Tải bản đầy đủ (.pdf) (96 trang)

Thực hiện chính sách phát triển kinh tế ngành nông nghiệp trên địa bàn thị xã điện bàn, tỉnh quảng nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.04 MB, 96 trang )

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VĂN MINH

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ
NGÀNH NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VĂN MINH

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ
NGÀNH NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số

: 8 34 04 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. DƯƠNG NGUYỄN MINH HUY


HÀ NỘI, năm 2019


LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả

Nguyễn Văn Minh


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT
TRIỂN KINH TẾ NGÀNH NÔNG NGHIỆP ......................................................11
1.1. Các khái niệm cơ bản .........................................................................................11
1.2. Nội dung thực hiện chính sách phát triển kinh tế ngành nông nghiệp ...............19
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách phát triển kinh tế ngành nông
nghiệp ........................................................................................................................23
CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
KINH TẾ NGÀNH NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN,
TỈNH QUẢNG NAM ..............................................................................................27
2.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến thực hiện chính sách phát
triển kinh tế ngành nông nghiệp trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam .....27
2.2. Nội dung thực hiện chính sách phát triển kinh tế ngành nông nghiệp trên địa
bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam ......................................................................36
2.3. Đánh giá chung về thực hiện chính sách phát triển kinh tế ngành nông nghiệp
trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam .........................................................58
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ ĐẨY

MẠNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ NGÀNH
NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM
...................................................................................................................................63
3.1. Phương hướng hoàn thiện và đẩy mạnh thực hiện chính sách phát triển kinh tế
ngành nông nghiệp trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam .........................63
3.2. Giải pháp hoàn thiện và đẩy mạnh thực hiện chính sách phát triển kinh tế ngành
nông nghiệp trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam ....................................67
KẾT LUẬN ..............................................................................................................79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT

Từ viết tắt

Nghĩa đầy đủ

1

CBCCVC

Cán bộ, công chức, viên chức

2

QLNN

Quản lý nhà nước


3

UBND

Ủy ban nhân dân


DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu

Tên bảng

bảng

Trang

2.1

Diễn biến khí hậu thị xã Điện Bàn giai đoạn 2014-2018

28

2.2

Một số chỉ tiêu kinh tế thị xã Điện Bàn giai đoạn 2014-2018

29

2.3


Thu - chi trong cân đối ngân sách thị xã Điện Bàn

30

2.4
2.5

Một số chỉ tiêu về xã hội tại thị xã Điện Bàn giai đoạn 20142018
Tốc độ phát triển của ngành nông nghiệp thị xã Điện Bàn giai
đoạn 2014-2018

32
34

2.6

Một số chỉ tiêu trên lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2014-2018

35

2.7

Một số chỉ tiêu trên lĩnh vực chăn nuôi giai đoạn 2014-2018

36


DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Số hiệu


Tên hình

hình
2.1
2.2

Kết quả đánh giá về công tác xây dựng, ban hành văn bản trên
địa bàn thị xã
Kết quả đánh giá về chủ thể thực hiện chính sách phát triển kinh
tế ngành nông nghiệp trên địa thị xã điện bàn

Trang
38
41

Kết quả khảo sát, đánh giá về công tác lập kế hoạch thực hiện
2.3

chính sách phát triển kinh tế ngành nông nghiệp trên địa bàn thị

43


Kết quả khảo sát đánh giá về công tác phổ biến, tuyên truyền
2.4

chính sách phát triển kinh tế ngành nông nghiệp trên địa bàn thị

46



Kết quả khảo sát đánh giá về công tác phân công, phối hợp thực
2.5

hiện chính sách phát triển kinh tế ngành nông nghiệp trên địa

48

bàn thị xã
Kết quả khảo sát đánh giá về công tác duy trì và điều chỉnh
2.6

chính sách phát triển kinh tế ngành nông nghiệp trên địa bàn thị

50


Kết quả khảo sát đánh giá về công tác theo dõi, kiểm tra, đôn
2.7

đốc thực hiện chính sách phát triển kinh tế ngành nông nghiệp

55

trên địa bàn thị xã
Kết quả khảo sát đánh giá về công tác tổng kết, đánh giá, rút
2.8

kinh nghiệm chính sách phát triển kinh tế ngành nông nghiệp
trên địa bàn thị xã


57


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất xuất hiện từ rất sớm, gắn liền
với sự hình thành, phát triển xã hội loài người, trở thành ngành sản xuất vật
chất cơ bản. Do đó phát triển kinh tế nông nghiệp là khách quan, cần thiết đối
với sự phát triển, đặc biệt đối với một quốc gia có nền tảng nông nghiệp lâu
đời như Việt Nam. Thành tựu phát triển kinh tế nông nghiệp nước ta thời kỳ
đổi mới đã khẳng định vai trò quan trọng của kinh tế nông nghiệp đối với phát
triển bền vững, góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và bảo vệ
môi trường sinh thái.
Kết quả 10 năm ngành nông nghiệp triển khai thực hiện Nghị quyết số
26-NQ/TW của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X,
ngày 05/8/2008 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn với nhiều kết quả đã đạt
được, đồng thời mở ra một thời kỳ mới phát triển nền nông nghiệp hiện đại,
bền vững; xây dựng nông thôn mới phồn vinh và văn minh; nâng cao đời
sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn.
Điện Bàn là thị xã đồng bằng ven biển, có vị trí địa lý - kinh tế quan
trọng, là vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc của tỉnh Quảng Nam. Những năm
qua, với nỗ lực to lớn của các cấp, các ngành của thị xã trong công tác phát
triển kinh tế ngành nông nghiệp đã phát huy tiềm năng, lợi thế về điều kiện vị
trí địa lý, tự nhiên, kinh tế - xã hội và tranh thủ nhiều nguồn lực đầu tư để đưa
ngành nông nghiệp đạt được những kết quả tích cực, tốc độ tăng trưởng ngành
nông - lâm - thủy sản năm 2018 đạt 3,9% so với năm 2017 (theo giá so sánh
2010), từng bước chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa, góp phần quan
trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của thị xã.
Tuy nhiên, ngành kinh tế nông nghiệp ở thị xã vẫn còn bộc lộ nhiều hạn

chế, như sản xuất manh mún, chủ yếu là sản xuất hộ gia đình; suy giảm thâm
1


canh; tính hiệu quả và sức cạnh tranh của sản phẩm chưa cao, tình trạng được
mùa mất giá vẫn tiếp tục diễn ra, lặp đi lặp lại, thường xuyên có những cuộc
giải cứu nông sản thừa; thu nhập từ nông nghiệp thấp so với các ngành khác.
Điều này cho thấy, bản thân trong nội bộ của ngành kinh tế nông nghiệp thị
xã cũng đang bộc lộ nhiều hạn chế. Đặc biệt, vai trò của các chủ thể quản lý
trong lĩnh vực này của thị xã Điện Bàn còn mờ nhạt, chưa thực sự hiệu quả,
thể hiện qua các điểm sau đây: Năng lực quản lý chưa đáp ứng yêu cầu phát
triển của kinh tế; Công tác lập kế hoạch còn hạn chế, chưa gắn sản xuất với
nhu cầu của thị trường, tại các xã, phường diễn ra tình trạng đầu tư vượt quy
hoạch, đầu tư theo phong trào rất phổ biến; Những vi phạm phổ biến thường
xuyên diễn ra như vật tư nông nghiệp giả, vi phạm an toàn thực phẩm, sử
dụng chất cấm, kháng sinh trong chăn nuôi.
Việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp trên địa bàn
thị xã đã được các cấp chính quyền và người dân quan tâm thực hiện. Tuy
nhiên, công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách cũng như hoạt động thanh
tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách chưa thực sự mang lại hiệu quả trong
quá trình triển khai chính chính sách phát triển kinh tế ngành nông nghiệp trên
địa bàn thị xã thời gian qua.
Bên cạnh đó, trước những xu thế thay đổi chung hiện nay của ngành
nông nghiệp về sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, tác
động của hội nhập kinh tế và biến đổi khí hậu, đặt ra yêu cầu công tác quản lý
trong phát triển về nông nghiệp ở thị xã Điện Bàn cần thiết phải được nâng
cao hơn nữa. Đặc biệt với vị thế mới, được công nhận là thị xã vào năm 2015,
thị xã Điện Bàn định hướng phát triển theo hướng đô thị, vì vậy yêu cầu đặt ra
đối với công tác thực hiện chính sách phát triển kinh tế ngành nông nghiệp tại
thị xã càng cần thiết phải được nâng cao để phù hợp với định hướng phát triển

trong tình hình mới.
Với những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Thực hiện chính sách phát
2


triển kinh tế ngành nông nghiệp trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng
Nam” làm luận văn tốt nghiệp cao học của mình để nghiên cứu đánh giá thực
trạng, phát hiện các vấn đề tồn tại, hạn chế và nguyên nhân để tìm giải pháp khắc
phục nhằm tăng cường thực hiện chính sách phát triển kinh tế ngành nông
nghiệp trên địa bàn thị xã Điện Bàn.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Từ khi nước ta bước vào thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa
(CNH), hiện đại hóa (HĐH) thì nông nghiệp và phát triển kinh tế nông nghiệp
là một vấn đề mới, thu hút sự quan tâm nhiều hơn của các cơ quan nghiên cứu
và nhà khoa học. Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu với nhiều
cấp độ khác nhau về thực hiện chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp
nhằm mục đích và góc độ tiếp cận khác nhau liên quan trực tiếp đến nội dung
nghiên cứu của luận văn. Trong đó có các công trình điển hình như sau:
Luận văn Thạc sĩ “Phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn trong quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh”, của tác
giả Nguyễn Duy Cường (2010) đã phân tích, làm rõ thực trạng phát triển kinh
tế nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở huyện Can
Lộc. Từ thực trạng và một số vấn đề đặt ra về phát triển kinh tế nông nghiệp,
nông thôn ở huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh trước những năm 2010, tác giả đề
ra quan điểm và giải pháp cơ bản để kinh tế nông nghiệp ở huyện Can Lộc
phát triển tốt hơn thời gian tới [16].
Trong luận án tiến sĩ “Phát triển nông nghiệp tỉnh Quảng Nam giai đoạn
2011 - 2020” của Đoàn Tranh (2012) đã nêu những vấn đề lý luận về phát triển
nông nghiệp, thực trạng phát triển nông nghiệp của tỉnh Quảng Nam, từ đó đề
xuất các giải pháp chủ yếu phát triển nông nghiệp tỉnh Quảng Nam giai đoạn

2011-2020 [40].
Vũ Đình Thắng (2013) trong “Giáo trình Kinh tế nông nghiệp” đã nêu
tổng quan về kinh tế nông nghiệp, đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp
3


nghiên cứu môn học; những nội dung cơ bản về quan hệ sản xuất trong nông
nghiệp Việt Nam; Nghiên cứu những nội dung cơ bản về phát triển lực lượng
sản xuất của nông nghiệp dưới giác độ kinh tế học. Tác giả đã đi sâu về phát
triển nông nghiệp bền vững, các chủ thể kinh tế nông nghiệp, các nguồn lực
và sự tác động của tiến bộ khoa học, yếu tố thị trường, chính sách phát triển
cũng như quản lý nhà nước về nông nghiệp. Thể hiện rõ nhận thức lý luận về
quản lý nhà nước đối với nông nghiệp trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc
tế, làm rõ những căn cứ, nội dung đổi mới quản lý nhà nước về nông nghiệp
trước yêu cầu hội nhập [30].
Trong luận văn thạc sĩ “Kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Sơn La”, tác giả
Nguyễn Thị Minh Nguyệt (2014) đã hệ thống hóa và luận giải rõ những vấn
đề lý luận về kinh tế nông nghiệp như: khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung
cấu thành và nhân tố ảnh hưởng đến kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Sơn La. Đặc
biệt, trên cơ sở kinh nghiệm phát triển kinh tế nông nghiệp của tỉnh Yên Bái,
Lào Cai và Thái Nguyên, tác giả đã rút ra năm bài học kinh nghiệm về phát
triển kinh tế nông nghiệp cho tỉnh Sơn La. Mặt khác, tác giả đã khái quát, làm
rõ bức tranh thực trạng về kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Sơn La; trên cơ sở đó đề
xuất phương hướng và giải pháp phát triển kinh tế nông nghiệp tỉnh Sơn La
đến năm 2020. Có thể nói, tuy địa bàn cũng như mục đích và nhiệm vụ nghiên
cứu về kinh tế nông nghiệp khác nhau, nhưng nhiều nội dung nghiên cứu của
công trình này, cả về lý luận và thực tiễn, có thể kế thừa để nghiên cứu về
phát triển kinh tế nông nghiệp [23].
Phạm S (2015) trong công trình nghiên cứu “Nông nghiệp ứng dụng
công nghệ cao là yêu cầu tất yếu để hội nhập quốc tế”, đã phân tích các cơ sở

khoa học về nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; nêu khái quát nhiều thông
tin bổ ích về công nghệ cao; phân tích các chính sách ứng dụng công nghệ
cao; tổ chức sản xuất quy mô hàng hóa, đặc biệt là nông sản xuất khẩu, ứng
dụng công nghệ cao mang tính đột phá và đồng bộ; xây dựng và quảng bá
4


thương hiệu nông sản; xây dựng và phát triển nông sản chủ lực quốc gia của
một số nước có nền nông nghiệp tiên tiến, hiện đại trên thế giới.
Vũ Trọng Khải (2015) chủ biên cuốn sách “Phát triển nông nghiệp,
nông thôn Việt Nam hiện nay: Những trăn trở và suy ngẫm”, tập hợp những
bài viết của tác giả từ năm 2003 đến năm 2015, phần nhiều đăng trên các tạp
chí có uy tín trong lĩnh vực nông nghiệp như Nghiên cứu Kinh tế, báo Nông
nghiệp Việt Nam, Khoa học Phát triển nông thôn. Các bài viết trong cuốn
sách đề cập đến những vấn đề rất được quan tâm của ngành nông nghiệp và cả
nông thôn Việt Nam qua các năm, và đến nay vẫn còn mang tính thời sự,
chẳng hạn như “Tái cấu trúc hay xây dựng lại nền nông nghiệp Việt Nam”,
“Cái gốc bền vững của việc xây dựng thương hiệu nông sản Việt Nam”,…
Bài nghiên cứu “Một số vấn đề về tăng trưởng xanh ở Việt Nam” của
Nguyễn Thị Thu Trang (2015), phân tích vấn đề đang “nóng” trong các thảo
luận về phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay đó làvấn đề tăng trưởng
xanh. Công trình nghiên cứu khẳng định phát triển bền vững là yêu cầu xuyên
suốt trong Chiến lược phát triển đất nước thời gian sắp tới, trên cơ sở kết hợp
hài hòa ba trụ cột của sự phát triển, gồm: kinh tế - xã hội - môi trường; tăng
trưởng xanh là nội dung của phát triển bền vững, đồng thời góp phần giảm
nhẹ và phòng chống tác động của biến đổi khí hậu. Thông qua việc so sánh
với thực trạng tăng trưởng xanh của khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, bài
viết trình bày những thực trạng về tăng trưởng xanh ở Việt Nam và đề xuất
một số giải pháp giải quyết vấn đề: thứ nhất, tăng trưởng xanh phải là tăng
trưởng do con người và vì con người, phát triển hài hòa đời sống xã hội với

môi trường tự nhiên, góp phần giải quyết yêu cầu tăng trưởng hợp lý với giảm
nghèo bền vững, bảo đảm sự bình đẳng trong cơ hội phát triển cho mỗi người
với điều kiện thụ hưởng hợp lý, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của
người dân trong phát triển; thứ hai, tăng trưởng xanh phải dựa trên việc tăng
cường đầu tư vào bảo tồn, phát triển và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn tự
5


nhiên, giảm phát thải khí nhà kính, cải thiện nâng cao chất lượng môi trường,
qua đó kích thích tăng trưởng kinh tế ngay trong điều kiện biến đổi khí hậu
toàn cầu, đặc biệt là tình trạng nước biển dâng cao sẽ tác động mạnh vào
nhiều vùng của đất nước; thứ ba, tăng trưởng xanh phải dựa trên cơ sở khoa
học, thực hiện chuyển giao công nghệ hiện đại, kỹ năng quản lý tiên tiến, xây
dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, kết
hợp giữa nội lực với mở rộng hợp tác quốc tế, tạo thành nguồn lực tổng thể
cho phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; thứ tư, tăng trưởng xanh là sự
nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, là nhiệm vụ của mọi cấp chính quyền, từ các
bộ, ngành đến chính quyền các địa phương, thích ứng với một hệ thống phân
cấp quản lý phi tập trung hóa; sự phối hợp với các tổ chức và cá nhân nước
ngoài; trên cơ sở kết hợp liên kết, giám sát đan chéo của các cơ quan, doanh
nghiệp, đoàn thể xã hội, các cộng đồng dân cư và mọi người dân [28].
Luận văn thạc sĩ “Phát triển kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai” của
tác giả Đồng Thị Hạnh (2015), trên cơ sở khái quát những vấn đề lý luận
chung về kinh tế nông nghiệp và phát triển kinh tế nông nghiệp; tác giả đã
luận giải, làm rõ nội dung, vai trò phát triển kinh tế nông nghiệp cũng như các
nhân tố tác động đến phát triển kinh tế nông nghiệp. Đặc biệt, tác giả khái
quát tương đối rõ 5 bài học trên cơ sở kinh nghiệm phát triển nông nghiệp của
một số nước có nền nông nghiệp phát triển như Thái Lan, Đài Loan, Hàn
Quốc. Trên cơ sở những vấn đề lý luận cơ bản như vậy, tác giả đã phân tích,
làm rõ thực trạng phát triển kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai; trong đó

làm rõ cả thành tựu và hạn chế. Đồng thời từ thực trạng này, tác giả đã khái
quát 3 vấn đề đặt ra vừa mang ý nghĩa là hạn chế, yếu kém, vừa là những mâu
thuẫn cần sớm được giải quyết. Trên cơ sở đó tác giả đề xuất phương hướng và
giải pháp nhằm phát triển kinh tế nông nghiệp ở Đồng Nai trong thời gian tới.
Mặc dù không gian, nhất là điều kiện địa lý, kinh tế, xã hội để phát triển kinh tế
nông nghiệp của tỉnh Đồng Nai khác với các địa phương khác, nhưng một số

6


vấn đề lý luận chung về nông nghiệp và kinh tế nông nghiệp là những nội dung
có thể kế thừa, vận dụng vào nghiên cứu về phát triển kinh tế nông nghiệp ở địa
bàn nghiên cứu [19].
Công trình nghiên cứu “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam
hôm nay và mai sau” của Đăng Kim Sơn năm 2018 đánh giá, phân tích các vấn
đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam cả hiện tại và tương lai gần.
Xuất phát từ thực tiễn nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta hiện nay, tác
giả đã luận giải, làm rõ những vấn đề cấp bách cần thực hiện trong thời gian
tới. Trong đó có một số giải pháp về giải quyết mối quan hệ giữa nông nghiệp,
nông dân và nông thôn có thể tham khảo để nghiên cứu vấn đề phát triển kinh
tế nông nghiệp ở địa bàn nghiên cứu [29].
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên tiếp cận ở nhiều khía cạnh
khác nhau về kinh tế nông nghiệp, phát triển kinh tế nông nghiệp, hay nghiên
cứu sâu về nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Tuy có sự khác nhau về góc
độ tiếp cận, nội dung và phạm vi đề cập nhưng các công trình trên đều hướng
tới giải quyết các vấn đề về lý luận và thực tiễn liên quan đến thực hiện chính
sách phát triển kinh tế ngành nông nghiệp. Có thể nhận thấy rằng các công
trình nghiên cứu trên tuy công bố gần đây và được tiếp cận nghiên cứu từ
nhiều chuyên ngành khác nhau (kinh tế chính trị, quản lý kinh tế, quản lý
công hay chính sách công...) với mục đích, nhiệm vụ và không gian nghiên

cứu khác nhau (cả nước, vùng miền, địa phương hay lĩnh vực khác nhau),
song chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề này tại thị xã Điện Bàn. Vì
vậy, việc nghiên cứu “Thực hiện chính sách phát triển kinh tế ngành nông
nghiệp trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam” là nội dung mới, có
tính thực tiễn cao đối với thị xã Điện Bàn, không trùng lặp với các công trình
khoa học đã công bố.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu

7


Làm rõ cơ sở lý luận về thực hiện chính sách phát triển kinh tế ngành
nông nghiệp và đánh giá thực trạng trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng
Nam, qua đó đề xuất phương phướng, giải pháp hoàn thiện và đẩy mạnh thực
hiện chính sách phát triển kinh tế ngành nông nghiệp trên địa bàn thị xã Điện
Bàn, tỉnh Quảng Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận giải cơ sở lý luận về thực hiện chính sách phát triển kinh tế
ngành nông nghiệp;
- Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách phát triển kinh tế ngành
nông nghiệp trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam;
- Đề xuất phương phướng, giải pháp hoàn thiện và đẩy mạnh thực hiện
chính sách phát triển kinh tế ngành nông nghiệp trên địa bàn thị xã Điện Bàn,
tỉnh Quảng Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Thực hiện chính sách phát triển kinh tế ngành nông nghiệp tại thị xã
Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu

Về không gian: Đề tài nghiên cứu các nội dung trên địa bàn thị xã Điện
Bàn, tỉnh Quảng Nam.
Về thời gian: Giai đoạn 2014 - 2018.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài này, tác giả vận dụng
nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của
Đảng Cộng Sản Việt Nam, chủ trương, chính sách của các địa phương về nông
nghiệp, nông thôn, nông dân nói chung; về phát triển kinh tế nông nghiệp nói
riêng. Đồng thời kế thừa có chọn lọc các công trình nghiên cứu khoa học có nội
dung liên quan đến nội dung của đề tài trên phạm vi cả nước và tình hình cụ thể
8


của thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Các phương pháp nghiên cứu được sử
dụng để thực hiện đề tài như sau:
5.1. Phương pháp thu thập dữ liệu:
Thu thập dữ liệu thứ cấp: Thông qua các thông tin từ Chi cục Thống kê
thị xã, các báo cáo về nông nghiệp của UBND thị xã và các phòng chuyên môn
của thị xã. Bên cạnh đó, đề tài còn sử dụng các kết quả đã công bố tại các luận
văn, bài báo, tạp chí, giáo trình của các tác giả để phục vụ cho nghiên cứu.
Thu thập dữ liệu sơ cấp: Khảo sát các cá nhân về thực hiện chính sách
phát triển kinh tế ngành nông nghiệp trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng
Nam để làm rõ thực trạng thực hiện chính sách phát triển kinh tế ngành nông
nghiệp trên địa bàn thị xã thông qua bảng câu hỏi chuẩn bị sẵn. Phiếu phỏng
vấn được xây dựng trên cơ sở áp dụng thang đo thái độ Likert 5 (từ 5 là rất tốt
đến 1 là rất kém) để khảo sát đánh giá sự đánh giá của người được hỏi về các
nội dung thực hiện chính sách phát triển kinh tế ngành nông nghiệp trên địa
bàn thị xã.
Lựa chọn điểm khảo sát: Tại 20 xã, phường trên địa bàn thị xã Điện
Bàn để làm rõ thực trạng thực hiện chính sách phát triển kinh tế ngành nông

nghiệp trên địa bàn thị xã.
Lựa chọn đối tượng phỏng vấn: Chọn 120 cá nhân để phỏng vấn, thăm
dò đánh giá của họ về tình hình thực hiện các nội dung thực hiện chính sách
phát triển kinh tế ngành nông nghiệp trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng
Nam theo mẫu phỏng vấn chuẩn bị sẵn. Chia làm hai nhóm đối tượng điều tra,
nhóm 1 là các cán bộ thực hiện chính sách phát triển kinh tế ngành nông nghiệp
trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, nhóm 2 là các cá nhân, tổ chức
tham gia sản xuất, kinh doanh lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn thị xã Điện
Bàn.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Luận văn góp phần luận giải, làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn
9


thực hiện chính sách phát triển kinh tế ngành nông nghiệp trên địa bàn thị xã
Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
Kết quả nghiên cứu của Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong
nghiên cứu và giảng dạy chuyên ngành chính sách công. Đây là căn cứ khoa
học để thị xã Điện Bàn đề ra chủ trương, chính sách phù hợp nhằm đẩy mạnh
phát triển kinh tế nông nghiệp, góp phần phát triển KT-XH của tỉnh.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn được kết cấu thành 3 chương chính như sau:
Chương 1. Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách phát triển kinh tế
ngành nông nghiệp
Chương 2. Thực trạng thực hiện chính sách phát triển kinh tế ngành
nông nghiệp trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam
Chương 3. Phương hướng, giải pháp hoàn thiện và đẩy mạnh thực hiện
chính sách phát triển kinh tế ngành nông nghiệp trên địa bàn thị xã Điện Bàn,
tỉnh Quảng Nam


10


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
PHÁT TRIỂN KINH TẾ NGÀNH NÔNG NGHIỆP
1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1. Nông nghiệp và kinh tế nông nghiệp
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất xuất hiện từ rất sớm, gắn liền
với sự hình thành và phát triển xã hội loài người. Nông nghiệp là khái niệm
được sử dụng vừa để chỉ ngành nghề hay sản nghiệp, vừa để phân biệt với các
ngành sản xuất vật chất khác như công nghiệp, dịch vụ. Theo Bách khoa toàn
thư Việt Nam, nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử
dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư
liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực, thực phẩm và một
số nguyên liệu cho công nghiệp. Theo nghĩa hẹp, nông nghiệp là ngành sản
xuất vật chất, bao gồm trồng trọt, chăn nuôi nhằm cung cấp lương thực và
thực phẩm cho xã hội. Theo nghĩa rộng, nông nghiệp bao gồm trồng trọt, chăn
nuôi, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp. Nông nghiệp có vai trò rất
quan trọng trong việc duy trì sự tồn tại của con người và sự phát triển của xã
hội loài người; đó là cung cấp lương thực, thực phẩm, nguyên liệu cho công
nghiệp chế biến và là thị trường rộng lớn của các ngành công nghiệp, dịch
vụ… Nếu xét trong mối quan hệ với kinh tế công nghiệp, phát triển kinh tế
ngành nông nghiệp là tiền đề của phân công lao động xã hội; bởi theo C.Mác,
trong lịch sử xã hội loài người, chỉ đến khi nông nghiệp cung cấp đủ lương
thực cho con người thì nền sản xuất xã hội mới phân chia thành ngành nông
nghiệp và công nghiệp. Tuy nhiên, dù theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp, thì nông
nghiệp vẫn là ngành sản xuất vật chất mà con người phải dựa vào quy luật
sinh trưởng của cây trồng và vật nuôi để sản xuất lương thực, thực phẩm…

nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người và phát triển xã hội [20, tr.36].
11


Từ mấy vấn đề trên cho thấy, kinh tế ngành nông nghiệp là một ngành
kinh tế của nền kinh tế quốc dân; vì vậy có thể hiểu kinh tế ngành nông
nghiệp là lĩnh vực sản xuất vật chất gắn liền với các quá trình sinh học của
cây trồng, vật nuôi, bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp, không
chỉ đáp ứng nhu cầu thiết yếu về lương thực, thực phẩm của con người, mà
còn cung cấp nguyên liệu cho một số ngành sản xuất vật chất khác.
Việt Nam nói chung, tỉnh Bắc Ninh nói riêng đang trong quá trình phát
triển, mà điểm khởi nguồn là từ phát triển kinh tế ngành nông nghiệp. Do đó,
trong xu thế phát triển KT-XH, thì phát triển kinh tế ngành nông nghiệp có ý
nghĩa chiến lược cả về kinh tế, chính trị, xã hội và môi trường.
Đặc điểm của kinh tế nông nghiệp
Mặc dù cũng là ngành sản xuất vật chất, nhưng so với nhiều ngành sản
xuất vật chất khác trong nền kinh tế quốc dân, kinh tế ngành nông nghiệp có
những đặc điểm phản ánh tính đặc thù của ngành kinh tế này, đó là:
Thứ nhất, tài nguyên đất đai và tài nguyên nước là tư liệu sản xuất chủ
yếu, không thể thay thế. Đất đai tham gia vào mọi ngành sản xuất vật chất
trong xã hội như là một loại tư liệu sản xuất đặc biệt; đồng thời là một trong
bốn yếu tố cơ bản của qúa trình sản xuất. Khác với nhiều ngành khác, trong
sản xuất nông nghiệp, tài nguyên đất đai và tài nguyên nước là tư liệu sản
xuất chủ yếu, có vai trò quan trọng, không thể thay thế. Nếu không có tài
nguyên đất đai và tài nguyên nước, hoặc thiếu một trong hai tài nguyên này,
không thể trồng trọt, chăn nuôi; nghĩa là kinh tế ngành nông nghiệp không thể
phát triển, thậm chí không có kinh tế ngành nông nghiệp [30].
Thứ hai, đối tượng sản xuất của nông nghiệp là cây trồng, vật nuôi.
kinh tế ngành nông nghiệp mang tính đặc thù của một ngành mà đối tượng
sản xuất là sinh vật. Trong sinh học và sinh thái học, sinh vật là tên gọi chung

của các vật sống, bao gồm động vật, thực vật, vi sinh vật,..có trao đổi chất với
môi trường ngoài, có sinh đẻ, lớn lên và chết. Điều đó cũng có nghĩa, sinh vật
12


là cơ thể sống(trong thực tế không phải mọi vật sống, hay sinh vật đều mang
các đặc trưng trên; một số sinh vật không có khả năng tự chuyển động và
phản ứng trực tiếp đối với môi trường; một số vi sinh vật không có khả năng
tự sinh sản). Như vậy, có thể hiểu đối tượng sản xuất của nông nghiệp là các
vật sống, bao gồm động vật, thực vật, vi sinh vật (gọi chung là cây trồng, vật
nuôi). Nói cách khác, đối tượng sản xuất của nông nghiệp là các vật sống, bao
gồm các loại cây trồng, vật nuôi. kinh tế ngành nông nghiệp gắn với các
ngành kinh tế khác trên địa bàn nông thôn; đồng thời chịu sự chi phối của nền
kinh tế quốc dân. Cây trồng, vật nuôi có quy luật sinh tồn độc lập với ý muốn
con người. Cây trồng, vật nuôi chỉ phát triển tốt nhất khi có điều kiện tự
nhiên, khí hậu, đất, nước, phân bón, môi trường phù hợp. Từ đặc điểm của đối
tượng sản xuất nông nghiệp là cây trồng, vật nuôi nên con người sẽ có khả
năng sử dụng các giải pháp sinh học trong phát triển kinh tế ngành nông
nghiệp [30].
Thứ ba, sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ cao. Trong nông nghiệp,
quá trình tái sản xuất tự nhiên liên quan chặt chẽ với quá trình tái sản xuất,
thời gian lao động xen kẽ với thời gian sản xuất và không hoàn toàn trùng
khớp với thời gian sản xuất, làm cho sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ
trong việc sử dụng nguồn lực. Mặt khác, như trên đã đề cập, do đối tượng sản
xuất của nông nghiệp là các vật sống (hay sinh vật); mà các vật sống có đặc
trưng như chuyển động, trao đổi chất, sinh trưởng, sinh sản và phản ứng trước
tác động của môi trường bên ngoài. Từ đặc trưng trao đổi chất, sinh trưởng,
sinh sản… mà các vật sống có chu kỳ sinh trưởng nhất định. Chính chu kỳ
sinh trưởng đó đã làm cho sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ; và con người
đã khai thác tính chất thời vụ của các vật sống để phát triển kinh tế ngành

nông nghiệp phục vụ cho nhu cầu sống của con người [30].
Thứ tư, nông nghiệp và kinh tế ngành nông nghiệp là lĩnh vực đòi hỏi
đầu tư, rủi ro cao. Đặc điểm của nông nghiệp và kinh tế ngành nông nghiệp
13


nước ta nói chung, tỉnh Bắc Ninh nói riêng là gắn với địa bàn nông thôn, đời
sống nông dân; trong khi đó nông thôn là vùng rộng lớn, chiếm phần lớn diện
tích và khoảng 70% dân số của tỉnh, cả nước hiện có “25 triệu người làm
nông nghiệp”, người dân nông thôn vốn cần cù, chịu khó, nhưng cuộc sống
vẫn chịu nhiều thua thiệt. Do đó đòi hỏi phải phát triển kinh tế ngành nông
nghiệp, nông thôn. Tuy nhiên, để phát triển kinh tế ngành nông nghiệp, đòi
hỏi phải bảo đảm đầy đủ nhiều yếu tố khác nhau; trong đó xây dựng kết cấu
hạ tầng KT-XH cho khu vực nông nghiệp, nông thôn là điều kiện thiết yếu,
cần thiết nhất và phải được tiến hành trước một bước. [30].
1.1.2. Phát triển kinh tế ngành nông nghiệp
Nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất, là một bộ phận cấu thành
của nền kinh tế quốc dân.Trong quá trình sản xuất nông nghiệp, con người
không chỉ tạo ra sản phẩm vật chất cho nhu cầu xã hội mà còn thực hiện sản
xuất và tái sản xuất ra những quan hệ xã hội của chính con người, những quan
hệ sản xuất. Những quan hệ này tạo thành cơ sở kinh tế cho toàn bộ các quan
hệ tư tưởng, tinh thần trong nông nghiệp nông thôn. Nói cách khác, quan hệ
sản xuất là các quan hệ kinh tế tạo nên cơ sở kinh tế cho sự phát triển nông
nghiệp trong mối quan hệ biện chứng giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản
xuất và với các quan hệ xã hội khác.
Quan niệm về phát triển kinh tế ngành tập trung làm rõ quá trình tăng
trưởng và tái cơ cấu một ngành, một lĩnh vực cụ thể qua đó đánh giá được quá
trình sự thay đổi trong ngành nghiên cứu.
Phát triển kinh tế ngành nông nghiệp được hiểu là một quá trình vận
động, biến đổi lâu dài của ngành nông nghiệp trong quá trình phát triển. Thực

chất của quá trình phát triển kinh tế ngành nông nghiệp là khả năng thích ứng
của kinh tế ngành nông nghiệp trong các mô hình tổ chức sản xuất xã hội.
Với nghĩa như vậy thì phát triển kinh tế ngành nông nghiệp không chỉ
là sự tăng lên về lượng, mà là quá trình tăng thêm về mọi mặt của kinh tế
14


ngành nông nghiệp; trong đó bao gồm sự tăng thêm về trình độ, quy mô, số
lượng, chất lượng, cơ cấu của kinh tế ngành nông nghiệp và sự phù hợp, sự
đổi mới, ngày càng hoàn thiện của kinh tế ngành nông nghiệp trong quá trình
vận động, biến đổi và phát triển của ngành kinh tế này.
Từ quan niệm về kinh tế ngành nông nghiệp; trên cơ sở kế thừa các kết
quả nghiên cứu về kinh tế ngành nông nghiệp và cách tiếp cận khái niệm phát
triển của chủ nghĩa Mác - Lênin, có thể quan niệm: Phát triển kinh tế ngành nông
nghiệp là tổng thể hoạt động của các chủ thể trong hệ thống chính trị, sử dụng hệ
thống cơ chế, chính sách, biện pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao trình độ, quy mô
tổ chức, cơ cấu sản xuất kinh tế ngành nông nghiệp phù hợp với chiến lược phát
triển KT-XH của quốc gia hay địa phương trong từng thời kỳ [28].
Kinh tế ngành nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất đặc biệt quan
trọng đối với phát triển xã hội. Với một nước đang đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa như Việt Nam, thì phát triển kinh tế ngành nông nghiệp
càng có vai trò quan trọng hơn. Phát triển kinh tế ngành nông nghiệp phải
phát triển toàn diện cả điều kiện vật chất và các quan hệ KT-XH của nó.
Trong nền kinh tế thị trường, phát triển kinh tế ngành nông nghiệp bao
gồm ba nhân tố cơ bản:
Một là, kinh tế ngành nông nghiệp là một bộ phận của kinh tế hàng
hóa; một kiểu tổ chức KT-XH trong nông nghiệp, gắn với trình độ phát triển
nhất định của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội. Đây là nhân
tố xác định vị trí, vai trò của kinh tế ngành nông nghiệp trong nền kinh tế.
Hai là, sản phẩm của nông nghiệp dùng để trao đổi, mua bán trên thị

trường. Đây là yếu tố thể hiện tính chất cơ bản của kinh tế ngành nông
nghiệp, đáp ứng yêu cầu cơ bản của nền kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường.
Ba là, sự trao đổi, mua bán sản phẩm nông nghiệp vừa thỏa mãn nhu
cầu tiêu dùng xã hội, vừa có lợi nhuận cho người sản xuất để tái sản xuất mở
rộng, hiện đại hóa nông nghiệp. Đây là nhân tố nói lên mục đích của kinh tế
15


ngành nông nghiệp.
Lịch sử phát triển KT-XH cho thấy, sự ra đời và phát triển kinh tế
ngành nông nghiệp là tất yếu, một bước phát triển tiến bộ của lịch sử nhân
loại; nấc thang phát triển mà mọi quốc gia, vùng lãnh thổ đều trải qua. Vì thế,
với quốc gia, vùng lãnh thổ chủ yếu dựa vào kinh tế ngành nông nghiệp, thì
phát triển kinh tế ngành nông nghiệp là nhiệm vụ quan trọng.
1.1.3. Chính sách và thực hiện chính sách phát triển kinh tế ngành
nông nghiệp
1.1.3.1. Chính sách phát triển kinh tế ngành nông nghiệp
Cụm từ “chính sách” khi gắn với vai trò, chức năng của “khu vực
công” được gọi là chính sách công. Đây không chỉ đơn giản là sự ghép từ
thuần túy, mà đã có sự thay đổi cơ bản về nghĩa, bởi nó có sự khác biệt về chủ
thể ban hành chính sách, về mục đích tác động của chính sách và vấn đề mà
chính sách hướng tới giải quyết. Cho đến hiện tại, có không ít định nghĩa khác
nhau về chính sách công, trong đó có một số định nghĩa khá phức tạp và bao
hàm tương đối rộng các chức năng và hoạt động.
Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan
nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện giải
quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu đã xác định của đảng chính trị cầm
quyền [51]
Bên cạnh việc nhìn nhận một cách toàn diện các khía cạnh của khái
niệm chính sách công từ nhiều góc độ, khái niệm “chính sách công” được

định nghĩa một cách ngắn gọn như sau: “Chính sách công là những đường
hướng ứng xử cơ bản của nhà nước với những vấn đề chính sách phát sinh
trong đời sống cộng đồng bằng nhiều hình thức khác nhau nhằm thúc đẩy
phát triển xã hội và quản lý xã hội” [51]
Từ cách tiếp cận về kinh tế ngành nông nghiệp, chính sách công, có thể
hiểu về chính sách phát triển kinh tế ngành nông nghiệp như sau:
16


Chính sách phát triển kinh tế ngành nông nghiệp là tập hợp các quyết
định của Nhà nước nhằm đưa ra các giải pháp, công cụ thực hiện để giải
quyết các vấn đề có liên quan đến việc nâng cao hiệu quả hoạt động tổ chức
sản xuất, kinh doanh nông nghiệp trong các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi,
nuôi trồng thủy sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông,
lâm, thủy sản.
Trên cơ sở khái niệm chính sách phát triển kinh tế ngành nông nghiệp,
có thể thấy nội dung của chính sách bao gồm:
Thứ nhất, kinh tế ngành nông nghiệp tăng trưởng theo hướng nâng cao
giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Tăng trưởng kinh tế “là sự biến đổi
kinh tế theo chiều hướng tiến bộ, mở rộng qui mô về mặt số lượng của các
yếu tố của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định nhưng trong khuôn khổ giữ
nguyên về mặt cơ cấu và chất lượng”.
Thứ hai, cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp hợp lý, phù hợp với chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong từng thời kỳ. Nông nghiệp là
một ngành cơ bản của nền kinh tế cả nước, vừa chịu sự chi phối chung của
nền kinh tế quốc dân, vừa gắn bó mật thiết với các ngành khác trên địa bàn
nông thôn, đồng thời lại phản ánh những nét riêng biệt mang tính đặc thù của
một ngành mà đối tượng sản xuất là các vật sống (cây trồng, vật nuôi). Vì
vậy, có thể hiểu cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp là tổng thể các bộ phận hợp
thành kết cấu kinh tế ngành nông nghiệp trong quá trình tăng trưởng sản xuất.

Thứ ba, trình độ phát triển kinh tế ngành nông nghiệp, trong đó Khoa học
và công nghệ nông nghiệp là yếu tố then chốt. Khoa học và công nghệ có vai trò
ngày càng quan trọng trong mọi lĩnh vực sản xuất và đời sống xã hội. Bản chất
của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xét về mặt trình độ phát triển lực lượng sản
xuất là sự thay đổi trình độ công nghệ của sản xuất theo hướng hiện đại. Trong
nông nghiệp, Khoa học và công nghệ giữ vai trò rất quan trọng, quyết định năng
suất, chất lượng, hiệu quả, tính cạnh tranh của hàng hóa nông sản.
17


Thứ tư, đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả
trong nông nghiệp. Trong lĩnh vực nông nghiệp, các hình thức tổ chức, sản
xuất, kinh doanh là biểu hiện của quan hệ sản xuất. Các quan hệ này trước hết
là mối quan hệ giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng đối với các nguồn lực.
Thứ năm, phát triển nguồn nhân lực nông nghiệp. Để phát triển kinh tế
xã hội cũng như phát triển kinh tế ngành nông nghiệp, nguồn nhân lực là bộ
phận của nguồn lực phát triển kinh tế ngành nông nghiệp, đó là yếu tố đầu
vào không thể thiếu của quá trình tái sản suất nông nghiệp; mặt khác đó còn là
một bộ phận của dân số, được hưởng lợi từ sự phát triển kinh tế ngành nông
nghiệp. Phát triển kinh tế nói chung, kinh tế ngành nông nghiệp nói riêng, suy
đến cùng là tăng trưởng kinh tế để nâng cao đời sống cho người nông dân
cũng như cư dân nông thôn.
Thứ sáu, hệ thống cơ chế, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với lĩnh
vực nông nghiệp. Mọi sự hoạt động của nền kinh tế đều có sự điều tiết của
nhà nước, song không phải nhà nước can thiệp trực tiếp vào quá trình sản xuất
kinh doanh của các đơn vị kinh tế.
1.1.3.2. Thực hiện chính sách phát triển kinh tế ngành nông nghiệp
Tổ chức thực hiện chính sách phát triển kinh tế ngành nông nghiệp là
một khâu cấu thành chu trình chính sách phát triển kinh tế ngành nông
nghiệp, là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách phát

triển kinh tế ngành nông nghiệp thành hiện thực với các đối tượng quản lý
nhằm đạt mục tiêu nhất định [18].
Qua thực hiện mới biết được chính sách phát triển kinh tế ngành nông
nghiệp có đúng, phù hợp và đi vào cuộc sống hay không. Quá trình thực hiện
sẽ góp phần điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện chính sách phát triển kinh tế
ngành nông nghiệp cho phù hợp với thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của cuộc
sống. Đồng thời, việc phân tích, đánh giá chính sách phát triển kinh tế ngành
nông nghiệp chỉ có cơ sở đầy đủ, sức thuyết phục sau khi được thực hiện.
18


×