Tải bản đầy đủ (.pdf) (6 trang)

42 tính kháng kháng sinh của tác nhân gây nhiễm khuẩn bệnh viện trên người cao tuổi tại Bệnh viện Thống Nhất (2013-2014)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (458.4 KB, 6 trang )

Nghiên cứu Y học

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 19 * Số 6 * 2015

42 TÍNH KHÁNG KHÁNG SINH CỦA TÁC NHÂN GÂY NHIỄM KHUẨN
BỆNH VIỆN TRÊN NGƯỜI CAO TUỔI TẠI BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT
(2013-2014)
Lê Thi Kim Nhung*, Viên Vinh Phú, Đỗ Thanh Hương

TÓM TẮT
Mục tiêu: Khảo sát tác nhân gây nhiễm khuẩn bệnh viện và tính kháng thuốc của vi khuẩn, giúp lựa chọn
kháng sinh kinh nghiệm phù hợp.
Đối tượng: Bệnh nhân bị nhiễm khuẩn bệnh viện tại tất cả các khoa lâm sàng trong 2 năm từ 1/2013 đến
tháng 12/2014.
Kết quả: Nhiễm khuẩn đường hô hấp là thường gặp nhất (91,6%), có 61,8% bệnh nhân bị nhiễm nhiều tác
nhân gây bệnh. Vi khuẩn gram âm gây bệnh chủ yếu (71,3%), tỉ lệ nhiễm nấm (37,5%) và thường kèm theo
nhiễm vi khuẩn. Acinetobacter baumanni chiếm 41,9%, P.aeruginosa chiếm 29,1%, K.pneumoniae chiếm 27,2%;
E.coli chiếm 16,2%. A.baumanni đề kháng kháng sinh mạnh. Chỉ còn 89,8% chủng nhạy Colistin và 70,4%
chủng nhạy Amikacin. P.aeruginosa đề kháng kháng sinh mạnh. Chỉ còn 87,4% chủng nhạy Colistin và 47,5%
chủng nhạy Ceftazidim. K.pneumonie đề kháng hầu hết kháng sinh. Imipenem và Meronem cũng bị đề kháng
mạnh. E.coli còn tương đối nhạy với các carbapenem, pipe-tazobactam. Cephalosporin cũng bị đề kháng mạnh.
S.aureus chiếm 37,5%. S.aureus đề kháng mạnh peniciclin, oxacyclin… chỉ còn nhạy Vancomycin, có 1 chủng đã
kháng vancomycin.
Kết luận: Tác nhân gây bệnh chủ yếu là vi khuẩn gram âm. Tỉ lệ nhiễm nấm rất cao. Vi khuẩn kháng sinh
mạnh. A.baumannni có tỉ lệ mhiễm cao nhất trong vi khuẩn gram âm và múc độ kháng kháng sinh mạnh nhất.
Từ khóa: vi khuẩn, nhiễm trùng bệnh viện

ABSTRACT
ANTIBIOTIC RESISTANCE OF PATHOGENS OF HOSPITAL INFECTIONS IN THE ELDERLY AT
THONG NHAT HOSPITAL (2013-2014)
Le Thi Kim Nhung, Vien Vinh Phu, Do Thanh Huong


* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Supplement of Vol. 19 - No 6 - 2015:
Objectives: To assess the causes of hospital infections and the drug resistance of bacteria, and help choose the
appropriate antibiotics.
Methods: Patient with hospital infections at all clinical departments within two years from 1/2013 to
12/2014.
Result: Respiratory infection is the most common (91.6%), with 61.8% of patients infected with multiple
pathogens. Gram-negative bacterial pathogens are 71.3%, fungal infections are 37.5% and often accompanied by
bacterial infection. Acinetobacter baumanni are 41.9%, P.aeruginosa 29.1%, K.pneumoniae 27.2%, and E.coli
16.2%. A.baumanni has strong antibiotic resistance. There are only 89.8% Colistin sensitive strains and 70.4%
Amikacin sensitive strains. P.aeruginosa has strong antibiotic resistance. There are only 87.4% Colistin sensitive
strains and 47.5% Ceftazidim sensitive strains. K.pneumonie is resistant to most antibiotic. Imipenem and
* Khoa Nội Nhiễm Bệnh viện Thống Nhất
Tác giả liên lạc: PGS. TS. Lê Thi Kim Nhung

242

ĐT: 0918834211

Email:

Hội Nghị Khoa Học Công Nghệ BV. Thống Nhất năm 2015


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 19 * Số 6 * 2015

Nghiên cứu Y học

Meronem are also resisted. E.coli is mostly sensitive to carbapenems, pipe-Tazobactam. Cephalosporin is also
resisted. S. aureus is accounted for 37.5%. S.aureus has strong resistance against penicilin, oxacyclin ... but
sensitive to vancomycin, only 1 strain resistant to vancomycin.

Conclusions: Pathogens are mainly Gram-negative bacteria. Fungal infection rate is very high. Bacteria has
strong antibiotic resistance. A.baumannni is most common among gram-negative bacteria and has the highest
level of resistance.
Keywords: Bacteria, nosocomial infection

MỞ ĐẦU

ĐỐITƯỢNG-PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU

Nhiễm khuẩn bệnh viện do các tác nhân gây
bệnh độc lực và đa kháng đang là một trong các
mối quan tâm đặc biệt của ngành y tế. Người cao
tuổi có nhiều bệnh mạn tính phải nhập viện
thường xuyên hơn. Những bệnh nhân có bệnh
cơ bản nặng phải sử dụng nhiều can thiệp điều
trị. Những bệnh nhân già yếu, suy giảm miễn
dịch và cả những người già yếu trong các trại an
dưỡng, những bệnh nhân này có nguy cơ cao bị
nhiễm khuẩn bệnh viện. Các kháng sinh mới
phổ rộng được sử dụng rộng rãi trong bệnh viện
và trong cộng đồng, làm gia tăng tính kháng
thuốc của vi khuẩn. Một số vi khuẩn trước đây ít
đề kháng với kháng sinh thì ngày nay đã trở
thành vi khuẩn đa kháng thuốc. Một số vi khuẩn
độc lực gây nhiễm khuẩn bệnh viện, đã trở
thành siêu kháng thuốc. Một số kháng sinh đặc
trị đã gần như mất hiệu lực. Theo tổ chức Y Tế
thế giới Việt Nam là một trong những nước có tỉ
lệ vi khuẩn kháng kháng sinh cao nhất trong khu
vực. Theo các báo cáo của bệnh viện Bạch Mai,

bệnh viện Chợ Rẫy, bệnh viện Thống Nhất, cho
thấy vi khuẩn kháng kháng sinh rất mạnh và
ngày càng xuất hiện những chủng siêu kháng
thuốc. Vi khuẩn gây nhiễm khuẩn bệnh viện
kháng kháng sinh mạnh, đã làm tăng chi phí
điều trị, gây thất bại và tăng tỉ lệ tử vong trong
bệnh viện. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài
này nhằm khảo sát tác nhân gây nhiễm khuẩn
bệnh viện trong 2 năm từ năm 2013 – 2014 và
nghiên cứu tính kháng kháng sinh của chúng,
góp phần dự đoán tác nhân gây bệnh và điều trị
kháng sinh kinh nghiệm phù hợp.

Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân bị nhiễm khuẩn bệnh viện tại tất
cả các khoa lâm sàng trong 2 năm từ 1/2013 đến
tháng 12/2014.

Phương pháp nghiên cứu
Tiền cứu, mô tả, cắt ngang.
Xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê y học
SPSS 13.0

KẾT QUẢ
Trong 2 năm từ tháng 1/2013 đến tháng
12/2014 có 136 trường hợp bị nhiễm khuẩn bệnh
viện.

Tuổi và giới tính
Tuổi mắc bệnh

Trung bình 78,5 ± 10,4 cao nhất: 95 tuổi; thấp
nhất: 60 tuổi.
Phân bố giới tính
136 bệnh nhân gồm có Nam: 93 bệnh nhân;
nữ: 43 bệnh nhân.

Biểu đồ 1: Phân bố giới tính

Hội Nghị Khoa Học Công Nghệ BV. Thống Nhất năm 2015

243


Nghiên cứu Y học

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 19 * Số 6 * 2015

Loại nhiễm khuẩn và tác nhân thường gặp
gây nhiễm khuẩn bệnh viện
Bảng 1: Loại nhiễm khuẩn bệnh viện. thường gặp
Cơ quan nhiễm
Hô hấp
khuẩn
Bênh nhân
125
(n=136)
Tỉ lệ %
91,9

máu


Tiết niệu

Da

28

22

5

20,6

16,2

3,7

Nhận xét: Nhiễm khuẩn đường hô hấp là
thường gặp nhất, có 28 bệnh nhân bị nhiễm
khuẩn máu trong đó 14 trường hợp kết hợp
nhiễm khuẩn hô hấp và máu.
Bảng 2: Các tác nhân thường gặp gây nhiễm khuẩn
bệnh viện
Tác nhân gây bệnh
Trên 2 tác nhân gây bệnh
S.aureus
Vi khuẩn Gram âm
Acinetobacter baumanni
Pseudomonas aeruginosa
Klebsiella pneumoniae

E. coli
Enterobacter
P.mirabilis
E.feacalis
Nấm
Nấm
Nấm/Gram âm
Nấm/Gram dương

Bệnh nhân bị
NKBV
Tỉ lệ %
(n=136)
84
61,8
51
37,5
118
71,3
57
41,9
40
29,4
37
27,2
22
16,2
15
11,3
10

7,4
7
5,1
51
37,5
6
4,4
22
16,2
5
3,7

Biểu đồ 2: Mức độ nhạy cảm kháng sinh của
A.baumanni (57 chủng)

Biểu đồ 3: Mức độ nhạy cảm kháng sinh của P.
aeruginosa (40 chủng)

Vi khuẩn gram âm gây bệnh chủ yếu
(71,3%), tỉ lệ nhiễm nấm (37,5%) và thường kèm
theo nhiễm vi khuẩn. Acinetobacter baumanni
chiếm 41,9%, P. aeruginosa chiếm 29,1%, K.
pneumoniae chiếm 27,2%; E. coli chiếm 16,2%, S.
aureus chiếm 37,5% (Bảng 2).

Tính nhạy cảm kháng sinh của tác nhân
gây bệnh
A.baumanni đề kháng kháng sinh mạnh. Chỉ
còn 89,8% chủng nhạy Colistin và 70,4% chủng
nhạy Amikacin (Biểu đồ 2).

P. aeruginosa đề kháng kháng sinh mạnh. Chỉ
còn 87,4% chủng nhạy Colistin và 47,5% chủng
nhạy Ceftazidim (Biểu đồ 3).

244

Biểu đồ 4: Mức độ nhạy cảm kháng sinh của
K.pneumonie (37 chủng)

Hội Nghị Khoa Học Công Nghệ BV. Thống Nhất năm 2015


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 19 * Số 6 * 2015
K.pneumonie đề kháng hầu hết kháng sinh.
Imipenem và Meronem cũng bị đề kháng mạnh
(Biểu đồ 4).
E. coli còn tương đối nhạy với các
carbapenem, pipe-tazobactam. Cephalosporin
cũng bị đề kháng mạnh (Biểu đồ 5).
S. aureus đề kháng mạnh peniciclin,
oxacyclin… chỉ còn nhạy Vancomycin. Có 1
chủng đã kháng vancomycin (Biểu đồ 6).

Biểu đồ 5: Mức độ nhạy cảm kháng sinh của E.coli
(22 chủng)

Biểu đồ 6: Mức độ nhạy cảm kháng sinh của
S.aureus (51 chủng).

BÀN LUẬN

Trong 2 năm có 136 bệnh nhân trên 60 tuổi
bị nhiễm khuẩn bệnh viện. Chúng tôi gặp nhiễm
khuẩn hô hấp với tỉ lệ cao nhất 125 bệnh nhân
(91,9%). Nhiễm khuẩn hô hấp cũng là bệnh
thường gặp đặc trưng của người cao tuổi. Ở Hoa
kỳ từ năm 1990-2002 có 21 triệu người nhập trên
65 tuổi, thì có tới 48% trong số họ bị bệnh nhiễm

Nghiên cứu Y học

trùng. Trong số những người bị nhiễm trùng có
tới 42% bị nhiễm khuẩn hô hấp dưới(7). Nhiễm
khuẩn huyết chiếm 20,6% (28 bệnh nhân), trong
đó có 14/28 bệnh nhân viêm phổi kèm nhiễm
khuẩn huyết. trực khuẩn gram âm.chiếm 71,3%,
đa tác nhân gây bệnh chiếm 61,8%. Trong các
trực khuẩn gram âm, Acinetobacter là vi khuẩn
gây nhiễm khuẩn bệnh viện gia tăng rõ rệt. Năm
2011 là 21%, năm 2012 là 31% và năm 2013-2014
là 41,9%(2). Tỉ lệ vi khuẩn A. baumanni gia tăng là
cảnh báo nguy hiểm cho tình trạng nhiễm khuẩn
viện. Nhiễm nấm cũng gia tăng đáng lo ngại, từ
7,1% năm 2012 tăng lên 37,5% năm 2013-2014.
Tất cả đều là nấm Candida albicans. Nhiễm nấm
thường là hậu quả của sử dụng kháng sinh phổ
rộng dài ngày, và trên một cơ địa suy kiệt.
Vi khuẩn kháng kháng sinh gia tăng là do
đặc tính vốn có của vi khuẩn. Đồng thời do lạm
dụng kháng sinh, sử dụng không hợp lý gây ra
tăng đột biến cảm ứng của vi khuẩn và do kiểm

soát nhiễm khuẩn chưa tốt đã làm lan truyền
dòng vi khuẩn kháng thuốc. Tại Canada cho
thấy Acinetobacter kháng tất cả kháng sinh trừ
imipenem, theo Paul Tambyah tại Singapore cho
thấy Pseudomonas kháng toàn bộ kháng sinh trừ
Polymixin B và một số chủng đã kháng cả
Polymixin. Các báo cáo tại bệnh viện Bạch Mai,
bệnh viện Chợ Rẫy cho thấy trực khuẩn gram
âm kháng kháng sinh mạnh, đặc biệt là
cephalosporin thế hệ 3 và fluroquinolone(2,6,7).
Theo tác giả CX Minh, năm 2009 tại bệnh viện
Chợ Rẫy cho thấy có chủng Acinetobacter kháng
tất cả kháng sinh kể cả imipenem và 1,4% kháng
lại colistin(1). Chúng tôi thấy hầu hết các chủng A.
baumanni kháng toàn bộ kháng sinh, đã trở
thành vi khuẩn siêu kháng thuốc. Carbapenem
bị đề kháng mạnh, chỉ còn nhạy khoảng 10% A.
baumanni nhạy Imipenem và meronem. Thậm
chí đã có 10,2% chủng A. baumanni đề kháng
colistin.
P. aeruginosa (chiếm 29,7%) là vi khuẩn gram
âm thứ 2 sau A. baumanni (chiếm 41,9%) thường
gặp gây nhiễm khuẩn bệnh viện. Đa kháng
kháng sinh là đặc tính vốn có của vi khuẩn độc

Hội Nghị Khoa Học Công Nghệ BV. Thống Nhất năm 2015

245



Nghiên cứu Y học

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 19 * Số 6 * 2015

lực này. Sự gia tăng kháng tất cả các kháng sinh
chuyên biệt một cánh nhanh chóng. P. aeruginosa
kháng kháng sinh đã được cảnh báo toàn cầu+.
Theo Yue Wang ở Trung Quốc (2008) P.
aeruginosa kháng kháng sinh rất mạnh với
Impenem là 94,4%, Ticarcillin-A.clavulanic là
83,3%, Ceftazidim là 61,1%(9). Trong khi chưa có
một kháng sinh mới nào có hiệu quả với
P.aeruginosa, thì tất cả các kháng sinh có sẵn đã
dần trở nên mất hiệu lực để điều trị. Điều này
cảnh báo thất bại điều trị và gia tăng tỉ lệ tử vong
của nhiễm khuẩn do P. aeruginosa gây ra. Chúng
tôi thấy carbapenem hầu như không còn hiệu
lực với P. aeruginosa. Tuy nhiên tỉ lệ nhạy cảm
với Ceftazidim cao hơn carbapenem (47,5% so
với 18,4% và 9,5%). Điều này có thể do một thời
gian sử dụng carbapenem rộng rãi trong bệnh
viện và hạn chế sử dụng ceftazidim, nên đã khôi
phục lại một phần hiệu lực của ceftazidim.
Klebsiella pneumoniae là vi khuẩn gram âm
thường gặp thứ 3 (chiếm 27,2%), kháng kháng
sinh khá mạnh. Michael R, (2011) báo cáo tại Ấn
Độ và Canada xuất hiện các chủng Klebsiella
pneumoniae sinh men New Delhi Metallo-βLactamase (NDM1), kháng tất cả kháng sinh kể
cả carbapenem(5,3,9). Chúng tôi thấy imipenem và
meronem chỉ còn nhạy 63,3 và 68,8%, ceftazidim

và cefepim đã bị kháng rất mạnh, chỉ còn nhạy
29,4%. E.coli là vi khuẩn gram âm thứ 4 (chiếm
16,2%), cephalosporin thế hệ 3 bị kháng rất
mạnh. Theo tác giả V.T.K.Cương (2006) cho thấy
28/80 chủng E. coli sinh men ESBLs (ESBL Extended Spectrum βlactamases), chỉ còn nhạy
carbapenem(8). S. aureus chiếm 37.5% và kháng
kháng sinh mạnh, còn khá nhạy với vancomicin,
nhưng đã xuất hiện 1 chủng kháng vancomicin.
Điều này báo động không còn kháng sinh hiệu
lực cho các chủng đa kháng gây thất bại điều trị
và tăng nguy cơ tử vong.
Sử dụng kháng sinh rộng rãi trong cộng
đồng cũng như trong bệnh viện đã làm gia tăng
tính kháng kháng sinh của vi khuẩn gây bệnh.
Chống lại sự bùng phát sự kháng thuốc của vi

246

khuẩn là giám sát chặt chẽ tính kháng thuốc của
các loại vi khuẩn, sử dụng kháng sinh hợp lý, áp
dụng liệu pháp xuống thang, xoay vòng kháng
sinh... để nâng cao hiệu lực của kháng sinh. Tuy
nhiên nghiên cứu làm giảm tỉ lệ nhiễm khuẩn
bệnh viện vẫn là phương sách tối ưu nhất.

KẾT LUẬN
Nhiễm khuẩn đường hô hấp là thường gặp
nhất (91,9%), có 61,8% bệnh nhân bị nhiễm nhiều
tác nhân gây bệnh
Vi khuẩn gram âm gây bệnh chủ yếu

(71,3%), tỉ lệ nhiễm nấm (37,5%) và thường kèm
theo nhiễm vi khuẩn. Acinetobacter baumanni
chiếm 41,9% P. aeruginosa chiếm 29,1%, K.
pneumoniae chiếm 27,2%; E. coli chiếm 16,2%. S.
aureus chiếm 37,5%
A. baumanni đề kháng kháng sinh mạnh. Chỉ
còn 89,8% chủng nhạy Colistin và 70,4% chủng
nhạy Amikacin.
P. aeruginosa đề kháng kháng sinh mạnh. Chỉ
còn 87,4% chủng nhạy Colistin và 47,5% chủng
nhạy Ceftazidim.
K. pneumonie đề kháng hầu hết kháng sinh.
Imipenem và Meronem cũng bị đề kháng mạnh.
E. coli còn tương đối nhạy với các
carbapenem, pipe-tazobactam. Cephalosporin
cũng bị đề kháng mạnh.
S. aureus đề kháng mạnh peniciclin,
oxacyclin… chỉ còn nhạy Vancomycin. Có 1
chủng đã kháng vancomycin.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.

2.

3.

Cao Xuân Minh, (2009). Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và
xác định kiểu gien kháng thuốc của vi khuẩn Acinetobacter
Baumanni trong viêm phổi bệnh viện tại bệnh viện Chợ Rẫy

01-06/2008. Luận văn thạc sỹ Y học, Đại học Y Dược, TP.HCM; tr.
27-44
Lê Thị Kim Nhung, Nguyễn Thị Thắm (2013); Khảo sát tác
nhân gây nhiễm khuẩn bệnh viện tại bệnh viện Thống Nhất
từ 5/2011-5/2012, Y Học TP. Hồ Chí Minh, năm 2013, tập 17 số
3; tr. 327-330.
Mulvey MR, Grant JM, Plewes K, Roscoe D, and Boyd DA
(2011) New Delhi Metallo-β-Lactamase in Klebsiella
pneumoniae and Escherichia coli, Canada, Emerging
Infectious Diseases • www.cdc.gov/eid • Vol. 17, No. 1,
January 2011; p. 103-106.

Hội Nghị Khoa Học Công Nghệ BV. Thống Nhất năm 2015


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 19 * Số 6 * 2015
4.

5.

6.

7.

Osih RB, et al (2007). Impact of empiric antibiotic therapy on
outcome in the patient with Pseudomonas aeruginosa
bacteremia. Antimicrob Agent Chemoter; 51: p.839-844.
Peirano G, (2011) New Delhi Metallo-β-Lactamase from Traveler
Returning to Canada1, Emerging Infectious Diseases •
www.cdc.gov/eid • Vol. 17, No. 2, February 2011; p. 243-244

Trần Thị Thanh Nga và cộng sự, Tình hình nhiễm khuẩn tiết
niệu và đề kháng kháng sinh tại bệnh viện Chợ Rẫy năm 2010; Tạp
chí Y học thực hành số 781-2011, tr.62-65
Trần thị Thúy Phượng và cộng sự (2011). Giám sát tình trạng
nhiễm khuẩn bệnh viện do các vi khuẩn đa kháng tại bệnh
viện Trung ương Huế; Tạp chí Y học thực hành; số 781-2011,
tr.37-40

8.

9.

Nghiên cứu Y học

Vũ Thị Kim Cương (2006). Kháng sinh của các vi khuẩn sinh
men β Lactamase phổ rộng phân lập được tại bệnh viện
Thống Nhất từ 10/2005-10/2006. Kỷ yếu công trình nghiên cứu
khoa học bệnh viện Thống Nhất 2006; tr. 303-304
Wang, Y (2010). Causes of Infections after Earthquake, China,
2008. Emerging Infectious Diseases • www.cdc.gov/eid • Vol.
16, No. 6, June 2010; p. 974-975

Ngày nhận bài báo:

12/08/2015

Ngày phản biện nhận xét bài báo:

28/08/2015


Ngày bài báo được đăng:

20/10/2015

Hội Nghị Khoa Học Công Nghệ BV. Thống Nhất năm 2015

247



×