ,
diện tích phòng, màu sắc, cách thiết kế, bày trí phòng học (Glen I. Earthman và Linda Lemasters, 1996);
sự sạch sẽ, thông thoáng, diện tích, địa điểm trường học (Knez & Kers, 2000; Ulrich, 2004) [49], [54],
[73].
+ Nghiên cứu về tác động của môi trường tâm lý - xã hội: Theo hướng nghiên cứu này có các tác
giả Johnson SL1 (2009); Linda Cox Story, Caroline A. Guardino, Elizabeth Fullerton Caroline (2010),
Mucella Uluga, Melis Seray Ozdenb, Ahu Eryilmaz (2011); Nayereh Shahmohammadi (2014) và một số

tác giả khác [70], [43], [61], [63]. Ví dụ, Perry den Brok, Mieke Brekelmans và Theo Wubbels (2004)
nghiên cứu về mối liên hệ giữa ứng xử GV- GV và kết quả hành vi của người học [65]; Alves, Helena;
Raposo, Mario (2010) tìm hiểu về tác động của hình ảnh nhà trường đến hành vi của SV [38]; các tác giả
Mucella Uluga, Melis Seray Ozdenb, Ahu Eryilmaz (2011) nghiên cứu về ảnh hưởng của thái độ của GV
đối với HS [61]; Fransa Weeks (2012) chỉ ra tác động của văn hóa học tập đến hành vi ứng xử của SV/HS
[48]; Nayereh Shahmohammadi (2014) quan tâm đến tác động của hành vi GV đến HS [63]; Radhika


1717
Kapur (2018) đề cập đến mối liên hệ của việc quản lý lớp học đến hành vi/ứng xử của SV [67. Theo các tác
giả, văn hóa tích cực từ nhà trường, lớp học tác động đến cảm xúc của HS/SV và những cảm xúc này được
thể hiện qua hành vi, thái độ ứng xử. Dấu hiệu cơ bản của văn hóa tích cực là tình yêu thương. Việc cảm
nhận đầy đủ tình yêu thương và những điều tốt đẹp là hạt giống nảy nở những hành vi tích cực của con
người. Một bầu không khí ứng xử không tốt sẽ dẫn tới những ứng xử XH xấu xí.
- Hướng thứ hai: Nghiên cứu về các biện pháp hình thành văn hóa ứng xử học đường. Theo
hướng nghiên cứu này có thể kể đến một số tác giả như: Botvin, G.J. (2000) nghiên cứu biện pháp ngăn
ngừa việc lạm dụng các chất gây nghiện trong trường học [39]; Lehr, C. A. & Christenson, S. L. (2002)
tìm hiểu việc thúc đẩy bầu không khí học đường tích cực [56]; Johnson; S. L. (2009) với công trình "Cải
thiện môi trường học đường để giảm thiểu bạo lực học đường” [52], David và Roger Johnson (1999) đề
xuất mô hình 3C cho một trường học an toàn. Đó là: Tập thể hợp tác (Cooperative community), Giải
quyết xung đột có tính xây dựng (Constructive conflict resolution), Giá trị công dân (Civic values) [36,
tr.364].
- Hướng thứ ba: Một số tác giả tiếp cận VHƯXHĐ theo hướng nghiên cứu những bất cập trong
hành vi ứng xử. Ví dụ: Chen (2008) tìm hiểu về yếu tố tác động đến hành vi ứng xử lệch chuẩn của người
học [51]; Langley, Dene John (2009) đề cập đến ảnh hưởng của hành vi ứng xử mang tính thách thức của
HS đến văn hóa lớp học [55]; Johnson SL1 (2009) chỉ ra hệ quả của các hành vi ứng xử lệch chuẩn [52];
Rachel C. F. Sun và Daniel T. L. Shek (2012) tập trung vào hành vi phi chuẩn mực trong lớp học của
HS/SV [66]. Love, P. & Simmons, J. (1998) nghiên cứu về những yếu tố ảnh hưởng đến sự gian lận trong
học thuật của SVSP năm cuối [57]; Szabo, Attila, Underwood, Jean (2004) đề cập đến mối liên hệ của
công nghệ thông tin và truyền thông với sự không trung thực trong học tập như: trong thi cử, trong việc

sử dụng sản phẩm trí tuệ của người khác và những yếu tố tác động đến các vấn đề này [72].
- Hướng thứ tư: Một số tác giả tập trung vào việc đánh giá sự tác động của yếu tố hỗ trợ hành vi ứng
xử trong các trường học. Ví dụ: Scott, T. M., & Barrett, S. B. (2004) nghiên cứu về việc sử dụng thời gian
của đội ngũ GV và HS/SV vào các quy định mang tính kỷ luật để đánh giá sự tác động của yếu tố hỗ trợ
VHƯX [69]; Horner, R. H., Todd, A. W., Lewis-Palmer, T., Irvin, L. K., Sugai, G., & Boland, J. B. (2004)
nghiên cứu về công cụ đánh giá hệ thống hỗ trợ VHƯX [50].
1.1.1.2. Những nghiên cứu trong nước về năng lực văn hoá ứng xử học đường cho sinh viên đại học
Trong các tài liệu được tiếp cận, tác giả nhận thấy hầu hết các nghiên cứu tập trung vào chủ đề
VHƯXHĐ theo các hướng sau:
- Tiếp cận VHƯXHĐ như một nội dung, một biểu hiện của văn hóa nhà trường: Các tác giả Phạm


1818
Thị Kim Anh, Nguyễn Văn Đản, Dương Thị Thúy Hà, Nguyễn Minh Hải, Dương Thị Diệu Hoa, Hồ Lam
Hồng, Phạm Quang Huân (2007) Phạm Minh Hạc, Lê Gia Khánh, Nguyễn Thị Hà Lan, Hoàng Hoa Quế,
Trần Quốc Thành (2011), Phạm Văn Khanh (2013), Nguyễn Dục Quang (2016) đã nêu lên ý nghĩa của
VHƯXHĐ, chỉ ra các chuẩn mực của ứng xử người - người [26, tr. 49-50], xác định các biểu hiện VHƯX
trong những mối quan hệ cụ thể: Người dạy - người học, người học - người học, lãnh đạo - GV, GV - GV
[11], [37]; đồng thời chỉ ra thực trạng về sự bất cập trong ứng xử thầy - trò hiện nay và hậu quả của thực
trạng này (Mạc Văn Trang, Phạm Thị Kim Anh, Trịnh Thị Minh Loan (2007), Lê Thị Thu Hà, Nguyễn
Thị Hằng Phương (2011) [36], [37].
- Tiếp cận VHƯXHĐ qua nghiên cứu về văn hóa giao tiếp trong nhà trường, các tác giả Vũ Gia
Hiền, Nguyễn Hữu Khương (2006), Trần Thái Hà, Hồ Thị Nhật (2009), Hoàng Thị Nhị Hà (2010) đã chỉ
ra cơ sở hình thành văn hóa giao tiếp, những nguyên tắc cần tuân thủ trong giao tiếp và lưu ý về tính linh
hoạt trong giao tiếp. Nghiên cứu của tác giả Hồ Thị Nhật (2009) đã chỉ ra cấu trúc của hành vi giao tiếp có
văn hóa gồm 3 yếu tố: yếu tố nhận thức, yếu tố tình cảm, yếu tố ý chí [21].
- Tiếp cận VHƯXHĐ qua sự ứng xử sư phạm, các tác giả Ngô Công Hoàn (1997), Nguyễn Văn
Hộ, Trịnh Trúc Lâm (2000) đã xây dựng hệ thống lý luận liên quan đến ứng xử sư phạm như khái
niệm, vai trò, chức năng, cấu trúc, yếu tố chi phối, quy trình của hoạt động...[8], [9]. Tác giả Trần
Văn Tính (2013) phân loại các tình huống dựa trên những cách tiếp cận khác nhau giúp GV có thể

nhận dạng loại tình huống và định hướng cách giải quyết [33]. Các tác giả Nguyễn Văn Hộ, Trịnh
Trúc Lâm (2000), Bùi Văn Huệ, Nguyễn Trí, Nguyễn Trọng Hoàn, Hoàng Thị Xuân Hoa (2004), Trần
Văn Tính (2013)… đưa ra những lưu ý về ứng xử hoặc những định hướng ứng xử dưới dạng tình
huống ứng xử, câu chuyện ứng xử [8], [10], [33].
- Nghiên cứu VHƯXHĐ theo tiếp cận trực tiếp, các tác giả Dương Thị Thúy Hà (2007), Tô Lan
Phương, Lê Gia Khánh (2011) đã xây dựng được một số vấn đề lý luận về VHƯXHĐ như: nội hàm, cấu
trúc, vai trò, đặc điểm, biểu hiện của VHƯXHĐ tương ứng với vai trò của từng chủ thể, thực trạng của
VHƯXHĐ. Nguyễn Thị Việt Hương, Tô Lan Phương (2011) chỉ ra những yếu tố tác động đến VHƯXHĐ
[11], [21].
Như vậy, cho đến nay, các tài liệu, công bố liên quan đến VHƯXHĐ của SV ĐH được tìm thấy
rộng rãi qua một số công trình nghiên cứu về văn hóa ứng xử trong nhà trường nói chung. Những kết quả
nghiên cứu ngoài nước tập trung vào việc tìm hiểu các yếu tố tác động và các biểu hiện ứng xử. Các
nghiên cứu trong nước đã xây dựng nên nền tảng tri thức phong phú về nội hàm, ý nghĩa, biểu hiện, yếu
tố tác động, qui tắc ứng xử; đồng thời chỉ ra thực tiễn đa dạng của ứng xử học đường. Tuy nhiên, những
vấn đề lý luận liên quan đến năng lực VHƯXHĐ vẫn chưa được tìm thấy trong các nghiên cứu về chủ đề
này.
1.1.2. Những nghiên cứu về giáo dục năng lực văn hoá ứng xử học đường cho sinh viên đại học


1919
1.1.2.1. Những nghiên cứu ngoài nước về giáo dục năng lực văn hoá ứng xử học đường cho sinh viên đại
học
Các nghiên cứu ngoài nước tập trung vào những biện pháp tác động để hình thành hành vi ứng xử.
Dưới đây là những kết quả có thể áp dụng với đối tượng là sinh viên đại học:
Các tác giả Carr, E. G., Dunlap, G., Horner, R. H., Koegel, R. L., Turnbull, A. P. (2002); Sailor,
W., và cộng sự (2002): Crone, D. A., & Horner, R. H. (2004); McCurdy, B. L., Mannella, M. C., &
Eldridge, N. (2003). Luiselli, J. K., Putnam, R. F., Handler, M. W., & Feinberg, A. B. (2005); Sugai, G.,
Horner, R. H., Lewis-Palmer, T., & Todd, A. (2005); Brian C, McKevitt, Angelisa D. Braaksma (2008)
tập trung vào việc xây dựng hệ thống hỗ trợ ứng xử trong trường học nằm giúp HS/SV khắc phục, hạn
chế hoặc vượt qua những vấn đề về ứng xử; Kent Johnson (2015) nghiên cứu về giáo dục ứng xử trong

thế kỷ 21 với những định hướng hành động cụ thể. Dưới đây là Cụ thể như sau:
- Tác giả Doug Maraffa (2015) trong nghiên cứu “Nâng cao chất lượng môi trường học đường và
ứng xử của HS/SV qua những hỗ trợ ứng xử tích cực” cho rằng: HS/SV được đặt trong vòng “nguy hiểm”
khi đối mặt với tình trạng bất cập giữa hoàn cảnh và nhu cầu. Trong tình trạng đó, khả năng hoặc sự sẵn
sàng của nhà trường thể hiện qua việc chấp nhận và hỗ trợ sẽ giúp các em có sự phát triển tốt về mặt XH,
tình cảm, trí tuệ. Để đạt được điều này, tác giả đã đề xuất một môi trường cần thiết nhằm hình thành một
văn hoá ứng xử phù hợp cho hoạt động học tập. Đó là hệ thống hỗ trợ ứng xử đáp ứng nhu cầu của người
dạy và người học. Một quá trình hỗ trợ linh hoạt, sáng tạo về ứng xử cho người được giáo dục gồm 3 giai
đoạn để hình thành hành vi phù hợp chuẩn mực; qua đó cải thiện môi trường học đường và ứng xử của
người được giáo dục. Những hỗ trợ này dựa trên nguyên tắc: sẵn sàng thừa nhận sai lầm, tha thứ, tôn
trọng, kỳ vọng cao, hướng thiện và ý thức về truyền thống tốt đẹp của nhà trường [86].
- Trong nỗ lực để ngăn ngừa hoặc giảm thiểu các hành vi có vấn đề như sử dụng chất gây nghiện
và trốn học, hầu hết chương trình can thiệp tập trung vào việc thay đổi nhận thức, thái độ, KN và hành vi
(Richard J. Bonnie, Marry Ellen O’Connell, 2004). Những chương trình này bao gồm các hoạt động đa
dạng như: dạy kỹ năng XH, hòa giải trực tuyến, và học cách vượt qua áp lực của bạn bè (Botvin, G.J.
2000) [54]. Những chương trình này cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cung cấp cho HS/SV một
số dịch vụ như dịch vụ tư vấn, các cuộc gặp giải quyết mâu thuẫn, nhóm hỗ trợ và hội thảo giải quyết vấn
đề. Thêm vào những dịch vụ hỗ trợ này, trường học cũng thiết lập các biện pháp an toàn, như các thiết bị,
camera theo dõi trong trường học và thông qua các biện pháp trách phạt với hiệu quả nhất định như đình
chỉ hoặc đuổi học các trường hợp sử dụng các chất cấm (Paglia & Room, 1999) [64].
Phương pháp giáo dục cũng là một vấn đề được các nghiên cứu cũng đề cập đến. Dưới đây là một
vài thông tin khái quát về vấn đề này:


2020
+ Phương pháp được đề xuất nhiều trong các nghiên cứu là lắng nghe, đàm thoại, thảo luận, quan
sát: dạy cho HS/SV biết quan sát các hành vi giao tiếp và ứng xử trong các nhóm XH (gia đình, nhà
trường…), dạy cho HS/SV hiểu giá trị nhân văn của các hành vi ứng xử mà các em đã quan sát được để
có thể sử dụng như một công cụ có ích cho bản thân và XH.
+ Bên cạnh đó, sự khen ngợi là yếu tố được các nghiên cứu lưu ý. Các nghiên cứu nhấn mạnh

rằng, ứng xử đẹp và kỷ luật là nền tảng của việc học tập. Theo các tác giả Doug Maraffa (2015), Brian C.
McKevitt, Angelisa D. Braaksma (2008), những ứng xử của nhà trường dưới hình thức đình chỉ hoặc
đuổi học đối với những vi phạm của người học sẽ làm gia tăng nguy cơ dấn sâu vào việc lạm dụng chất
gây nghiện hoặc tội ác [40], [86].
1.1.2.2. Những nghiên cứu trong nước về giáo dục năng lực văn hoá ứng xử học đường cho sinh viên đại
học
Ở Việt Nam, khái niệm NL được nhắc đến khá phổ biến từ năm 2011 khi đề cập đến lĩnh vực
GD&ĐT. Các nghiên cứu về NL tập trung vào các chủ đề xây dựng, phát triển chương trình đào tạo
và nhiều nhất là trong hoạt động dạy học. Nghiên cứu của tác giả Đặng Thành Hưng thể hiện rằng:
Giáo dục theo tiếp cận năng lực là kiểu giáo dục có 2 mặt: 1/ Xem năng lực của người học là mục tiêu
đào tạo, là kết quả giáo dục; 2/ Xem năng lực là nền tảng, là chỗ dựa của giáo dục, tức là giáo dục
phải dựa vào năng lực người học, đặc biệt là kinh nghiệm nền tảng và kinh nghiệm thường trực được
huy động thuộc vùng cận phát triển (L.X. Vygotsky) [13].
Điểm qua các công bố và các công trình khoa học trong nước, tác giả nhận thấy vấn đề giáo dục
năng lực VHƯXHĐ chưa được đề cập trong các nghiên cứu. Chủ đề được quan tâm nhiều nhất là nghiên
cứu về giáo dục VH giao tiếp trong nhà trường. Các nghiên cứu đều nhấn mạnh tầm quan trọng, sự cần
thiết của việc giáo dục, hình thành VHƯXHĐ. Chẳng hạn, tác giả Nguyễn Kim Hồng (2011) cho rằng:
“Vấn đề giáo dục văn hóa ứng xử, giao tiếp trong nhà trường đang trở thành vấn đề cấp thiết. Trường học
không chỉ mang đến cho HS/SV kiến thức mà còn phải xây dựng cho các em nền tảng VH giao tiếp, ứng
xử, biết cách sống chan hòa với mọi người … VHƯX trong trường học cần phải được bàn luận, được dạy
và được học ngay từ khi trẻ bắt đầu đến trường...; cần phải có những qui định rõ ràng về cách ứng xử sao
cho có văn hóa” [11, tr.29]; hoặc khi tiếp cận vấn đề theo phạm trù bạo lực học đường, hai tác giả
Nguyễn Đạt Đạm và Nguyễn Minh Thức nhận định: Giáo dục hành vi ứng xử VH cho HS/SV là nội dung
quan trọng góp phần giảm thiểu tình trạng bạo lực học đường [37, tr.155].
Trên cơ sở chỉ ra tầm quan trọng của việc giáo dục VHƯXHĐ, nghiên cứu của nhiều tác giả đã đề
xuất nhiều biện pháp giáo dục mang tính khái quát. Đó là giáo dục nhận thức, tình cảm; đồng thời rèn
luyện thói quen, hành vi ứng xử văn hóa (Nguyễn Đạt Đạm và Nguyễn Minh Thức, 2016), nâng cao chất


2121

lượng giáo dục của trường học thay vì trừng phạt (Đào Thị Oanh, 2016). Các tác giả Tô Thu Huyền, Lê
Ngọc Trà (2010) cùng chia sẻ quan điểm khi cho rằng: cần tạo ra môi trường giao tiếp để con người được
học tập, rèn luyện VH giao tiếp, ứng xử. Theo các tác giả, môi trường giao tiếp là môi trường trong đó thể
hiện sự bình đẳng, dân chủ, tình thương, bao dung, thân thiện, không áp đặt; mọi người đều cư xử với
nhau có VH theo đúng chuẩn mực về đạo đức, nếp sống sư phạm [36], [37].
- Đối với bậc đào tạo ĐH, các tác giả Dương Thị Thúy Hà (2007), Nguyễn Thị Minh Hiền (2009),
Nguyễn Thị Thu Cúc, Lê Minh Nguyệt- Lương Văn Nghĩa, Tô Lan Phương (2011), Hoàng Thị Chiến,
Nguyễn Thị Thanh Huyền - Trần Thanh Ngà (2012), Đỗ Thị Hằng Nga (2015) xem việc giáo dục VHƯX
cho SV là nhiệm vụ của nhà trường nhằm phát triển nhân cách, tạo lập môi trường VH lành mạnh trong
nhà trường; đồng thời góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng và phát triển nền VH Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc. Biện pháp giáo dục được các tác giả đề xuất bao gồm lồng ghép, tích hợp trong
dạy học; tổ chức cho SV được trải nghiệm trong hoạt động qua việc luyện tập hành vi, qua các hoạt động
tập thể, các hoạt động cơ bản của Đoàn, Đội (Nguyễn Thứ Mười, Giáp Bình Nga, Nguyễn Tùng Lâm, Tô
Lan Phương, 2011, Trần Nguyên Hào, 2014) [11], [12], [78].
Bên cạnh đó, các tác giả cũng quan tâm đến việc xây dựng môi trường văn hóa giáo dục thông qua
phát triển môi trường vật chất, môi trường tinh thần, môi trường XH và xây dựng chuẩn mực VHƯX
trong nhà trường. Trong các biện pháp được đề xuất, sự gương mẫu, chuẩn mực trong hành vi của GV là
một nội dung được các tác giả lưu ý. Chẳng hạn, nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hằng Phương (2011)
đã nhấn mạnh tầm quan trọng của sự gương mẫu: Giao tiếp, ứng xử là công việc đầu tiên của các thầy cô
đối với HS/SV, với đồng nghiệp và đó là bằng chứng sống động, chân thực nhất về giáo dục VH giao
tiếp.
Ngoài ra, các tác giả còn đề xuất một số biện pháp bổ sung để hình thành VHƯX trong nhà
trường như: hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm, tạo dư luận, giáo dục trong các buổi sinh hoạt
chính trị, nói chuyện chuyên đề hoặc các biện pháp giúp duy trì VHƯX như: kiểm tra, đánh giá, tự
kiểm tra; khen thưởng, trách phạt. Sự phối hợp đồng bộ giữa các lực lượng giáo dục trong và ngoài
trường được các tác giả xem như một điều kiện để công tác giáo dục VHƯX được thuận lợi.
Một số tác giả đề xuất các KN ứng xử cần thiết cho SV nói chung và SV sư phạm nói riêng. Chẳng
hạn, tác giả Dương Thị Thúy Hà (2007) đề xuất giáo dục KN giao tiếp và ứng xử sư phạm như là một nội
dung của văn hóa nhà trường để bước đầu hình thành KN giao tiếp giữa GV-GV, GV-HS/SV. các tác giả
Hoàng Thúy Hà (2009), Dương Thị Nga (2014) đề xuất KN hòa nhập với mọi người, KN lựa chọn ngôn

từ và điều chỉnh giọng nói, KN giao tiếp phi ngôn ngữ, KN lắng nghe, KN thấu hiểu sự khác biệt và giải
quyết những xung đột, KN kiềm chế cảm xúc bản thân…. Tác giả Đào Thị Oanh (2016) đề xuất các biện
pháp kiểm soát, ngăn ngừa bạo lực thông qua quản lý lớp học như: giáo dục giải quyết xung đột, giáo dục


2222
cách hòa giải và đàm phán hiệu quả, giáo dục trách nhiệm cho HS [36].
Như vậy, mặc dù phạm trù giáo dục năng lực VHƯXHĐ chưa được các tác giả chọn làm đối tượng
nghiên cứu nhưng nội hàm của năng lực VHƯXHĐ đã được các công trình nghiên cứu trong và ngoài
nước đề cập theo nhiều hướng tiếp cận khác nhau với nội dung và biện pháp giáo dục cụ thể, trong đó
chú trọng đến việc hình thành môi trường giáo dục thuận lợi cùng các điều kiện để giáo dục để hình thành
văn hóa học đường. Những biện pháp này có giá trị như một cơ sở tham khảo quý báu cho việc nghiên
cứu vế vấn đề giáo dục năng lực VHƯXHĐ cho SVĐHSP trong bối cảnh hiện nay.
1.1.3. Nhận xét các kết quả nghiên cứu về vấn đề liên quan đến luận án
1.1.3.1. Những vấn đề đã được nghiên cứu
Nhìn chung, các nghiên cứu đã mang lại những đóng góp quý báu cho việc hình thành hệ thống lý
luận về vấn đề VHƯXHĐ cho SV ĐH. Những vấn đề đã được nghiên cứu tập trung và đầy đủ bao gồm:
- Tầm quan trọng, vai trò của VHƯXHĐ và giáo dục VHƯXHĐ đối với sự phát triển của nhà
trường, đặc biệt là đối với người GV trong công tác dạy học, giáo dục con người.
- Ứng xử học đường trong mối quan hệ với văn hóa nhà trường, với văn hóa giao tiếp trong nhà
trường.
- Các mối quan hệ nảy sinh ứng xử học đường.
- Các tình huống ứng xử trong mối quan hệ thầy - trò trên lớp học.
- Thực trạng của VHƯXHĐ.
- Một số nội dung, phương pháp, biện pháp giáo dục VHƯXHĐ.
1.1.3.2. Những vấn đề chưa được nghiên cứu hoặc đã được đề cập nhưng cần được tiếp tục nghiên cứu
a. Những vấn đề chưa được nghiên cứu
Do các tác giả chưa chọn tiếp cận NL là hướng nghiên cứu nên những yếu tố thuộc về nội hàm vấn
đề giáo dục năng lực VHƯXHĐ cho SVĐH nói chung và SVĐHSP nói riêng chưa được xây dựng về mặt
lý thuyết và thực tiễn.

b. Những vấn đề đã được đề cập nhưng cần được tiếp tục nghiên cứu
Các thành tố thuộc về thành phần cơ bản trong nội hàm của phạm trù NL (kiến thức, KN, thái
độ) cùng với biện pháp trải nghiệm trong môi trường giao tiếp đã được thể hiện trong các nghiên cứu.
Đa số các nghiên cứu được tiến hành qua các phạm trù có liên quan như: văn hóa học đường, văn hóa
giao tiếp trong nhà trường, ứng xử sư phạm và một vài công trình đề cập đến VHƯXHĐ... Hầu như
chưa có công trình nghiên cứu chọn năng lực VHƯXHĐ làm đối tượng nghiên cứu trực tiếp. Vì vậy,
những vấn đề liên quan đến cơ sở lý luận của năng lực VHƯXHĐ cho SVĐHSP cần được bổ sung, hệ
thống hóa để hình thành hệ thống lý thuyết phù hợp. Nội dung nghiên cứu về giáo dục năng lực
VHƯXHĐ cho SVĐHSP nói riêng cần xây dựng hệ thống lý thuyết về các vấn đề sau: 1. Khái niệm về


2323
giáo dục năng lực VHƯXHĐ cho SVĐHSP; 2. Các yếu tố cấu thành năng lực VHƯXHĐ cho
SVĐHSP; 3. Khung NL văn hóa ứng xử học đường; 4. Các thành tố của quá trình giáo dục năng lực
VHƯXHĐ cho SVĐHSP; 5. Những yếu tố tác động đến quá trình giáo dục năng lực VHƯXHĐ cho
SVĐHSP.
1.1.3.3. Những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết
Từ kết quả nghiên cứu và những nhận định được trình bày ở mục 1.1.3.1 và 1.1.3.2, tác giả luận án
xác định những vấn đề luận án cần giải quyết như sau:
- Khung năng lực VHƯXHĐ cho SVĐHSP trong bối cảnh hiện nay.
- Hệ thống giá trị cốt lõi của VHƯXHĐ trong bối cảnh hiện nay.
- Nội hàm của quá trình giáo dục năng lực VHƯXHĐ cho SVĐHSP trong bối cảnh hiện nay.
- Những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình giáo dục năng lực VHƯXHĐ cho SVĐHSP trong bối
cảnh hiện nay.
- Quy trình giáo dục năng lực VHƯXHĐ cho SVĐHSP trong bối cảnh hiện nay.
1.3. Những vấn đề lý luận về giáo dục năng lực văn hóa ứng xử học đường cho sinh viên đại học sư
phạm trong bối cảnh hiện nay
1.3.1. Bối cảnh hiện nay và những vấn đề đặt ra đối với giáo dục năng lực văn hóa ứng xử học đường
cho sinh viên đại học sư phạm
1.3.1.1. Bối cảnh hiện nay

Sự vận động và phát triển của xã hội đã tạo ra những tác động đa dạng đến VHƯXHĐ của
SVĐHSP. Vì vậy, trong công tác giáo dục năng lực VHƯXHĐ cho SVĐHSP, cần xác định được đặc
điểm của xã hội hiện nay để lấy đó làm cơ sở cho việc xác định các nhiệm vụ giáo dục và các biện pháp
giáo dục nhằm đạt được mục tiêu, nhiệm vụ đề ra. Căn cứ vào thực tiễn xã hội, tác giả xác định bối cảnh
xã hội hiện nay có những đặc điểm như sau
a. Sự phát triển của khoa học công nghệ và sự bùng nổ thông tin
Sự phát triển như vũ bão của khoa học - công nghệ kéo theo sự xuất hiện của internet cùng các
phương tiện hỗ trợ như: điện thoại thông minh, thiết bị ghi hình, laptop/ máy điện toán kết nối wifi… đã
tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, tổ chức có thể tham gia vào hoạt động truyền thông hướng về cá
nhân hoặc đại chúng. Truyền thông cá nhân có các hình thức: Trò chuyện, giao lưu, chat qua mạng xã hội.
Truyền thông đại chúng có các hình thức: Báo online, chương trình giải trí: gameshow, talkshow, video
clip, hình ảnh… phục vụ cho nhu cầu giải trí, quảng bá/ chia sẻ thông tin, bày tỏ, thể hiện quan điểm, suy
nghĩ hướng về chiến lược/mục tiêu hoạt động của cá nhân, của tập thể/tổ chức…
Trò chuyện qua mạng xã hội tạo điều kiện cho con người được tiếp cận với nhiều nhân cách đa
dạng trong và ngoài nước về quan điểm sống, giá trị sống, lối sống. Truyền thông đại chúng tạo nên


2424
sự đa dạng trong thông tin được chuyển tải và xuất hiện xu hướng cạnh tranh trong các đơn vị, tổ
chức truyền thông; giữa các nhân vật tham gia các chương trình giải trí nhằm tạo nên cái mới, lạ gây
sự tò mò, chú ý của người xem/ của khách hàng. Hệ quả của việc này là sự bùng nổ các chiêu trò chơi
xấu, nói xấu; những thông tin về tài sản, thói quen trong sinh hoạt, lối sống, cách cư xử phản cảm,
khác người, phi chuẩn mực của một bộ phận người trong xã hội.
Ngoài ra, sự phát triển của mạng xã hội và tình trạng di chuyển lao động, di cư xuyên biên giới, du
học … đã tạo ra xu thế toàn cầu hóa văn hóa. Điều này tạo điều kiện cho việc giao lưu văn hóa và tư
tưởng rộng rãi, trong đó có đa văn hóa của đa quốc gia bao gồm những yếu tố tích cực và tiêu cực đối với
mỗi cá nhân.
b. Nền kinh tế thị trường
Nền kinh tế thị trường tạo ra sự đa dạng trong sản phẩm vật chất và tinh thần mang lại nhiều tiện
ích cho cuộc sống và góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống con người. Sự tiện ích cùng những phương

thức, nội dung quảng cáo sản phẩm hướng vào việc khơi dậy nhu cầu của con người về sản phẩm đã tạo
ra xu hướng hưởng thụ, nhu cầu vật chất và thúc đẩy con người tìm cách sở hữu, tiếp cận sản phẩm đôi
khi dẫn đến việc sử dụng chiêu trò, thủ đoạn trong ứng xử.
Bên cạnh đó, xu thế cạnh tranh của kinh tế thị trường đã tạo nên áp lực công việc cũng như áp lực
tìm kiếm việc làm cho người lao động, điều này có thể tạo nên sự xao lãng trong việc dạy bảo, giáo dục
con cái hoặc gây ra các vấn đề về sức khỏe tâm thần: stress, căng thẳng dẫn đến sự thiếu kiểm soát trong
hành vi. Ngoài ra, yêu cầu về sự tồn tại trên thị trường, yêu cầu về sự tồn tại và phát triển trong công việc
đôi khi khiến con người từ bỏ những thói quen, nề nếp sinh hoạt; thậm chí từ bỏ những mối quan hệ gần
gũi, thân thiết để đạt mục tiêu tồn tại hoặc phục vụ cho nhu cầu phát triển, tiến thân của cá nhân.
c. Xu hướng sử dụng phụ gia, hóa chất, chất gây nghiện tràn lan, phổ biến
Hệ thần kinh có thể bị tổn thương do tác động của các hóa chất nguy hiểm, ví dụ như: Tiếp xúc
lâu dài với các dung môi sẽ dẫn tới các triệu chứng mệt mỏi, khó ngủ, đau đầu. Việc tiếp xúc với các hợp
chất có photphat hữu cơ như parathion có thể gây suy giảm hệ thần kinh; với cacbon đisunphua có thể
dẫn đến rối loạn tâm thần, Chì đã được chứng minh có liên quan đến việc làm giảm sự phát triển hệ thần
kinh ở trẻ em và làm tăng nguy cơ bị chứng rối loạn thiếu tập trung và khuyết tật trí tuệ [88] [89]. Năm
2015, một nghiên cứu đánh giá hệ thống về phơi nhiễm phthalates với quá trình phát triển thần kinh đã
kết luận rằng bà mẹ mang thai tiếp xúc với phthalates có liên quan đến việc đứa trẻ sinh ra bị ảnh hưởng
bởi "những hậu quả nhận thức và hành vi ở trẻ em như:chỉ số IQ thấp hơn, hiếu động thái quá và giao


2525
tiếp xã hội kém", . [90]. Ngoài ra, nếu liên tục dùng trong thời gian dài sản phẩm chứa hương liệu
(thường có trong dầu gội, kem chống nắng, kem dưỡng da và các sản phẩm dưỡng thể) - được xem là một
trong những hóa chất độc hại nhất - có thể gây ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương [91].
Bên cạnh đó, xu hướng sử dụng các loại ma túy, chất gây nghiện đã xuất hiện với mật độ khá phổ
biến. Hệ quả của thực trạng này là sự rối loạn tâm thần: Lo âu, trầm cảm, kích động, có hành vi bạo lực.
Như vậy, bối cảnh xã hội hiện nay đã tạo nên những vấn đề đáng chú ý về văn hóa ứng xử xã hội.
Hành vi ứng xử của con người chịu ảnh hưởng từ áp lực cuộc sống, từ điều kiện tiếp cận với giáo dục gia
đình, từ sự đa dạng trong ứng xử của các nhân cách được tiếp cận trực tiếp hoặc qua các phương tiện
truyền thông đại chúng, từ thói quen tiêu dùng, lối sống của con người. Trong 3 yếu tố kể trên, sự phát

triển của khoa học công nghệ, sự bùng nổ thông tin và vấn đề kinh tế thị trường là 2 yếu tố mà luận án
cần tập trung nghiên cứu có thể tìm ra những biện pháp góp phần giảm thiểu hoặc ngăn ngừa mặt trái của
2 yếu tố này
1.3.1.2. Những vấn đề đặt ra đối với giáo dục năng lực văn hóa ứng xử học đường cho sinh viên đại học
sư phạm trong bối cảnh hiện nay
Có ý kiến cho rằng vấn đề lớn nhất của văn hóa Việt Nam hiện nay là hiện tượng lệch lạc về giá trị
[87]. Trong sự đan xen giữa yếu tố tích cực - tiêu cực, đúng - sai, thật - giả, tốt - xấu mà những yếu tố tiêu
cực như: tính cạnh tranh, quyền lợi cá nhân/cục bộ, nhu cầu vật chất đang có phần chiếm ưu thế đã gây
khó khăn cho việc lựa chọn giá trị của SV trong ứng xử học đường. Nếu không có “bộ lọc”, SV sẽ dễ tiếp
thu không chọn lọc những tác động tiêu cực, xem những điều bất cập là bình thường; thậm chí đưa ra
những ý kiến bình luận, đánh giá về sự “lạc hậu, cổ hủ, không thức thời” khi chứng kiến điều ngược lại.
Điều này không chỉ gây hệ quả tiêu cực đối với SVĐHSP mà còn tác động đến hành vi ứng xử của HS
trường phổ thông khi SV tham gia hoạt động nghề nghiệp tương lai; cũng như tác động đến hành vi ứng
xử trong các mối quan hệ xã hội. Như vậy, vấn đề đặt ra trong việc giáo dục VHƯXHĐ cho SVĐHSP là
cần giúp SV nhận biết đâu là hệ thống giá trị cốt lõi trong ứng xử, giúp SV tin tưởng vào sự cần thiết phải
duy trì và thể hiện hệ thống giá trị cốt lõi đó trong ứng xử học đường; đồng thời hình thành cho SV thói
quen hành vi VHƯXHĐ đúng mẫu, đúng chuẩn mực và phù hợp trong các tình huống, hoàn cảnh ứng xử
học đường cụ thể.
1.3.2. Giáo dục năng lực văn hóa ứng xử học đường cho sinh viên đại học sư phạm trong bối cảnh
hiện nay
1.3.2.1. Khái niệm về giáo dục năng lực văn hóa ứng xử học đường cho sinh viên đại học sư phạm trong
bối cảnh hiện nay


×