Tải bản đầy đủ (.doc) (19 trang)

PHƯƠNG PHÁP XÉT NGHIỆM PHÂN TÌM TRỨNG GIUN SÁN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (140.8 KB, 19 trang )

BÀI CHUẨN BỊ THỰC TẬP BỆNH KÝ SINH TRÙNG
BÀI I & 2. CÁC PHƯƠNG PHÁP XÉT NGHIỆM PHÂN TÌM TRỨNG GIUN SÁN
Nội dung
Phương pháp trực tiếp
Phương pháp dội rửa nhiều lần (gạn rửa sa lắng)
Phương pháp Füllerborn
Phương pháp Darling
Phương pháp Cherbovich
Phương pháp Nổi lắng cặn
Phương pháp Baerman
Phương pháp Vaid
Phương pháp đếm trứng Stole
Phương pháp đếm trứng Mc Master.
Phương pháp nuôi ấu trùng.
Yêu cầu chung
 Nắm vững phương pháp và kỹ thuật xét nghiệm trứng giun sán.
 Bước đầu phân biệt trứng sán lá, sán dây, giun tròn.
I.

Phương pháp trực tiếp

Cách lấy phân
Tiến hành lấy phân của con vật
cần xét nghiệm bằng cách lấy ở
những vị trí như trên hình vẽ.

Lượng phân
cần thiết

Ngoài ra có thể lấy phân trực tiếp từ trực tràng của súc vật dùng tay hoặc sử dụng các
dụng cụ khác nhau.




Tiến hành thí nghiệm:

1,2 giọt Glyxerin 50%

Dùng pince hoặc đũa
thủy tinh lấy 1 mẫu phân
to bằng hạt đỗ đặt lên
1 phiến kính sạch.

Mẫu phân dàn mỏng

Nhỏ vào đó 1,2 giọt Glyxerin 50%, để giữ tiêu bản lâu khô và dễ nhìn. (Nếu
không có Glyxerin có thể dùng nước sạch để thay thế). Dầm nát phân và gạt cặn bã ra
hai đầu phiến kính. Dung dịch phân bên trong được dàn mỏng.
Tiêu bản đạt yêu cầu khi
Giữa dung dịch phân và mép của phiến kính tạo thành một hành lang sạch sẽ.
Dung dịch phân được dàn mỏng đến mức ánh sáng có thể qua được và không
tràn ra mép phiến kính.
Những tiêu bản này được đặt lên kính hiển vi để tìm trứng giun sán. (Có thể
quan sát thấy trứng sán lá, trứng sán dây, trứng giun tròn, đốt sán dây…)
Ưu điểm của phương pháp
Dụng cụ đơn giản, dễ làm nên dễ áp dụng ở cả cơ sở sản xuất. phương pháp
này có thể phát hiện được các loại trứng giun sán.
Nhược điểm
Do mẫu phân nhỏ nên độ chính xác không cao. Khi xét nghiệm nên làm từ 8 10 mẫu trên mỗi đối tượng cần xét nghiệm.
Phương pháp này chỉ áp dụng để xét nghiệm phân của gia cầm và những súc
vật có khối lượng phân nhỏ.



II. Phương pháp Fülleborn
Nguyên lý
Dựa vào sự chênh lệch tỷ trọng giữa trứng giun sán và một số dung dịch có tỷ trọng
nặng hơn, để phân ly trứng ra khỏi phân.
Mục đích
Phát hiện được nhiều loại trứng giun tròn và trứng sán dây.
Tiến hành thí nghiệm
Dùng pince hoặc đũa thủy tinh lấy một lượng phân khoảng 3-5gr của đối tượng cần
xét nghiệm để vào một cốc sạch (Cốc nhựa khoảng 200ml) đổ vào đó một khối
lượng nước muối bão hòa gấp khoảng 10-20 lần khối lượng phân. Dùng đũa thủy
tinh khuấy nát phân trong dung dịch sau đó toài bộ dung dịch được lọc qua phễu
lọc (Có lưới thép hoặc nhựa với kích thước mỗi mắt lưới 0,3mm* 0,3mm) vào lọ
tiêu bản có diện tích miệng lọ nhỏ hơn diện tích đáy lọ. Điều chỉnh bằng cách cho
thêm dung dịch nước muối bão hòa đến phần có thiết diện nhỏ nhất và để yên
tĩnh trong 30-60 phút, để trứng nổi lên. Dùng vòng vớt bằng thép nhỏ có đường
kính 0,5mm để vớt lớp váng trên miệng lọ tiêu bản và đặt lên phiến kính. Kiểm tra
tiêu bản trên kính hiển vi có độ phóng đại 7x10 hoặc 7x15 để tìm trứng giun sán.
Phương pháp này có thể lọc qua phễu lọc vào ống nghiệm, sau đó điều chỉnh lượng
nước muối bão hòa sao cho đầy ống. Để lamen lên ống nghiệm, sau đó để yên tĩnh
trong thời gian 30-60 phút. Chuyển lamen sang phiến kính và kiểm tra dưới kính
hiển vi có độ phóng đại 7x10 hoặc 7x15 để tìm trứng giun sán.
Trong phương pháp này có thể thay thế nước muối bão hòa bằng các dung dịch
khác có tỷ trọng cao hơn như sodium hyposulfit, sodium nitrat, MgSO4.
Phạm vi ứng dụng
Ứng dụng ở cơ sở sản xuất và phòng thí nghiệm.
Ưu điểm
Tìm được tất cả các loài trứng giun tròn. Ngoài ra có thể tìm thấy trứng sán lá
sinh sản gia cầm (Prostogonimus), Trứng sán lá ruột gia cầm (Echinostoma) và trứng
giun đầu gai ở vịt (Polymorphus).

Nhược điểm
Phương pháp này khó phát hiện những trứng giun sán có tỷ trọng cao.


III.

Phương pháp gạn rửa sa lắng
Nguyên lý
Phương pháp này dựa vào sự chênh lệch tỷ trọng giữa nước và tỷ trọng trứng

giun sán để phân ly trứng ra khỏi phân. Trứng giun sán có tỷ trọng nặng hơn sẽ lắng
xuống dưới.
Mục đích
Tìm trứng các loài giun sán có tỷ trọng lớn hơn tỷ trọng nước.
Cách tiến hành
Dùng đũa thủy tinh hoặc pince lấy 5-10gam phân (khoảng bằng hạt táo) của đối
tượng cần xét nghiệm cho vào cốc nước sạch. Đổ vào đó một lượng nước gấp 10 lần
khối lượng phân. Dùng đũa thủy tinh khuấy nát phân trong cốc. Toàn bộ dung dịch
phân được lọc qua phễu lọc (Có lưới thép hoặc nhựa với kích thước mỗi mắt lưới
0,3mm* 0,3mm) sang một cốc sạch khác. Để yên tĩnh khoảng 5-10 phút. Gạn bỏ lớp
nước phía trên giữ lại phần cặn ở đáy. Sau đó lại tiếp tục dội mạnh nước sạch vào cặn
lắng. Lặp lại thao tác này khoảng 3-5 lần đến khi cặn đã trở nên sạch. Cuối cùng giữ
lại cặn và đổ ra hộp lồng soi dưới kính hiển vi
Lưu ý của phương pháp này: Nên dùng loại cốc có đáy hẹp. Lượng cặn đổ ra hộp
lồng sao cho có thể soi được trên kính hiển vi có độ phóng đại 7x10 hoặc 7x15 để tìm
trứng giun sán.
Phạm vi ứng dụng
Ứng dụng ở cơ sở sản xuất và phòng thí nghiệm.
Ưu điểm
Tìm được tất cả các loại trứng sán lá

Nhược điểm
Không tìm được trứng giun tròn.
IV.

Phương pháp nổi lắng cặn

Nguyên lý
Kết hợp giữa phương pháp Fülleborn và phương pháp gạn rửa sa lắng. Sau khi đã
vớt lớp váng trên miệng lọ tiêu bản ở phương pháp Fülleborn. Đổ phần nước trong
phía trên đi, giữ lại phần cặn làm tương tự như phương pháp gan rửa sa lắng.
Ưu điểm: tìm được tất cả các loài trứng giun sán.


V. Phương pháp đếm trứng Stole
Phương pháp đếm trứng Stole
Mục đích
-Xác định chính xác số lượng trứng giun, sán có trong 1g phân gia súc.
Vật liệu và dụng cụ
- Phân gian súc cần xét nghiệm: 3 – 5 g; NaOH 0,1N
- Đũa thủy tinh, pipete
- Bình chia độ, loại 100ml
- Bi sắt, hoặc sỏi: 2 – 3 viên
- Phiến kính, lam kính
- KHV độ phóng đại 7x10 – 7x15
Các tiến hành
- Đổ 56ml NaOH 0,1N vào bình chia độ.
- Từ từ đưa phân gia súc vào bình sao cho mực dung dịch trong bình đạt 60ml thì dừng lại.
- Dùng đũa thủy tinh nghiền nát phân trong dung dịch.
- Thêm vào bình 2-3 viên bi sắt hoặc sỏi.
- Lắc đều bình chia độ để dung dịch phân và NaOH đồng nhất tại mọi vị trí.

- Dừng lại đột ngột, dùng pipete lấy 0,15ml dung dịch phân, đưa lên phiến kính, quan sát trên
kính hiển vi, đếm trứng giun, sán.
Phạm vi ứng dụng
- Bằng phương pháp đếm trứng Stole, có thể tìm được trứng, các loại ấu trùng và giun, sán
trưởng thành.
- Đếm và xác định được số lượng trứng có trong 1g phân.
- Qua đây xác định được cường độ nhiễm sán trên gia súc
- Đánh giá được hiệu quả thuốc tẩy giun, sán.

V. Phương pháp Darling
Nguyên lý
Dựa vào sự chênh lệch tỷ trọng giữa trứng giun sán và một số dung dịch có tỷ trọng
nặng hơn, kết hợp với phương pháp ly tâm để phân ly trứng ra khỏi phân.
Mục đích
Phát hiện được nhiều loại trứng giun tròn và trứng sán dây.
Tiến hành thí nghiệm
Dùng pince hoặc đũa thủy tinh lấy một lượng phân khoảng 3-5gr của đối tượng cần
xét nghiệm để vào một cốc sạch (Cốc nhựa khoảng 200ml) đổ vào đó một khối lượng
nước muối bão hòa gấp khoảng 10-20 lần khối lượng phân. Dùng đũa thủy tinh khuấy nát
phân trong dung dịch sau đó toài bộ dung dịch được lọc qua phễu lọc (Có lưới thép hoặc
nhựa với kích thước mỗi mắt lưới 0,3mm* 0,3mm) vào các cặp ống ly tâm. Tiến hành ly
tâm 1 - 2 phút với vẫn tốc 2000 vòng/phút. Dùng vòng vớt bằng thép nhỏ có đường kính
0,5mm để vớt lớp váng trên miệng ống ly tâm và đặt lên phiến kính. Kiểm tra tiêu bản
trên kính hiển vi có độ phóng đại 7x10 hoặc 7x15 để tìm trứng giun sán.
Trong phương pháp này có thể thay thế nước muối bão hòa bằng các dung dịch khác
có tỷ trọng cao hơn như sodium hyposulfit, sodium nitrat, MgSO4.
Phạm vi ứng dụng
Ứng dụng ở phòng thí nghiệm.
Ưu điểm
Tìm được tất cả các loài trứng giun tròn. Ngoài ra có thể tìm thấy trứng sán lá sinh

sản gia cầm (Prostogonimus), Trứng sán lá ruột gia cầm (Echinostoma) và trứng giun đầu
gai ở vịt (Polymorphus).


Thời gian tiến hành thí nghiệm là ngắn.
Nhược điểm
Phương pháp này khó phát hiện những trứng giun sán có tỷ trọng cao.
Yêu cầu có máy ly tâm để có thể tiến hành được thí nghiệm.

VI.

Phương pháp Baermann
Nguyên lý
Một số giun sán không thải trứng mà thải ấu trùng ra ngoài môi trường hoặc thải
trứng nhưng khi trứng qua trực tràng thì nở thành ấu trùng.
- Lợi dụng tính ưa hoạt động của ấu trùng giun ở điều kiện nhiệt độ 37⁰C để phân ly ấu
trùng ra khỏi phân gia súc.
Dụng cụ
- Hệ thống Baerman bao gồm: 1 phễu thủy tinh (hoặc nhựa) nối với 1 ống nghiệm qua
1 ống cao su; toàn bộ được đỡ trên 1 giá đỡ.
- Nhiệt kế, nước ấm, lưới lọc, bông, đĩa lồng, kính hiển vi.
Cách tiến hành
- Cho 1 lượng nhỏ bông vào đáy phễu nhựa của hệ thống Baermann để tạo thành màng
lọc mỏng.
- Đưa lượng phân gia súc cần xét nghiệm lên phễu nhựa có qua lưới lọc.
- Đổ vào phễu 1 lượng nước ấm 37⁰C sao cho lượng phân ngập hoàn toàn trong nước
ấm.
- Để yên tĩnh khoảng 30 – 45 phút.
- Nhẹ nhàng đưa phân ra khỏi phễu nhựa.
- Gạn bỏ lớp nước phía trên ống nghiệm, giữ lại phần cặn ở đáy cốc.

- Đổ toàn bộ phần cặn vào đĩa lồng, đưa lên KHV độ phóng đại 7x10 hoặc 7x15 quan
sát tìm ấu trùng.
Phạm vi ứng dụng
- Dùng để xét nghiệm phân các loài đại gia súc có lượng phân lớn và nhão (trâu, bò) để
tìm ấu trùng giun phổi gia súc nhai lại.
-


BÀI 3: CÁC PHƯƠNG PHÁP MỔ KHÁM TÌM GIUN SÁN
Mục đích
 Đây là phương pháp chính xác nhất giúp ta tìm được mọi loài giun sán ở
các giai đoạn phát triển khác nhau, ký sinh ở các vị trí khác nhau trong
cơ thể ký chủ.
 Biết cách thu lượm bảo quản và phân loại giun sán trưởng thành.
 Cho biết chính xác số lượng giun sán ký sinh trong ký chủ.
 Quan sát được biến đổi bệnh lý do giun sán gây ra với ký chủ.
I. Phương pháp mổ khám toàn diện của K.I.Skrjabin
Mục đích
Tìm được mọi loài giun sán ký sinh ở các khí quan.
Nội dung
Qua 5 bước:
Bước 1:

Kiểm tra bên ngoài xác chết để tìm ký sinh trùng. Dùng kính lúp
soi ở những vùng da mỏng, các điểm nghi ngờ có ký sinh trùng và
các lỗ tự nhiên.

Bước 2:

Mổ khám các xoang tìm ký sinh trùng.

Ví dụ: Xoang mắt, xoang miệng, xoang mũi.
Trên gia cầm ở xoang mắt thường có giun xoăn mắt gà
Trên trâu bò ở xoang bụng có giun chỉ

Bước 3:

Lột da tìm ký sinh trùng dưới da.
Dưới da thường có ấu trùng sán dây
Thực hiện: Trâu, bò, gia cầm.
Đối với Lợn không thực hiện bước này, vì hiện nay chưa có tài
liệu nào dẫn chứng có ký sinh trùng ký sinh dưới da Lợn.

Bước 4:

Mổ khám phân lập các khí quan riêng rẽ.
Tách các khí quan để vào các dụng cụ đựng mẫu riêng rẽ.
Để tránh nhầm lẫn giữa các mẫu cần viết nhãn tạm thời.


MẪU NHÃN TẠM THỜI
Loài gia súc
Số hiệu
Tính biệt
Khí quan

Bước 5:

Dùng các phương pháp thích hợp để xử lý đối với từng khí

quan.

Có 3 cách:
 Cách 1: Đối với chất chứa của các khí quan hình ống (Dạ dày,
ruột non, ruột già…)
Lấy toàn bộ chất chứa xét nghiệm bằng phương pháp gạn rửa
sa lắng.
Lưu ý:
Không sử dụng đũa thuỷ tinh khuấy mạnh như trong phương
pháp gạn rửa sa lắng đối với phân gia súc để tránh tình trạng
làm tổn thương đến ký sinh trùng (Trường hợp các đốt sán dây
bị đứt…). Chỉ dùng lực của dòng nước.
 Cách 2: Đối với niêm mạc, các khí quan hình ống, dùng
phương pháp Nạo vét ép soi.
Dùng vật cứng (phiến kính, chuôi dao mổ) nạo niêm mạc rồi
ép lên giữa hai phiến kính soi lên kính hiển vi với độ phóng đại
7x10 và 7x15.
 Cách 3: Đối với các khí quan là thực thể như gan, thận, tim,
phổi, cơ dùng phương pháp Cắt lát ép soi.
Dùng kéo cong cắt thành các lát mỏng ép giữa 2 phiến kính
lớn.
Chú ý: Khi xử lý đối với từng khí quan:
Phổi: dùng kéo cắt đến tận cuống các phế nang.
Dạ dày kép (4 túi): Xử lý từng túi riêng rẽ.


Dạ dày đơn: Cắt theo đường cong lớn.
Gia cầm: Phân tách dạ dày cơ riêng và dạ dày tuyến riêng.
Ruột: Dùng kéo cắt theo đường cong lớn đối diện với màng treo ruột.
Thận: Bổ đôi thận để tìm giun sán trong bể thận.
II. Phương pháp mổ khám toàn diện ở 1 khí quan
Mục đích:

Tìm mọi loài giun sán ở một khí quan nhất định.
III. Phương pháp mổ khám không toàn diện
Mục đích:
Tìm 1 loài giun sán nào đó từ nhiều khí quan trong cơ thể.
Phương pháp này thường áp dụng trong công tác kiểm soát giết mổ, ví dụ;
bệnh giun bao, bệnh gạo lợn.
IV. Phương pháp thu giữ và bảo quản mẫu vật.
Thực hiện các bước sau:
- Nhẹ nhàng tách giun sán ra khỏi các khí quan. (Có thể dùng pince)
- Để giun sán chết tự nhiên trong nước lã
- Bảo quản giun sán trong các dung dịch thích hợp.
- Đối với sán lá sán dây, giun đầu gai, bảo quản trong dung dịch cồn 70°
- Đối với giun tròn, bảo quản trong dung dịch Barbagallo
- Cách pha dung dịch Barbagallo: NaCl 7,5gr
Formol 30ml (38-40%)
Nước cất: 1000ml
Khi bảo quản phải để từng khí quan riêng rẽ và viết nhãn cố định đi kèm theo
mẫu. Nhãn được viết bằng bút chì cứng trên giấy can. Nhãn có 2 mặt:


MẪU NHÃN CỐ ĐỊNH
MẶT TRƯỚC
Loài mổ khám
Số hiệu
Lứa tuổi
Tính biệt
Khí quan có KST
Lớp
Số lượng


MẶT SAU
Ngày tháng năm
Địa điểm
Tên người mổ khám

Nhãn được đặt trong lọ tiêu bản, mục đích của viết nhãn là để gửi đi phân loại giun
sán và ghi vào sổ mổ khám.
Phân loại:
Cách phân loại các loài giun sán khác nhau tuỳ thuộc vào loài.
Đối với lớp sán lá sán dây, ép giữa 2 phiến kính và nhuộm bằng phương pháp nhuộm
Carmin đối với giun tròn và giun đầu gai, làm trong suốt bằng dung dịch Glyxerin +
Ac. Lactic tỷ lể 1:1.


KST2
BÀI 1. CÁC LOÀI SÁN LÁ, SÁN DÂY KÝ SINH Ở GIA SÚC, GIA CẦM
Mục đích
Nắm vững các đặc điểm hình thái cơ bản của các loài sán lá sán dây ký sinh ở
gia súc gia cầm.
Phân biệt được các loài sán lá, sán dây.
A. SÁN LÁ
Giới thiệu chung
Sán lá thuộc lớp Trematoda ngành Nemathelmilthe
Hình thái
Hình lá dẹt theo hướng lưng bụng, có khi có hình chóp, hình lòng máng,
hình trụ. Màu hồng, xám hoặc màu trắng ngà.
Cấu tạo
Có 2 giác bám. Có 2 manh tràng nằm dọc hai bên cơ thể. Cơ thể lưỡng tính.
Vòng đời
Vòng đời phát triển gián tiếp, bắt buộc phải qua vật chủ trung gian.

I. Sán lá gan lớn ký sinh ở loài nhai lại.
Có 2 loài ký sinh là Fasciola hepatica và Fasciola gigantica
Hình thái
Hình lá, dẹt theo hướng lưng bụng, màu hồng.
Cấu tạo
Hai manh tràng phân nhánh mạnh, hai tuyến noãn hoàng phân nhánh
hai bên thân. Hai tinh hoàn xếp trên dưới nhau ở khoảng giữa thân và
phân nhánh. Buồng trứng phân nhánh hình cành cây.
Trứng: có kích thước lớn, phình rộng ở giữa, thon dần 2 đầu. Đầu nhỏ
có nắp. Trứng có màu vàng tranh.
Vòng đời phát triển
Phát triển gián tiếp qua ốc nước ngọt (chỉ dẫn cụ thể theo hình).
II. Sán lá ruột lợn
Do loài Fasciolopsis buski gây ra
Hình thái


Hình lá, màu hồng đỏ, cơ thể phình rộng phía sau.
Cấu tạo
Có 2 giác bám gần nhau nằm phía trước cơ thể.
Hai tinh hoàn phân nhánh mạnh, xếp trên dưới nhau nằm phía sau than
sán.
Buồng trứng phân nhánh nằm phía trước tinh hoàn và hơi lệch bên trái.
Trứng: màu vàng chanh, vỏ mỏng, phình rộng ở giữa và thon dần đều về
phía hai đầu. Ở đầu hơi nhỏ có nắp. Phôi bào phân bố đều, xếp kín vỏ
trứng, ranh giới giữa các phôi bào không rõ.
III. Sán lá sinh sản gia cầm
Do nhiều loài thuộc họ Prothogonimus gây ra.
Hình thái
Hình quả lê, thon ở phía trước phình rộng ở phía sau, có gai nhỏ phủ lên

bề mạnh thân.
Cấu tạo
Có 2 giác bám, hầu nhỏ, thực quản ngắn. Tinh hoàn hình tròn. Xếp đối
xứng 2 bên than sán. Buồng trứng phân thuỳ hình hoa nằm ngay sau giác
bụng. Tuyến noãn hoàng hình chùm, phân bố 2 bên than sán từ ngay
mép trước giác bụng đến mép sau tinh hoàn.
Nơi ký sinh
Các loài thuộc họ Prothogonimus ký sinh ở túi fabricius hoặc ống dẫn
trứng
B. SÁN DÂY
Hình thái
Thân sán dài, dẹp, màu trắng nhạt, nhiều hình dạng chủ yếu là hình dải băng,
hình thắt lưng, cơ thể chia 3 phần: Đầu, cổ và than. Có nhiều đốt. Trong mỗi
đốt có cấu tạo của một cơ thể hoàn chỉnh, cấu tạo lưỡng tính. Đầu có 4 giám
bám, có loài có them móc bám.
I. Sán dây ký sinh ở loài nhai lại


Nguyên nhân gây bệnh
Do loài Moniezia expansa và M.benedeni gây ra.
Hình thái
Hình dải băng, màu trắng, có đầu, cổ và than. Dài 1-5m, đầu có 4 giác
bám.
Phân biệt giữa 2 loài là sự sắp xếp của tuyến giữa đốt. M.expansa hình
hạt, M.benedeni tuyến giữa đốt hình dải băng có nhiều điểm lấm tấm,
tập trung ở giữa hoặc một bên đốt sán.
Cấu tạo
Cấu tạo cơ quan sinh dục kép, lỗ sinh dục nằm 2 bên đốt sán. Phần thân
có cấu tạo tương tự như đối với lớp sán dây. Có đốt sán chưa thành thục
trong đốt sán chỉ thấy cơ quan sinh sản đực. Đốt thành thục có cơ quan

sinh dục đực và cơ quan sinh sản cái, trong đốt sán già cơ quan sinh dục
đực tiêu giảm chỉ còn tử cung chứa đầy trứng sán.
Vòng đời
Qua vật chủ trung gian là nhện đất (Oribatidae)
II. Sán dây gia cầm
Nguyên nhân
Chủ yếu do loài Raillietina spp gây ra.
Hình thái
Hình dải băng.
Cấu tạo
Có 4 giác bám hình tròn, trên giác bám có nhiều móc nhỏ, số lượng móc
tuỳ loài. Vd: Raillietina echinobothrida trên giác bám có 8-10 hàng móc
nhỏ, đỉnh đầu có 200 móc xếp 2 hàng, lỗ sinh dục ở bên đốt sán.
R.tetragona trên giác bám có 8-12 hàng móc, đỉnh đầu có 90-130 móc
xếp thành 2 hàng. Raillietina cesticillus trên giác bám không có móc,
trên đỉnh đầu có nhiều móc (100-500 móc). Cotugnia digonopora trên
mõm hút có móc, trên giác bám không có móc.
Vòng đời


Vòng đời phát triển đi qua vật chủ trung gian là kiến, ruồi và bọ hung.
III. Ấu trùng sán dây
Gạo lợn
Ấu trùng Cysticercus cellulosae thường ký sinh ở cơ lưỡi cơ mông, cơ cổ…Ấu
trùng là bọc màu trắng, đường kính 8-10mm có hình hạt gạo, bên trong chứa
dịch thể trong suốt và 1 đầu sán lộn ngược. Vỏ bọc bên ngoài là lớp mô lien
kết. Đầu sán trong bọc có cấu tạo là 1 đầu sán trưởng thành.
Sán trưởng thành có tên khoa học là Taenia solium ký sinh ở ruột non người.
Đặc điểm cấu tạo của loài sán này là có 4 móc bám, trên đỉnh đầu có 2hàng
móc gồm 22 – 32 móc. Cơ thể dài 2-7m, có 700-1000 đốt sán.

Gạo bò
Ấu trùng Cysticercus bovis ký sinh ở cơ tim, cơ lưỡ, cơ đùi…có hình bọc nhỏ,
hơi tròn, màu trắng trong, dài 5-9mm, rộng 3-6mm, trong bọc chứa dịch thể
trong suốt và một đầu sán lộ ngược ra phía ngoài.
Sán trưởng thành là Taeniarhynchus saginatus ký sinh ở ruột non người, dài 412m, gồm 1000-2000 đốt sán. Đầu sán tròn có 4 giác bám to, không đỉnh đầu,
không có móc.


C. GIUN TRÒN
Mục đích
- Nắm được một số đặc điểm hình thái cấu tạo cở bản và vòng đời
của một số loài giun tròn.
Nội dung
1. Giun đũa lợn
Do Ascaris suum gây ra.
- Hình thái : Màu trắng sữa, hình ống, 2 đầu thót nhọn.
- Cấu tạo: Đầu có 3 lá môi rất phát triển ( 1 lưng, 2 bên).
Con đực: 10,5 - 22cm
Lỗ sinh dục đực ở cuối cơ thể, đuôi cong, mang đôi gai giao cấu dài bằng
nhau.
Con cái: 23 – 30cm
Lỗ sinh dục nằm ở 1/3 phía trước cơ thể, đuôi thẳng.
Vòng đời: Phát triển trực tiếp.
Trứng: 4 lớp vỏ dày, lớp ngoài cùng xù sì gợn sóng.
2. Giun đũa bê nghé
Do loài Neoascaris vitulorum gây ra
- Hình thái: Hình ống, hai đầu thon nhỏ dần, có màu vàng nhạt
- Cấu tạo: Đầu có 3 lá môi, chân lá môi rộng.
Con đực: dài 11 – 13cm, có 28 đôi núm gai thịt trước hậu môn và 7 đôi sau hậu
môn. Có đôi gai giao cấu dài bằng nhau.

Con cái: 14- 30cm, Lỗ sinh dục cái nằm 1/8 phía trước cơ thể, trên mặt bụng.
Vòng đời phát triển:
+ Phát triển trực tiếp: Bê nghé nuốt phải trứng gây nhiễm, ấu trùng vào ruột di
hành, phát triển thành giun trưởng thành sau 43 ngày.
+ Qua bào thai: Bò chửa trước khi đẻ nuốt phải trứng gây nhiễm, ấu trùn giải
phóng ở ruột, rồi di hành theo đường tuần hoàn vào thai và phát triển. Nghé
sau khi đẻ ra 17-24 ngày đã có trứng giun đũa trong phân.
3. Giun đũa gà
Do loài Ascaridia galli


- Hình thái: Giun có màu trắng vàng.
- Cấu tạo: Miệng có 3 lá môi, trên môi có răng. Đây là loài giun tròn có kính
thước lớn nhất ký sinh ở gia cầm.
+ Giun đực: dài 26 – 70mm, hai gai giao cấu dài bằng nhau. Đuôi có cánh và
có 10 đôi núm gai thịt.
+ Giun cái: dài 65- 110mm Đuôi thẳng, lỗ sinh dục ở 1/ 2 phía trước thân.
- Trứng: hình bầu dục, 2 cạnh bên song song, vỏ nhẵn.
- Vòng đời: phát triển trực tiếp. Ấu trùng không di hành, mà chui lên tuyến
ruột, biến thái ở tuyến ruột 19 ngày.
4. Giun thận Lợn
Do loài Stephanurus dentatus gây ra
- Hình thái: Giun màu trắng đục,.
- Cấu tạo: xoang miệng lớn hình cốc, thành dày có răng ở đáy túi
+ Con đực: dài 20-30mm, túi đuôi nhỏ, sườn ngắn, 2 gai giao cấu dài bằng
nhau.
+ Con cái: dài 30 - 45mmLỗ sinh dục cái nằm cạnh hậu môn, cuối cơ thể.
- Trứng: Hình bầu dục, vỏ mỏng, chứa 32 -64 phôi bào
- Vòng đời phát triển: Ấu trùng A3 xâm nhập vào cơ thể theo 3
cách : + Xâm nhạp theo thức ăn nước uống

+ Qua da
+ Ấu trùng tập trung ở giun đất.
5. Giun phổi lợn
Do loài Metastrongylus elongates, M.salmi, M.pudendotectus gây ra
Hình thái: Hình sợi, màu tráng hoặc màu vàng nhạt.
Cấu tạo: Miệng có 2 lá môi, mỗi môi chia làm 3 thùy.
Con đực: 12-25mm.Có hệ thống túi đuôi và sườn đuôi phát triển.
Con cái: 19-37mmCó lỗ sinh dục cuối cơ thể, có nắp đậy
Vòng đời: vòng đời phát triển gián tiếp qua vật chủ trung gian là giun đất.
6. Giun phổi loài gia súc nhai lại
Do loài Dyctyocaulus viviparus, D.filaria


Hình thái: Hình sợi, màu vàng nhạt hoặc màu trắng sữa
Cấu tạo: Miệng có 2 lá môi.
Giun đực: dài 4-5,5cm, hệ thống túi đuôi và sườn đuôi khá phát triển
2 gai giao cấu dài bằng nhau.
Giun cái: dài 6-8cm, lỗ sinh dục cái có van và nắp đậy
Vòng đời: Phát triển gián tiếp.
Lưu ý: Ấu trùng giun nở ra ở trực tràng rồi theo phân ra ngoài môi trường vì
vậy khi xét nghiệm phân tìm giun phổi loài nhai lại chỉ áp dụng phương pháp
xét nghiệm tìm ấu trùng.
7. Giun xoắn
Căn bệnh: Trichinella spiralis
Hình thái: nhỏ, cơ thể chia làm 2 phần: phần trước nhỏ, chứa thực quản; phần
sau to hơn chứa ruột và hệ sinh dục.
Giun đực: dài 1,4-1,6mm, không có gai giao cấu.(cuối đuôi có 2 mảnh phụ sinh
dục).
Giun cái: dài 3-4mm, lỗ sinh dục cái nằm ở vùng phía giữa thực quản.
Vòng đời: Trực tiếp, Ký sinh trên: người, lợn, chuột...

Giun trưởng thành ký sinh ở ruột non, sau giao phối, giun cái đẻ ấu trùng. Ấu
trùng vào hệ tuần hoàn đi khắp cơ thể. Ở cơ ấu trùng phát triển thành dạng gây
nhiễm và có thể tồn tại ở đó trong thời gian dài.
Động vật nhiễm giun xoắn vừa là VCTG vừa là VCCC.
8. Giun tóc
Căn bệnh: là giun Trichocephalus, ký sinh ở ruột già, manh tràng của lợn.
Hình thái : có dạng hình roi ngựa hoặc sợi tóc, màu trắng.
Cấu tạo: Cơ thể chia làm 2 phần rõ, thực quản dài 2/3 cơ thể. Phần sau chứa hệ
tiêu hóa và hệ sinh dục.
Giun đực: dài 2- 5cm, đuôi tù, cong, chứa bao gai giao cấu và 1 gai giao cấu.
Giun cái: dài 4-5cm, đuôi thẳng. Lỗ sinh sản cái ở cuối thực quản.
Trứng hình hạt chanh, màu vàng nhạt, 2 đầu chiết quang.
Vòng đời: Trực tiếp


D. TIẾT TÚC
8. Ve cứng Ixodidae
Cấu tạo: Bên ngoài được bao phủ bởi 1 lớp kitin rất cứng.
Cơ thể chia làm 2 phần chính:
Đầu giả: có 2 càng, hạ khẩu.
Thân: Có mặt lưng và mặt bụng. Mặt
bụng có lỗ sinh dục, lỗ hậu môn và có 4 đôi chân.
Tác hại: Truyền bệnh lê dạng trùng theo phương thức sinh học và phương thức
di truyền.
9. Ghẻ ngầm Sarcoptes scabiei
Khác hẳn với ve là ghẻ ngầm ký sinh sâu trên cơ thể gia súc.
Cấu tạo: Cơ thể được cấu tạo bao phủ bên ngoài là lớp kitin rất cứng, tạo thành
vẩy hình tam giác nên ghẻ luôn luôn đào hang tiến về phía trước. Ghẻ có vòi
hút ngắn, có 4 đôi chân, mỗi chân có 5 đốt. Cuối bàn chân có giác tròn hình
bầu dục hoặc hình chuông, đây là đặc điểm giúp phân biệt đực, cái (đực: giác ở

đôi 124, cái: giác ở đôi 1 và 2).


E. ĐƠN BÀO KÝ SINH
Cấu tạo chung
Cơ thể cấu tạo đơn giản: Màng, nguyên sinh chất và nhân.
10.Tiên mao trùng
Do loài Trypanosoma evansi gây ra.
Nơi ký sinh: Đây là kst đường máu, ký sinh ở ngoài hồng cầu.
Hình thái: là hình thoi
Cấu tạo: Màng, nguyên sinh chất và 2 nhân. Nhân phụ nằm ở phía đầu, nối với
1 tiên mao vòng về phía sau thân. Đoạn tận cùng của tiên mao này tự do giúp
cho TMT chuyển động trong huyết tương.
Động vật gieo truyền của TMT là ruồi và mòng.
Tác hại: Bệnh tiên mao trùng làm chết hàng loạt gia súc (Bệnh ngã nước)
11.Cầu trùng
Nơi ký sinh: Tế bào niêm mạc ruột.
Đặc điểm: Có hình tròn hoặc hình bầu dục giống trứng giun sán (gọi là noãn
nang) nhưng nhỏ hơn nhiều lần.
Tác hại: Gây bệnh cấp tính với tỷ lệ ốm và tỷ lệ chết cao.
Thực hành về cầu trùng: Lấy phân gia súc xét nghiệm bằng phương pháp
Fulleborn.



×