Tải bản đầy đủ (.doc) (30 trang)

TIỂU LUẬN NGUYÊN lí MAC lên NIIN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (187.12 KB, 30 trang )

BÀI TIỂU LUẬN

GVHD : HOÀNG THỊ KIM LIÊN

I. LỜI MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Ngày nay toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế đã và đang trở thành những xu thế chủ yếu của
quan hệ kinh tế quốc tế hiện đại. Toàn cầu hoá kinh tế tạo ra những quan hệ, gắn bó, sự tuỳ
thuộc lẫn nhau và những tác động qua lại hết sức nhanh nhạy giữa các nền kinh tế. Thông
qua quá trình tự do hoá, toàn cầu hoá tạo ra những lợi thế mới, thúc đẩy lực lượng sản xuất
phát triển, đẩy mạnh giao lưu kinh tế giữa các nước, góp phần khai thác tối đa lợi thế so
sánh của các nước tham gia vào nền kinh tế toàn cầu. Hoà nhập vào trong bối cảnh đó với
phương châm “đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ” và “là bạn của tất cả các nước trong
cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình độc lập và phát triển”. Việt Nam đã thiết lập được
quan hệ ngoại giao với nhiều nước trên thế giới, các tổ chức quốc tế và khu vực quan trọng.
Hơn lúc nào hết, quá trình toàn cầu hoá không chỉ là sự quan tâm của mỗi quốc gia, mỗi tổ
chức mà còn đối với mỗi cá nhân chúng ta.
Hiện nay, toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan và đã trở thành môi trường của
các cuộc cạnh tranh gay gắt giữa các nước trên phạm vi toàn thế giới. Tuy thế, giữa các nước
và các bộ phận xã hội ở mỗi nước vẫn đang tồn tại sự khác biệt đáng kể về nhận thức cũng
như trong hành động trước toàn cầu hóa. Những nước và các nhóm xã hội yếu thế thường bị
thua thiệt do tác động từ những mặt trái của toàn cầu hóa và luôn phản đối nó hoặc trong
tâm thế thích ứng bị động. Trong khi đó, những nước và những người có sức mạnh chi phối
toàn cầu hóa lại coi nó là cơ hội mang lại sự tiến bộ cho mình và ra sức tận dụng những mặt
tích cực của nó. Cho dù vậy, toàn cầu hóa vẫn đã và sẽ diễn ra, chi phối dưới hình thức này
hay khác, với các mức độ khác nhau đối với tất cả các lĩnh vực kinh tế và xã hội của hầu hết
các nước, nếu nhìn về dài hạn.
Qua việc tham khảo tài liệu cùng với những kiến thức đã được lĩnh hội trong nhà trường,
bản thân tôi chọn nghiên cứu về đề tài: “Toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập kinh tế của Việt
Nam trong thời đại ngày nay”. Do năng lực và thời lượng bài viết có hạn nên rất mong
nhận được sự góp ý của cô để bài viết hoàn thiện hơn.


2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
Giúp chúng ta hiểu thêm về vấn đề toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế của
Việt Nam trong thời đại ngày nay
Đi sâu phân tích về những hệ quả tích cực ,tiêu cực của vấn đề toàn cầu hoá-những thời cơ
và thách thức của Việt Nam với toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế-quốc tế trong thời đại ngày
nay.
SVTH : LÊ THỊ KIM LOAN

LỚP :ĐẠI HỌC TOÁN K09

1


BÀI TIỂU LUẬN

GVHD : HOÀNG THỊ KIM LIÊN

3. Phương pháp nghiên cứu:
Tập trung một số tư tưởng lớn của C. Mác – Lênin, là sinh viên đang ngồi trên ghế nhà
trường việc học tập chủ nghĩa Mác – Lênin là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa
Mác – Lênin để áp dụng một cách sáng tạo trong học tập cũng như thực tiễn.
Đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích và phương pháp diễn dịch.
4. Phạm vi nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề toàn cầu hoá kinh tế và hội
nhập kinh tế của Việt Nam trong thời đại từ năm 1995 đến nay. Qua bài viết, người học cần
nắm và vận dụng trong giai đoạn hiện nay những quan điểm đó được vận dụng và phát huy
mối quan hệ giữa kinh tế - xã hội Việt Nam với thế giới.
5. Kết cấu tiểu luận:
Ngoài phần mở đầu và kết luận thì kết cấu của tiểu luận gồm có hai chương, mỗi chương
2 tiết.


SVTH : LÊ THỊ KIM LOAN

LỚP :ĐẠI HỌC TOÁN K09

2


BÀI TIỂU LUẬN

SVTH : LÊ THỊ KIM LOAN

GVHD : HOÀNG THỊ KIM LIÊN

LỚP :ĐẠI HỌC TOÁN K09

3


BÀI TIỂU LUẬN

GVHD : HOÀNG THỊ KIM LIÊN

II. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NHẬN THỨC VỀ TOÀN CẦU HOÁ KINH TẾ-HỘI NHẬP KINH TẾTHỜI CƠ VÀ THÁCH THỨC.
1.1 Toàn cầu hoá kinh tế:
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, toàn cầu hoá nói chung bắt nguồn từ
những giao lưu văn hóa, buôn bán, di dân; từ sự mở rộng các tôn giáo ra ngoài biên giới các
quốc gia, và cho đến nay là sự phát triển của các công ty xuyên quốc gia, các ngân hàng, các
tổ chức quốc tế, sự trao đổi công nghệ, sự phát triển gắn với hiện đại hoá… Toàn cầu hoá

kinh tế là kết quả của sự quốc tế hoá sản xuất cao độ và phân công quốc tế, nó xuất hiện và
phát triển cùng với thị trường thế giới.
Trong xã hội phong kiến, lực lượng sản xuất phát triển thấp, giao thông kém phát
triển, quy mô sản xuất và trao đổi nhỏ bé, thị trường khép kín, không có thị trường mang ý
nghĩa hiện đại.
Khi nền sản xuất tư bản phát triển, thị trường thế giới mở rộng, C.Mác và
Ph.Ăngghen đã viết: “Thay cho những nhu cầu cũ được thoả mãn bằng những sản phẩm
trong nước, thì nảy sinh ra những nhu cầu mới, đòi hỏi được thoả mãn bằng những sản phẩm
đưa từ những miền và xứ xa xôi nhất về. Thay cho tình trạng cô lập trước kia của các địa
phương và dân tộc vẫn tự cung tự cấp, ta thấy phát triển những quan hệ phổ biến, sự phụ
thuộc phổ biến giữa các dân tộc”.
Luận điểm này của C.Mác và Ph.Ăngghen cho thấy, sự quốc tế hoá, toàn cầu hoá đời
sống kinh tế đã được bắt đầu từ khi chủ nghĩa tư bản mở rộng thị trường thế giới, khi phát
hiện ra châu Mỹ cách đây hơn 500 năm. Sự phát triển của quốc tế hoá đời sống kinh tế lúc
đầu còn theo ngành dọc, theo hệ thống thuộc địa của các nước đế quốc thực dân, trên cơ sở
sự phân công quốc tế và xuất khẩu tư bản xuất phát từ các chính quốc đến các nước thuộc
địa, thông qua bạo lực và bóc lột kinh tế. Khi chủ nghĩa đế quốc xuất hiện, trong điều kiện
cạnh tranh gay gắt giữa các thế lực đế quốc trong phân chia thuộc địa và thị trường thế giới,
sự quốc tế hoá đời sống kinh tế đã mở rộng cả theo chiều ngang. Rồi các cuộc chiến tranh
thế giới lần thứ nhất và lần thứ hai nổ ra, quan hệ chính trị và kinh tế thế giới đảo lộn, khủng
hoảng và biến động, quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế bị đẩy lùi.
Sự xuất hiện nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới vào năm 1917 và hệ
thống xã hội chủ nghĩa thế giới hình thành sau chiến tranh thế giới lần thứ hai tạo nên một
kiểu quan hệ mới giữa các quốc gia dân tộc. Kiểu quan hệ mới này bước đầu mở ra kiểu
quốc tế hoá đời sống kinh tế mới, dựa trên tính ưu việt của hệ thống chính trị xã hội chủ
SVTH : LÊ THỊ KIM LOAN

LỚP :ĐẠI HỌC TOÁN K09

4



BÀI TIỂU LUẬN

GVHD : HOÀNG THỊ KIM LIÊN

nghĩa, nhằm khắc phục sự bất bình đẳng trong quan hệ quốc tế của chủ nghĩa tư bản, đặt nền
móng cho sự quốc tế hoá chân chính. Song, do những thăng trầm của lịch sử, trong những
năm 90 của thế kỷ XX, Liên Xô sụp đổ, hệ thống xã hội chủ nghĩa tan rã, kiểu quan hệ kinh
tế quốc tế này đã kết thúc.
Tuy nhiên, lực lượng sản xuất vẫn ngày càng phát triển. Cuộc cách mạng khoa học
và công nghệ phát triển như vũ bão, nền kinh tế tri thức hình thành, đời sống kinh tế quốc tế
hoá, toàn cầu hoá; các trung tâm tư bản chủ nghĩa phát triển và trở thành lực lượng chi phối
thế giới. Có thể nói, từ sau chiến tranh lạnh, toàn cầu hoá kinh tế dường như chủ yếu gắn
liền với chủ nghĩa tư bản.
Mặc dù vậy, trên thực tế hiện nay vẫn tồn tại một số nước xã hội chủ nghĩa và những
nước này đang phát triển. Do vậy, nghiên cứu toàn cầu hoá kinh tế không thể bác bỏ một
thực tiễn lịch sử là toàn cầu hoá kinh tế đang diễn ra trong bối cảnh hình thành cục diện kinh
tế đa cực, hình thành một trật tự kinh tế, chính trị quốc tế mới, trong đó có hình thức phát
triển, hợp tác, cạnh tranh và cùng nhau phồn vinh của các quốc gia dân tộc. Và khái niệm
toàn cầu hoá hiện đại muốn bàn ở đây là nói đến xu thế khách quan đang diễn ra trong thời
đại hiện nay.
Tất nhiên, lịch sử có cái lôgic phát triển của nó. Theo quy luật, chủ nghĩa tư bản sẽ
được thay thế bởi hình thái kinh tế xã hội vượt nó. Song, sự thay thế đó như thế nào, khoa
học và thực tiễn sẽ chỉ ra. Thời điểm hiện nay đặt ra và cho phép chúng ta tính đến khía cạnh
toàn cầu hoá kinh tế hiện đại và tác động của nó đến các mặt chính trị, xã hội, văn hóa toàn
cầu, để từ vị trí một nước đang phát triển, tính đến sự chủ động hội nhập, thúc đẩy hợp tác,
phát triển và cạnh tranh, tạo nên sự phồn vinh của chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong thế cùng
tồn tại trong hoà bình, phồn vinh và phát triển của thế giới đương đại.
1.1.1 Những thuộc tính cơ bản của quá trình toàn cầu hoá kinh tế hiện đại:

Lịch sử của quá trình quốc tế hoá, toàn cầu hoá kinh tế rất lâu dài, và phải thấy rằng,
cơ cấu của toàn cầu hoá bắt đầu từ sự hình thành nhà nước, quốc gia dân tộc và tư nhân hoá
- những cỗ xe đi đến hiện đại. Kết quả tất yếu là sự mở rộng thị trường thế giới. Mở rộng thị
trường thế giới gắn với việc phát triển lực lượng sản xuất của chủ nghĩa tư bản và cả quan
hệ sản xuất của chủ nghĩa tư bản. Sự hiện đại hoá lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
của chủ nghĩa tư bản dẫn tới toàn cầu hoá. Nó đi trước và quyết định quá trình toàn cầu hoá.
Song, cho đến nay, toàn cầu hoá lại là một trong những điều kiện để hiện đại hoá thế giới,
bất chấp ý muốn của ai. Sự phát triển của phương Tây thúc đẩy hiện đại hoá, toàn cầu hoá.
Bởi vậy, việc hiện đại hoá của thế giới, trong đó có các nước đang phát triển ở phương Đông
SVTH : LÊ THỊ KIM LOAN

LỚP :ĐẠI HỌC TOÁN K09

5


BÀI TIỂU LUẬN

GVHD : HOÀNG THỊ KIM LIÊN

không thể bỏ qua một thực tế là phải hiện đại hoá theo những kinh nghiệm của phương Tây
trên nền văn hóa của phương Đông. Tiếp thu văn hóa, văn minh phương Tây, Việt Nam có
cách tiếp cận và phương pháp luận của chúng ta.
1.1.1.2. Những cốt lõi của quá trình toàn cầu hoá kinh tế hiện đại.
1.1.1.2.1. Tính thẩm thấu lẫn nhau của các nền kinh tế gia tăng:
Các nền kinh tế của các quốc gia gắn bó và tuỳ thuộc vào nhau, dần dần hình thành
một thể thống nhất, xoá dần đi những ngăn trở và khoảng cách về nhiều phương diện.
- Nền sản xuất thế giới mang tính toàn cầu. Phân công lao động quốc tế đã đạt tới
trình độ rất cao, không chỉ giới hạn ở chuyên môn hoá sản phẩm mà đã là chuyên môn hóa
các chi tiết sản phẩm. Với phương châm kinh doanh lấy thế giới làm nhà máy của mình, lấy

các nước làm phân xưởng của mình, các nước có thể lợi dụng ưu thế kỹ thuật, tiền vốn, sức
lao động và thị trường của nước khác, từ đó thúc đẩy quốc tế hoá sản xuất phát triển nhanh
chóng. Ví dụ, một loại xe của hãng Toyota sản xuất tại Mỹ có 25% linh kiện được sản xuất ở
ngoài nước Mỹ. Một loại xe ô tô của công ty Ford có 27% linh kiện do nước khác sản xuất.
- Các công ty xuyên quốc gia phát triển chưa từng có trong lịch sử và đóng vai trò hết
sức quan trọng, nó thúc đẩy xu thế toàn cầu hoá và khu vực hóa. Theo thống kê của Liên
hợp quốc, năm 1996, thế giới có 44.000 công ty xuyên quốc gia, trong đó 28.000 công ty
con có tổng giá trị sản xuất chiếm 40% GDP thế giới, chiếm 50% giá trị thương mại của thế
giới. Tổng kim ngạch tài sản năm 1996 của các công ty xuyên quốc gia này lên tới 3.200 tỷ
USD. Hàng năm đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của chúng chiếm 90% đầu tư trực tiếp của
thế giới.
Năm 1998, các vụ sáp nhập đã lên đến 2.500 tỷ USD.
Năm 1999, riêng 10 vụ sáp nhập các công ty lớn trên thế giới đã lên tới 1.500 tỷ
USD. Vụ sáp nhập 3 ngân hàng lớn ở Nhật Bản vào tháng 8/1999 với 1.200 tỷ USD, đã
bằng tổng giá trị 7.700 vụ sáp nhập năm 1998.
Năm 2000, các cuộc cạnh tranh và sáp nhập các tập đoàn lớn lại diễn ra gay gắt,
quyết liệt với quy mô lớn chưa từng thấy.
- Trong quá trình toàn cầu hoá và khu vực hoá, nổi lên xu hướng liên kết kinh tế, dẫn
đến sự ra đời các tổ chức kinh tế và thương mại, tài chính quốc tế và khu vực. Đó là Tổ chức
Thương mại thế giới (WTO), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Liên
minh Châu Âu (EU), Khu vực Thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Liên minh các nước
Đông Nam á (ASEAN), Thị trường tự do Nam Mỹ Mercosur, Khối cộng đồng kinh tế Tây
Phi, và hàng chục tổ chức kinh tế khác ở khắp các châu lục.
SVTH : LÊ THỊ KIM LOAN

LỚP :ĐẠI HỌC TOÁN K09

6



BÀI TIỂU LUẬN

GVHD : HOÀNG THỊ KIM LIÊN

Thông qua các tổ chức kinh tế, thương mại, tài chính quốc tế này, quy mô lưu thông
vốn quốc tế lớn chưa từng thấy, tốc độ tăng trưởng mậu dịch thế giới vượt xa tốc độ tăng
trưởng kinh tế; các lĩnh vực hợp tác trong toàn cầu hoá kinh tế không ngừng phát triển.
- Quá trình toàn cầu hoá kinh tế hiện đại tác động mạnh mẽ đến lĩnh vực chính trị,
dẫn đến sự hình thành các tổ chức chính trị quốc tế mà lớn nhất là Liên hợp quốc. Liên hợp
quốc cùng với các tổ chức của nó như Chương trình phát triển LHQ (UNDP), Quỹ LHQ về
các hoạt động dân số (UNFPA), Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của LHQ
(UNESCO), Quỹ Nhi đồng LHQ (UNICEF), Hội nghị liên hợp quốc tế về phát triển
(UNCTAD), Tổ chức lương thực và nông nghiệp của LHQ (FAO)… đang tác động mạnh
đến tất cả các khu vực, các nước trên phạm vi toàn cầu. Cùng với sự phát triển của các tổ
chức này, luật pháp quốc tế cũng hình thành. Thí dụ: Công ước quốc tế về luật biển (1982),
Công ước quốc tế về quyền trẻ em… Do vậy, có thể nói rằng, toàn cầu hoá kinh tế hiện đại
thúc đẩy sự thẩm thấu lẫn nhau chẳng những của các nền kinh tế mà còn lan toả ra tất cả các
lĩnh vực của đời sống xã hội và tất cả các quốc gia trên thế giới.
1.1.1.2.2 Nền kinh tế mới trong toàn cầu hoá là nền kinh tế công nghệ cao – nền kinh tế
tri thức:
Cuối thế kỷ XIX, đã có nhiều phát minh khoa học, một cuộc cách mạng thực sự đã
diễn ra trong vật lý học: phát hiện ra tia Rơn-ghen (1895), hiện tượng phóng xạ (1896), điện
tử (1897), radium (1898)..., rồi đến những phát minh mới trong thế giới vi mô (nguyên tử)
và vĩ mô (vũ trụ). Khoa học đã thu thập được một khối lượng khổng lồ những tri thức về thế
giới tự nhiên, tổng hợp lại ở các thuyết cơ bản như thuyết Lượng tử và thuyết Tương đối…,
tạo nền móng cho khoa học hiện nay. Theo tính toán của nhiều nhà khoa học, toàn bộ lượng
thông tin, tri thức trong thế kỷ XX tăng gấp 1.000 lần so với hồi đầu thế kỷ, và vượt trội so
với tổng tri thức mà loài người tích luỹ được trong suốt 19 thế kỷ đã qua.
Khoa học hiện đại ngày càng phát triển, tiến vào lĩnh vực vi mô và vĩ mô, đòi hỏi sự
phát triển trí tuệ ngày càng cao.

Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đầu thế kỷ XX là cái nguồn tất yếu của cuộc
Cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, mở đầu từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai.
Nền kinh tế toàn thế giới bắt đầu cơ cấu lại, trang bị lại và đòi hỏi phải cơ cấu lại,
trang bị lại. Bên cạnh những ngành kinh tế gắn với nền đại công nghiệp, như các ngành
luyện kim, điện lực, sản xuất ô tô, xi măng, sắt thép… còn có các ngành kinh tế mới phát
triển cực nhanh (điện tử – bán dẫn, máy tính, viễn thông…), trong đó các dịch vụ liên quan
SVTH : LÊ THỊ KIM LOAN

LỚP :ĐẠI HỌC TOÁN K09

7


BÀI TIỂU LUẬN

GVHD : HOÀNG THỊ KIM LIÊN

đến thông tin (ngân hàng, tư vấn, thiết kế, bảo hiểm…) phát triển mạnh, thậm chí ở một số
nước, lĩnh vực này chiếm tới trên 70% thu nhập của nền kinh tế quốc dân.
Các ngành công nghệ cao được hình thành và trở thành những mũi nhọn kinh tế của
các quốc gia. Trước hết, phải kể đến công nghệ thông tin vì công nghệ thông tin đang là cốt
lõi của cuộc Cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại. Nó phản ánh giai đoạn mới về chất
của sản xuất, trong đó hàm lượng trí tuệ là thành phần chủ yếu trong sản phẩm. Trong cuộc
Cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, máy móc có thể thay thế một phần trí tuệ con
người, làm cho tốc độ tư duy và năng lực tư duy phức tạp mở rộng. Công nghệ thông tin bao
gồm cả phần cứng, như chế tạo các mạch vi điện tử, máy vi tính, mạng máy tính… và các
phần mềm hệ thống, phần mềm ứng dụng. Ngoài ra, phải kể đến các loại thiết bị viễn thông,
điện tử công nghiệp, điện tử tiêu dùng, điện tử y tế, điện tử quốc phòng… Đó đều là những
bộ phận quan trọng của công nghệ thông tin. Nền kinh tế mới sẽ được trang bị lại chủ yếu
nhờ áp dụng công nghệ thông tin, tạo ra các bộ não – thần kinh để tích hợp ngày càng rộng

trong toàn bộ nền kinh tế. Vì vậy, công nghệ thông tin là yếu tố khoa học, là công nghệ cốt
lõi tạo ra điều kiện kỹ thuật của toàn cầu hoá nhờ hệ thống thông tin toàn cầu, bao gồm hệ
Internet.
Thứ hai, công nghệ sinh học là bước đột phá vào thế giới đầy bí hiểm của sự sống.
Khoa học hiện đại đã khám phá ra gen dưới dạng các phân tử hình xoắn kép (ADN),
hiểu rõ được mật mã của sự sống…, đã tạo ra một tiềm năng vô tận cho việc sản xuất các vật
phẩm phục vụ cho nhu cầu của con người như lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh và
các vật liệu công nghiệp để thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người. Sự phát triển
của công nghệ sinh học, việc tạo ra những sinh vật và nhân giống chúng một cách tối ưu đã
mở ra những triển vọng vô cùng to lớn trong việc tăng năng suất lao động, giải đáp những
vấn đề nhu cầu cuộc sống mà loài người trước đây chưa từng biết đến.
Thứ ba, nhiều công nghệ mới quan trọng khác như công nghệ vật liệu mới, công
nghệ năng lượng mới, công nghệ hàng không vũ trụ… ra đời, mở ra những tiềm năng mới,
triển vọng mới. Ngày nay, việc sử dụng nguồn điện nguyên tử, thuỷ điện và điện mặt trời
ngày càng nhiều trong đời sống xã hội. Các vật liệu mới như chất dẻo đặc biệt, vật liệu tổng
hợp, sợi quang học… thay thế ngày càng nhiều những nguyên liệu truyền thống.
Thứ tư, tự động hoá trong sản xuất. Tự động hoá trong sản xuất giải phóng con người
khỏi những công việc nặng nhọc, nguy hiểm, tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội, mở ra triển
vọng mới trong sự phát triển.
SVTH : LÊ THỊ KIM LOAN

LỚP :ĐẠI HỌC TOÁN K09

8


BÀI TIỂU LUẬN

GVHD : HOÀNG THỊ KIM LIÊN


Nhờ có công nghệ cao và sự chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế thế giới, sự tăng
trưởng kinh tế thế giới sẽ làm đảo lộn những dự đoán thông thường của con người.
1.1.1.2.3. Nền kinh tế toàn cầu hiện nay chủ yếu là nền kinh tế của tư bản toàn cầu, do
ba trung tâm kinh tế lớn trên thế giới và các công ty xuyên quốc gia chi phối:
Chúng ta không lấy làm lạ khi đọc luận điểm sau đây của nhà kinh tế hàng đầu của
Đức, ngài Hécbơ Giécsơ, viện trưởng lâu năm của Viện Kinh tế thế giới Côlônhơ, rằng toàn
cầu hoá chỉ là một khái niệm mới của một quá trình đang tiếp diễn từ lâu: sự mở rộng về
không gian của phương thức kinh tế tư bản cho đến tận cùng thế giới.
Điều này có thể được minh chứng qua các lý do sau đây:
Một là, đứng về mặt gia tăng các luồng giao lưu quốc tế về thương mại, đầu tư, vốn,
công nghệ, dịch vụ, nhân công, v.v., thì hiện nay các trung tâm tư bản lớn như Bắc Mỹ, EU
và Nhật Bản vẫn đóng vai trò chủ chốt.
Hai là, xét về mặt hình thành và phát triển các thị trường trên phạm vi toàn cầu và
các khu vực, đồng thời với việc hình thành và tăng cường các định chế (luật chơi) và cơ chế
tổ chức để điều chỉnh và quản lý các hoạt động giao dịch quốc tế hiện nay, thì vai trò của các
nước như Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản vẫn là chủ chốt. Sự quản lý các quá
trình này, chi phối quá trình này chủ yếu vẫn là các nước tư bản chủ nghĩa và các tổ chức,
các công ty xuyên quốc gia do các nước ấy khống chế, chi phối.
Graham Thompson, trong bài Xác định vị trí toàn cầu hoá, đã có lý khi phân biệt toàn
cầu hoá kinh tế hiện đại với quốc tế hoá ở chỗ coi nó là một nền kinh tế “ở bên trên”, độc
lập với các nền kinh tế và các tác nhân quốc gia; nó chi phối, áp đặt một hình thức và một
tính chất đặc biệt cho chúng. Và ở đây là hình ảnh của một thứ chủ nghĩa tư bản không bị
trói buộc, đang đi tìm kiếm lợi thế cạnh tranh trên khắp địa cầu. Trong vấn đề quản lý hệ
thống kinh tế toàn cầu, Graham Thompson cũng có lý khi chỉ ra thực chất của nó, rằng quản
lý quá trình toàn cầu hoá kinh tế chính là những hình thức tổ chức đa phương như GATT, và
bây giờ là WTO, WB, IMF…, trong đó Mỹ, EU, Nhật Bản đóng vai trò trung tâm, quan
trọng đến mức “một hình thức quản lý như thế sẽ cho thấy khả năng tương hợp cơ bản giữa
chủ nghĩa ba phương với chủ nghĩa đa phương.
1.2 Sự hội nhập của các nước đang phát triển – Thời cơ và thách thức:
1.2.1 Hệ quả tích cực và tiêu cực của toàn cầu hoá:

Như trên đã phân tích, toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan, có tác động
tương hỗ đến tất cả các mặt của đời sống xã hội, cả về chính trị, văn hóa và xã hội… Do đó,
có thể nêu lên những hệ quả tích cực và tiêu cực của toàn cầu hoá như sau:
SVTH : LÊ THỊ KIM LOAN

LỚP :ĐẠI HỌC TOÁN K09

9


BÀI TIỂU LUẬN

GVHD : HOÀNG THỊ KIM LIÊN

1.2.1.1. Hệ quả tích cực:
1.2.1.1.1. Toàn cầu hoá thúc đẩy sự phát triển và xã hội hoá các lực lượng sản xuất, đem lại
sự tăng trưởng kinh tế cao:
- Toàn cầu hoá làm tăng nhanh tổng sản phẩm của thế giới, với giá trị hiện nay ước
tính khoảng 30.000 tỷ USD, gấp 23 lần giá trị tổng sản phẩm thế giới vào cuối những năm
50 của thế kỷ XX (1.300 tỷ USD).
- Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế toàn cầu có những thay đổi cơ bản. Nếu năm 1960,
nông, lâm, thuỷ sản chiếm 10,4%; cây công nghiệp chiếm 28,1% và dịch vụ chiếm 50,4%
thì đến năm 1990, cơ cấu GDP của thế giới tương ứng đã là 4,4%; 21,4% và 62,4%.
- Sự liên kết thị trường thế giới thành một hệ thống ngày càng tăng, với tốc độ tăng
trưởng cao hơn nhiều lần tốc độ tăng trưởng sản xuất.
- Hệ thống thông tin toàn cầu phát triển nhanh chóng, kết nối các vùng địa lý trên trái
đất vào một hệ thống, góp phần tác động có hiệu quả vào các quá trình kinh tế – chính trị –
xã hội – quân sự – văn hóa toàn cầu…
1.2.1.2. Toàn cầu hoá thúc đẩy quá trình tự do hoá thương mại:
- Toàn cầu hoá thúc đẩy quá trình tự do hoá thương mại sẽ làm giảm hoặc huỷ bỏ

các hàng rào ngăn cách, làm cho hàng hoá của mỗi nước có thị trường tiêu thụ rộng hơn, do
đó kích thích sản xuất phát triển. Nhờ đó sẽ thúc đẩy phân công lao động quốc tế theo hướng
chuyên môn hoá, làm cho các nguồn lực ở mỗi nước được sử dụng hợp lý và có hiệu quả
hơn.
- Tự do hoá thương mại đặt ra cho các doanh nghiệp phải tiến hành những cải cách
sâu rộng để nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả kinh tế, phát huy lợi thế của mình và hạn
chế những rủi ro, thách thức trong cuộc cạnh tranh quốc tế khốc liệt.
- Tuy vậy, tự do hoá thương mại không đưa lại những kết quả như nhau đối với các
nước. Nhìn chung, các nước phát triển có lợi thế là nền kinh tế của họ đã phát triển cao, khả
năng cạnh tranh lớn, nắm giữ các công nghệ cao, tư bản, đội ngũ lao động có trình độ cao và
công nhân lành nghề đông. Do đó, hàng hoá của họ có chất lượng cao, hoạt động thương
mại nhạy bén, năng động hơn và có sức cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường lớn hơn. Các nước
đang phát triển ở vào vị trí khó khăn hơn, vì nền kinh tế kém phát triển, khả năng cạnh tranh
yếu, trình độ công nghệ thấp, thiếu vốn, đội ngũ lao động có trình độ và công nhân lành
nghề nhỏ bé. Song, các nước này nếu biết lợi dụng những ưu thế của mình, biết phát huy nội
lực, tranh thủ kỹ thuật cao, đi tắt đón đầu thì vẫn đạt được những tốc độ tăng trưởng kinh tế
cao. Các nước NICs và những con rồng châu á là những thí dụ. Có thời kỳ dài, các nước này
SVTH : LÊ THỊ KIM LOAN

LỚP :ĐẠI HỌC TOÁN K09

10


BÀI TIỂU LUẬN

GVHD : HOÀNG THỊ KIM LIÊN

đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế 6 – 7%/năm, chủ yếu do tận dụng được tự do hoá
thương mại và thực hiện chiến lược hướng vào xuất khẩu.

1.2.1.3. Toàn cầu hoá làm gia tăng các luồng chuyển giao vốn và công nghệ:
- Toàn cầu hoá làm gia tăng các hoạt động đầu tư quốc tế, chủ yếu là FDI, với những
đặc điểm chính là nguồn vốn đầu tư ngày càng tăng; chủ thể đầu tư và chủ thể thu hút đầu tư
ngày càng đa dạng; lượng lưu động vốn cho vay tăng rất nhanh; tự do hoá đầu tư trở thành
mục tiêu, chính sách đầu tư quốc tế của tất cả các nước.
- Toàn cầu hoá thực hiện chuyển giao trên quy mô ngày càng lớn những thành tựu
của khoa học công nghệ, tổ chức, quản lý, kinh nghiệm kinh doanh, sản xuất cho các nước
được đầu tư phát triển.
1.2.1.4. Toàn cầu hoá củng cố và tăng cường các thể chế quốc tế, thúc đẩy sự xích lại gần
nhau giữa các dân tộc:
- Cùng với sự phát triển của quá trình toàn cầu hoá, các thể chế quốc tế ngày càng
được tăng cường để đảm bảo điều tiết và quản lý các quan hệ quốc tế. Tính đến nay, đã có
khoảng 120 thể chế khu vực và toàn cầu. Hàng trăm tổ chức quốc tế các loại, bao gồm các tổ
chức liên chính phủ, phi chính phủ… đang hoạt động trong mọi lĩnh vực của đời sống xã
hội. Đó là những sản phẩm của toàn cầu hoá, đồng thời chúng có tác động làm cho quá trình
toàn cầu hoá được tăng cường.
- Chính nhờ toàn cầu hoá liên kết các nước lại với nhau, làm tăng sự phụ thuộc lẫn
nhau giữa các nước về nhiều mặt, nên lợi ích của mỗi quốc gia gắn với lợi ích của nhiều
quốc gia. Hơn nữa, các thể chế quốc tế cũng ràng buộc lợi ích và nghĩa vụ của các quốc gia.
Tất cả những điều nói trên giúp hạn chế những hành vi dễ gây xung đột giữa các nước, góp
phần duy trì hoà bình và an ninh quốc tế.
- Qua quá trình giao lưu quốc tế, sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc thuộc các
châu lục, giữa con người với con người càng được tăng cường; thông tin cập nhật khắp
vùng, góp phần tác động đến mọi sự kiện trên thế giới.
1.2.2 Hệ quả tiêu cực:
1.2.2.1. Toàn cầu hoá mở rộng thêm khoảng cách giàu – nghèo trong từng nước và giữa các
nước:
- Các mối lợi từ toàn cầu hoá kinh tế được phân phối không đồng đều và không công
bằng. Các quốc gia phát triển thường thu lợi nhiều hơn trong kinh tế, thương mại…
- Tất cả những thành tựu của toàn cầu hoá kinh tế trong mấy thập kỷ qua không

những không thu hẹp mà còn làm dãn ra khoảng cách về mức sống và trình độ phát triển
SVTH : LÊ THỊ KIM LOAN

LỚP :ĐẠI HỌC TOÁN K09

11


BÀI TIỂU LUẬN

GVHD : HOÀNG THỊ KIM LIÊN

kinh tế, khoa học công nghệ giữa các nước đang phát triển và các nước phát triển, làm trầm
trọng thêm sự bất công trong xã hội; đào sâu hố ngăn cách giàu – nghèo trong từng nước. Về
nhiều mặt, dân chúng ở 85 nước đang phát triển hiện có mức sống thấp hơn so với cách đây
10 năm. Hiện nay, trên toàn thế giới vẫn còn hơn 1 tỷ người nghèo. Chênh lệch giữa thu
nhập của 20% dân số thuộc tầng lớp người giàu nhất và của 20% dân số thuộc tầng lớp
nghèo nhất trên thế giới trong năm 1960 là 30 lần, đến năm 1990 lên tới 60 lần và năm 1997
là 74 lần. Các nước phát triển với 1/5 dân số thế giới chiếm tới 86% GDP toàn cầu, 4/5 thị
trường xuất khẩu, 1/3 vốn đầu tư nước ngoài; trong khi đó, các nước nghèo nhất với 1/5 dân
số thế giới chỉ tạo ra được 1% GDP thế giới.
1.2.2.2 Toàn cầu hoá tạo nên sự thách thức mới đối với nền độc lập, chủ quyền quốc gia,
làm xói mòn quyền lực của nhà nước dân tộc:
- Toàn cầu hoá làm thay đổi khái niệm độc lập và chủ quyền quốc gia, đặc biệt trong
lĩnh vực kinh tế. Toàn cầu hoá làm suy yếu chức năng kinh tế của nhà nước dân tộc.
- Chủ quyền quốc gia bị hạn chế một cách tương đối, tính độc lập của các quốc gia bị
giảm dần; nhiều quyền lực của nhà nước bị xói mòn, các chính phủ không còn quyền độc
lập tuyệt đối trong việc hoạch định chính sách, vì có nhiều vấn đề vượt khỏi tầm kiểm soát
của nhà nước (các luồng di chuyển vốn, các luồng thông tin, các tập đoàn xuyên quốc gia,
môi trường sinh thái…)

1.2.2.3 Toàn cầu hoá làm cho nhiều mặt hoạt động và đời sống của con người trở nên kém
an toàn, từ an toàn kinh tế, tài chính đến an toàn văn hóa, xã hội, môi trường:
- Cuộc khủng hoảng tài chính ở Đông á (1997 – 1998) đã ảnh hưởng nghiêm trọng,
kéo dài và toàn diện đến các nước này. Tính không an toàn trong đời sống kinh tế gia tăng:
sự đổ vỡ nhiều ngành sản xuất và phá sản hàng loạt xí nghiệp; lạm phát và thất nghiệp gia
tăng; nền sản xuất phải cơ cấu lại, những thể chế bảo hộ xã hội bị phá bỏ; tệ nạn xã hội gia
tăng. Đặc biệt là khi nền kinh tế lâm vào khủng hoảng, các tệ nạn ma tuý, mại dâm và HIV
lan tràn.
- Toàn cầu hoá làm gia tăng giao lưu quốc tế trong đời sống văn hóa tinh thần, nhiều
tinh hoa văn hóa của các dân tộc được truyền bá, sự thâm nhập lẫn nhau của các nền văn
minh thúc đẩy tiến bộ xã hội. Song, do lợi thế của các nước có nền kinh tế mạnh nên ảnh
hưởng của các nước này đối với các nước đang phát triển rất lớn. Vì vậy, nhiều giá trị riêng
của các dân tộc, đặc biệt là của các nước đang phát triển bị xói mòn; nhiều truyền thống dân
tộc bị huỷ hoại, các quan hệ gia đình bị phá vỡ… Khuynh hướng đồng nhất ở một góc độ
nào đó, cả về văn hóa, đã và đang diễn ra ngày một rõ hơn… Bởi vậy, vấn đề đặt ra là hội
SVTH : LÊ THỊ KIM LOAN

LỚP :ĐẠI HỌC TOÁN K09

12


BÀI TIỂU LUẬN

GVHD : HOÀNG THỊ KIM LIÊN

nhập nhưng không để bị hoà tan, không đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, nếu
đề cao văn hóa dân tộc một cách thái quá sẽ có nguy cơ đi đến bài ngoại, đóng cửa và sẽ bị
tụt hậu.
- Rõ ràng, toàn cầu hoá không chỉ có tác động thuận lợi mà còn có tác động tiêu cực

đối với các nước đang phát triển. Do đó, các nước đang phát triển phải có chiến lược hội
nhập phù hợp với thực tiễn nước mình, để tranh thủ được mặt thuận lợi, và khắc phục, hạn
chế được các mặt tiêu cực.
1.2.2.4. Các nước đang phát triển và những vấn đề đặt ra cho các nước đó trong quá trình
toàn cầu hoá và hội nhập:
Do không đồng nhất về trình độ phát triển, do những điều kiện đặc thù về chính trị,
kinh tế, xã hội, về mục tiêu định hướng và chiến lược phát triển, cho nên các nước đang phát
triển khác nhau cũng có những nhận thức và áp dụng các phương thức hội nhập khác nhau.
Tuy nhiên, qua thực tiễn cho đến nay, các nước đang phát triển cũng đang từng bước rút ra
được nhiều kết luận từ những bài học thành công và thất bại của mình.
Có thể nêu lên một số điểm sau đây:
1.2.2.4.1.Về nhận thức:
Một là, toàn cầu hoá và hội nhập là một xu thế khách quan, trọng tâm của nó là mở
cửa kinh tế, tạo điều kiện mở rộng không gian để phát triển và tìm kiếm vị trí thích hợp cho
mình trong khung cảnh chung của toàn cầu hoá, thực hiện việc kết hợp nội lực với sức mạnh
quốc tế.
Hai là, hội nhập thực chất là tham gia cạnh tranh trên trường quốc tế và trên thị
trường nội địa. Điều quan trọng nhất là phải chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nước và phải
cải cách bộ máy nhà nước, điều chỉnh cơ chế chính sách, luật lệ, tập quán kinh doanh cho
phù hợp với thể chế (luật chơi) của quốc tế, phải gắn chặt với chiến lược phát triển của đất
nước mình. Phải giải phóng khỏi tư tưởng cho rằng hội nhập là bị ép buộc, áp đặt. Cần phải
nhận thức cải cách, đổi mới, chủ động hội nhập chính là vì sự nghiệp phát triển của bản thân
nước mình. Từ bỏ hội nhập, hoặc thực hiện chiến lược hội nhập sai lầm sẽ làm cho đất nước
bị gạt ra ngoài lề của sự phát triển, hoặc tụt hậu ngày càng xa hơn, và ngày càng bần cùng.
Hậu quả đó không phải do các nước này tham gia hội nhập vào quá trình toàn cầu hoá, mà
điều căn bản là do các nước ấy không cải biến được, không chuyển đổi được cơ cấu kinh tế
tiền tư bản lạc hậu của mình và thiếu hẳn những cải cách trong bộ máy nhà nước, để đất
nước chìm đắm trong tệ nạn tham nhũng của bộ máy quyền lực đặc quyền đặc lợi. Kết quả
SVTH : LÊ THỊ KIM LOAN


LỚP :ĐẠI HỌC TOÁN K09

13


BÀI TIỂU LUẬN

GVHD : HOÀNG THỊ KIM LIÊN

là tài nguyên của đất nước và viện trợ của nước ngoài bị sử dụng lãng phí, đất nước rơi vào
nợ nần, dẫn tới khủng hoảng kinh tế – chính trị và bị nước ngoài chi phối.
1.2.2.4.2. Về thực tiễn:
1.2.2.4.2.1. Các nước đang phát triển bước vào quá trình hội nhập phải thực hiện chuyển đổi
cơ cấu kinh tế:
Sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế nhằm thích ứng và đứng vững được trong cạnh tranh
toàn cầu. Nếu không chuyển đổi được cơ cấu kinh tế có khả năng thích ứng trong cạnh
tranh, linh hoạt điều chỉnh cho phù hợp với những đổi mới trong công nghệ và những biến
động trên thị trường thế giới thì không khai thác được lợi thế so sánh và phải hứng chịu
những tác động tiêu cực của quá trình hội nhập. Trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhiều
nước đã biết lựa chọn những ngành có thế mạnh để mở cửa, tham gia cạnh tranh; biết dùng
những biện pháp bảo vệ hợp pháp và hạn chế tạm thời đối với những ngành chưa có khả
năng cạnh tranh; biết chuẩn bị cho tương lai bằng cách lựa chọn những ngành có lợi thế cần
tập trung phát triển. Sự tính toán thận trọng và nhìn xa trông rộng bảo đảm cho sự chủ động
hội nhập: mở cửa lĩnh vực nào, vào thời điểm nào, với mức độ và quy mô nào thì có lợi nhất
cho nền kinh tế của đất nước.
1.2.2.4.2.2. Phải thực hiện cải cách hành chính sâu rộng:
Trước hết, nhà nước phải cải cách hệ thống kinh tế vĩ mô và có những chính sách
thích hợp để tận dụng những ưu đãi mà thể chế hội nhập quy định. Sự cải cách này nhằm
bảo đảm sự hài hoà giữa quyền lợi và nghĩa vụ của nước mình trong thể chế hội nhập, giữa
mục tiêu kinh tế – xã hội của đất nước với những yêu cầu và đòi hỏi của bên ngoài; giữa các

vấn đề kinh tế và thương mại với các lĩnh vực khác; đồng thời, phải cải cách luật pháp, quy
chế, quy định cho phù hợp và bảo đảm để các chính sách đó được thực hiện.
Hai là, phải cải cách và hoàn thiện cơ chế quản lý điều hành quá trình hội nhập để
giữ ổn định chính trị trong sự phát triển, kịp thời điều chỉnh và giải quyết những vấn đề phát
sinh, những biến động bất thường gây mất ổn định kinh tế – xã hội.
1.2.2.4.2.3. Phải xây dựng, đào tạo được đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu của công cuộc hội
nhập:
Đây là đòi hỏi cấp bách, vì các lĩnh vực hội nhập rất phong phú, nảy sinh nhiều vấn
đề mới và phức tạp, từ kinh tế thương mại, dịch vụ, đầu tư đến khoa học công nghệ, môi
trường, sở hữu trí tuệ… Do đó, phải hiểu được những khác biệt về cơ chế chính sách, luật lệ
và thực tiễn kinh doanh giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển.
SVTH : LÊ THỊ KIM LOAN

LỚP :ĐẠI HỌC TOÁN K09

14


BÀI TIỂU LUẬN

GVHD : HOÀNG THỊ KIM LIÊN

Những điều đó đòi hỏi chúng ta phải nâng cao trình độ cán bộ, tranh thủ sự giúp đỡ
của các nước phát triển, của các tổ chức quốc tế để đào tạo, bồi dưỡng cho được một đội ngũ
cán bộ phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế tri thức, xây dựng nền kinh tế mới; một đội
ngũ cán bộ kinh doanh giỏi, quản lý giỏi, vừa có năng lực tổ chức thực tiễn, nhạy bén với cái
mới, đáp ứng sự phát triển của đất nước trước những biến động của thế giới.
1.3 Chính sách chủ động hội nhập của Việt Nam:
Sự nghiệp đổi mới đất nước trong hơn 16 năm qua đã tạo thế và lực mới cho nước ta
trong quá trình hội nhập, bảo đảm điều kiện để nước ta đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại

hoá đất nước. Song, trên thực tế phải thấy rằng nền kinh tế nước ta còn kém phát triển, sức
cạnh tranh còn rất thấp; lực lượng lao động tuy dồi dào, song trình độ kỹ thuật và kỹ năng
còn thấp; hệ thống pháp luật còn nhiều bất cập; hệ thống tài chính, ngân hàng còn yếu kém
nên khả năng đương đầu với xu hướng tự do hoá kinh tế, tài chính toàn cầu rất khó khăn;
chưa đuổi kịp sự phát triển nhanh chóng của hệ thống thông tin – viễn thông toàn cầu.
Quá trình toàn cầu hoá, phát triển sự hợp tác đa phương và song phương với các
nước tạo điều kiện thuận lợi cho nước ta mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hoá sang các
nước. Tất nhiên, vấn đề này còn gắn với cuộc cạnh tranh, vừa hợp tác vừa đấu tranh rất phức
tạp. Chúng ta cần tranh thủ các nguồn vốn đầu tư, nhập khẩu kỹ thuật cao, tranh thủ kinh
nghiệm quản lý của thế giới, mở rộng thị trường để nhanh chóng đi tắt, đón đầu, xây dựng
nền kinh tế mới phù hợp với sự phát triển chung và thực tiễn nền kinh tế Việt Nam.
Những khó khăn, thách thức rất to lớn đang đặt ra trước chúng ta. Bởi vậy, chúng ta
phải trên cơ sở kinh nghiệm của mình trong những năm đổi mới và kinh nghiệm của các
nước đang phát triển mà thúc đẩy sự hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực của nước ta. Chiến
lược hội nhập quốc tế của nước ta là chiến lược chủ động hội nhập, nhằm tranh thủ điều kiện
quốc tế thuận lợi, khai thác tốt nhất nội lực của ta để phát triển đất nước, xây dựng thành
công chủ nghĩa xã hội. Chiến lược chủ động hội nhập của nước ta xuất phát từ việc thừa
nhận lợi ích to lớn của hội nhập; đồng thời ý thức rằng sự hội nhập đó cũng đưa lại những
thách thức to lớn, những nguy cơ không thể xem thường.
Thời cơ và nguy cơ thường đan xen với nhau, do đó phải hết sức tỉnh táo để bảo đảm
hội nhập và giữ được bản sắc văn hóa dân tộc; hội nhập và giữ vững độc lập tự chủ; hội
nhập và bảo vệ được lợi ích dân tộc; hội nhập và góp phần vào cuộc đấu tranh vì hoà bình,
độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội của nhân loại. Chúng ta chủ động hội nhập quốc tế để phát
triển bền vững, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh.
SVTH : LÊ THỊ KIM LOAN

LỚP :ĐẠI HỌC TOÁN K09

15



BÀI TIỂU LUẬN

GVHD : HOÀNG THỊ KIM LIÊN

CHƯƠNG 2: VIỆT NAM VỚI VẤN ĐỀ TOÀN CẦU HOÁ VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, việc giành được nhiều lợi ích và giảm thiểu tối
đa những tác hại rủi ro được quyết định bởi chỗ mỗi nước phải có một chiến lược xây dựng
nền kinh tế độc lập, tự chủ và cơ cấu lại nền kinh để tranh thủ được các nguồn lực quốc tế,
phát huy có hiệu quả mọi nguồn nội lực và kiểm soát được nền kinh tế - xã hội của mình.
Với nhận định như vậy, Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế phù
hợp trong tình hình mới.
2.1. Chủ trương của Đảng về tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam:
Quá trình nước ta hội nhập đầy đủ các thể chế kinh tế Thế Giới đã diễn ra từ nhiều
năm nay. Năm 1995 Việt Nam gia nhập ASEAN,năm 1998 chúng ta gia nhập APEC,1996
gia nhập ASEM,như vậy là quá trình hội nhập kinh tế thế giới của Việt Nam đã diễn ra từ
lâu và ngày càng sâu rộng. Nghị quyết Đại hội X chủ trương “hội nhập sâu hơn và đầy đủ
hơn với các thể chế kinh tế toàn cầu”,mà gia nhập WTO-tổ chức kinh tế toàn cầu,lớn nhất
trên thế giới-là hội nhập đầy đủ nhất vào kinh tế thế giới. Các văn kiện của Đảng và Nhà
nước ta đều đã nói rõ,Việt Nam tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.Có hai lí do
để giải thích cho vấn đề này :lí do thứ nhất là vì nhận thức tự giác của chúng ta về xu thế của
thế giới;lí do thứ hai là nhu cầu thực tại của nền kinh tế nước ta đòi hỏi .Dưới đây xin làm rõ
các lí do đó :
Từ năm 1986,Đại hội Đảng lần thứ VI họp và chúng ta bắt đầu đổi mới ,việc đổi mới
tư duy của Đảng có những bước tiến quan trọng,đặc biệt là tư duy kinh tế.Trước đó chúng ta
cho rằng thế giới có hai thị trường ,hai nền kinh tế vận hành theo các quy luật hoàn toàn
khác nhau .Kinh tế XHCN vận hành theo quy luật của CNXH –quy luật không ngừng nâng
cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ,quy luật phát triển hài hoà theo kế hoạch
,quy luật phân phối theo lao động ...;còn kinh tế tư bản hoạt động theo quy luật cạnh tranh

,giá trị cung cầu ... Đại hội VI nhận định có một nền kinh tế trên thế giới ;như vậy là Đảng ta
bắt đầu nhận thức lại (lúc này hệ thống XHCN chưa sụp đổ ). Đến Đại hội VII,nhận thức
của Đảng ta bắt tiến thêm một bước nữa và được thể hiện trong cương lĩnh của Đảng ;nền
sản xuất vật chất và đời sống xã hội loài người đang trong quá trình quốc tế hoá sâu sắc ,ảnh
hưởng lớn tới nhịp độ phát triển lịch sử và cuộc sống của các dân tộc. Đại hội VIII tiến
thêm bước nữa :toàn cầu hoá,quốc tế hoá nền kinh tế và đời sống xã hội là xu thế khách
quan. Lần đầu tiên chúng ta nói đến toàn cầu hoá và đánh giá đó là xu thế khách quan .Đại
hội IX và Đại hội X tiếp tục khẳng định lại xu thế khách quan. Đại hội X tiếp tục khẳng định
SVTH : LÊ THỊ KIM LOAN

LỚP :ĐẠI HỌC TOÁN K09

16


BÀI TIỂU LUẬN

GVHD : HOÀNG THỊ KIM LIÊN

lại xu hướng đó . Như vậy ,nhận thức của chúng ta về kinh tế thế giới ngày càng đầy đủ và
rõ thêm qua các kì đại hội của Đảng ,từ Đại hội thứ VI đến Đại hội X.
2.2 Những quan điểm và nguyên tắc chính trị của Đảng ta về hội nhập kinh tế quốc tế:
Quan điểm chỉ đạo xuyên suốt của Đảng ta về hội nhập kinh tế quốc tế là giữ vững
độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, hội nhập vì lợi ích đất nước, giữ vững định hướng xã
hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh. Hội nhập kinh tế quốc tế là công việc của toàn dân, toàn xã hội, của cả hệ thống chính
trị dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trên cơ sở thực hiện các cam kết gia nhập Tổ chức Thương
mại thế giới, phải xây dựng các cơ chế, chính sách phù hợp với chủ trương, định hướng phát
triển; thúc đẩy các quan hệ hợp tác khu vực và thế giới, song phương và đa phương. Gắn tốc
độ phát triển với chất lượng và hiệu quả; tăng trưởng kinh tế phải đi liền với tiến bộ và công

bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa
dân tộc, giữ vững ổn định chính trị, kinh tế - xã hội. Khai thác có hiệu quả mọi nguồn lực để
phát triển đất nước. Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đồng thời nâng cao vai
trò chủ động của Nhà nước, của Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội, phát huy quyền
làm chủ của nhân dân, của sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Hội nhập kinh tế quốc tế là chủ trương nhất quán của Đảng ta phù hợp với xu thế
khách quan và tiến trình phát triển đất nước. Phải làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta
nhận thức đúng đắn về vấn đề này. Phải khơi dậy và phát huy cao độ tinh thần cách mạng, ý
chí tự lực tự cường của mọi tầng lớp nhân dân để chủ động và tích cực tận dụng cơ hội,
đương đầu với cạnh tranh, vượt qua thách thức. Kịp thời bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp
luật và thể chế kinh tế; hình thành nhanh và đồng bộ các yếu tố của nền kinh tế thị trường;
phát huy tối đa và sử dụng hiệu quả các nguồn lực; đẩy mạnh cải cách hành chính. Nâng cao
năng lực cạnh tranh quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm. Bổ sung nguồn lực và tăng cường
chỉ đạo công cuộc phát triển nông nghiệp, nông thôn; giải quyết tốt các vấn đề xã hội. Trong
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, biển nước ta có vị trí, vai trò rất quan trọng. Đảng và
Nhà nước ta đã có nhiều nghị quyết, chỉ thỉ về phát triển kinh tế biển và hải đảo.. Xây dựng
Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 và có tầm nhìn xa hơn là một đòi hỏi tất yếu nhằm
phấn đấu đưa nước ta thành một quốc gia mạnh về biển, góp phần làm giàu từ biển, bảo đảm
vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, góp phần quan trọng giữ vững ổn
định và phát triển đất nước. Chiến lược biển đến năm 2020 phải xác định rõ quan điểm, mục
tiêu và định hướng các lĩnh vực ưu tiên, đột phá; định hướng phát triển kinh tế - xã hội vùng
biển và ven biển; định hướng chiến lược quốc phòng, an ninh, đối ngoại; định hướng điều
SVTH : LÊ THỊ KIM LOAN

LỚP :ĐẠI HỌC TOÁN K09

17


BÀI TIỂU LUẬN


GVHD : HOÀNG THỊ KIM LIÊN

tra cơ bản về tài nguyên, môi trường biển; định hướng phát triển khoa học công nghệ biển;
định hướng về bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai, về xây dựng kết cấu hạ tầng vùng
biển và ven biển; và định hướng chiến lược các vùng biển phía Bắc, Bắc Trung Bộ, duyên
hải Trung bộ, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ.
2.3. Việt Nam với toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế - những cơ hội và thách
thức:
Ngày nay, toàn cầu hóa đang là một trong những xu thế phát triển tất yếu của quan hệ
quốc tế hiện đại. Đại diện cho xu thế toàn cầu hóa này là sự ra đời và phát triển của Tổ chức
Thương mại thế giới (WTO).
Việt Nam là quan sát viên của GATT (Hiệp định chung về thuế quan và thương mại)
và chính thức nộp đơn gia nhập WTO ngày 4/1/1995. Ngày 22/8/1996, Việt Nam đã gửi Bị
vong lục về chế độ ngoại thương của Việt Nam tới WTO. Tháng 7/1998, Việt Nam tiến hành
phiên họp đa phương đầu tiên tới Nhóm công tác về minh bạch hóa các chính sách kinh tế
thương mại. Cho tới nay, Việt Nam đã thực sự hoàn tất về cơ bản giai đoạn minh bạch hóa
chính sách và đang ở giai đoạn đàm phán rất quan trọng về mở cửa thị trường một cách toàn
diện. Gia nhập WTO đã đem lại nhiều cơ hội thuận lợi cho Việt Nam, điều này được thể
hiện ở các điểm sau đây:
Thứ nhất, Việt Nam trở thành thành viên của WTO sẽ khắc phục được tình trạng bị
phân biệt đối xử trong buôn bán quốc tế. Ví dụ như sự đối xử tối huệ quốc (MFN) không
điều kiện, thuế quan thấp cho hàng xuất khẩu của Việt Nam, thúc đẩy việc thâm nhập thị
trường cho hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam, cải thiện cơ chế giải quyết tranh chấp thương
mại với các nước, sự đối xử theo hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập và củng cố cải cách
kinh tế Việt Nam. Đặc biệt, các Hiệp định của Vòng đàm phán Uruguay đã đem lại cho Việt
Nam các lợi ích như: Đẩy mạnh thương mại và quan hệ của Việt Nam với các thành viên
khác trong WTO và đảm bảo nâng cao vai trò quan trọng của Việt Nam trong các hoạt động
kinh tế và chính trị toàn cầu như là một thành viên của WTO.
Thứ hai, gia nhập WTO sẽ tạo điều kiện mở rộng thị phần quốc tế cho các sản phẩm

Việt Nam và thúc đẩy thương mại phát triển. Việt Nam sẽ có cơ hội xuất khẩu những mặt
hàng tiềm năng ra thế giới nhờ được hưởng những thành quả của các vòng đàm phán giảm
thuế và hàng rào phi thuế, tăng cường tiếp cận thị trường của WTO, đặc biệt trong các lĩnh
vực hàng dệt may và nông sản. Cơ hội xuất khẩu bình đẳng sẽ có những ảnh hưởng tích cực
đến hoạt động của các doanh nghiệp trong nước, sản xuất sẽ được mở rộng và tạo nhiều
công ăn việc làm cho người lao động. Việc bãi bỏ Hiệp định đa biên (MFA) về hàng dệt sẽ
SVTH : LÊ THỊ KIM LOAN

LỚP :ĐẠI HỌC TOÁN K09

18


BÀI TIỂU LUẬN

GVHD : HOÀNG THỊ KIM LIÊN

tạo điều kiện cho xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam. Các nhà xuất khẩu Dệt -May Việt
Nam sẽ được đảm bảo trong vòng 10 năm sau khi trở thành thành viên của WTO, đồng thời,
các nước nhập khẩu sẽ không có các hạn chế MFA đối với hàng dệt may của Việt Nam. Đối
với các mặt hàng nông sản, là nước xuất khẩu gạo đứng thứ 3 trên thế giới, Việt Nam sẽ có
nhiều thị trường xuất khẩu mặt hàng này hơn vì hạn ngạch nhập khẩu gạo và các nông sản
khác sẽ được thay thế bằng thuế và thuế sẽ phải được cắt giảm theo Lộ trình quy định của
WTO. Việt Nam có lợi nhiều khi các thị trường gạo mở cửa, đặc biệt là các thị trường Nhật
Bản và Hàn Quốc. So với các nước đang phát triển khác, Việt Nam sẽ có lợi hơn từ các Hiệp
định của Vòng Uruguay vì theo quy định của WTO, hàng xuất khẩu dưới dạng sơ chế của
các nước đang phát triển sang các nước phát triển thường không phải chịu thuế hoặc thuế
thấp. Việt Nam là nước xuất khẩu nhiều hàng sơ chế, sẽ rất có lợi từ quy định này. Bên cạnh
việc mở rộng xuất khẩu hàng hóa trong nước, Việt Nam còn tận dụng được cơ hội từ nhập
khẩu như lựa chọn nhập các loại hàng hóa có kỹ thuật cao, công nghệ tiên tiến để nhanh

chóng phát triển các ngành có công nghệ cao, ngành mũi nhọn, nhanh chóng đuổi kịp các
nước phát triển trên thế giới.
Thứ ba, Việt Nam sẽ có lợi từ việc cải thiện hệ thống giải quyết tranh chấp khi có
quan hệ với các cường quốc thương mại chính. Việc tham gia WTO sẽ cho phép Việt Nam
cải thiện vị trí của mình trong các cuộc đàm phán thương mại, có điều kiện tiếp cận các quy
tắc công bằng và hiệu quả để giải quyết các tranh chấp thương mại. Những nguyên tắc của
WTO đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam cũng sẽ có lợi vì sẽ nhận được
một số ưu đãi đặc biệt như được miễn trừ sự ngăn cấm trợ cấp xuất khẩu. Tuy nhiên, nếu
hàng hóa thuộc loại cạnh tranh, sự miễn trừ này sẽ bị loại bỏ trong thời gian 8 năm.
Thứ tư, Việt Nam sẽ có lợi gián tiếp từ yêu cầu của WTO về việc cải cách hệ thống
ngoại thương, bảo đảm tính thống nhất của các chính sách thương mại và các bộ luật của
Việt Nam cho phù hợp với hệ thống thương mại quốc tế. Các quy định của WTO sẽ loại bỏ
dần những bất hợp lý thương mại, thúc đẩy cải thiện hệ thống kinh tế và đẩy nhanh quá trình
chuyển đổi từ hệ thống kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường.
Thứ năm, Việt Nam sẽ có điều kiện thu hút vốn, kinh nghiệm quản lý và công nghệ
mới… của nước ngoài. Trong những năm qua, khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
thực sự đã trở thành một trong những động lực tăng trưởng sản xuất công nghiệp Việt Nam.
Đầu tư nước ngoài đã tác động mạnh mẽ tới tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam.
Nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, chiếm
gần 30% vốn đầu tư xã hội, 35% giá trị sản xuất công nghiệp, 20% xuất khẩu và giải quyết
SVTH : LÊ THỊ KIM LOAN

LỚP :ĐẠI HỌC TOÁN K09

19


BÀI TIỂU LUẬN

GVHD : HOÀNG THỊ KIM LIÊN


việc làm cho hàng vạn lao động. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã
góp phần chủ yếu vào việc chuyển giao công nghệ, đầu tư nghiên cứu và phát triển ở Việt
Nam trong những năm qua. Sự xuất hiện của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng
có tác động tích cực như: tăng mức độ cạnh tranh trên thị trường, giúp các doanh nghiệp và
các nhà quản lý doanh nghiệp trong nước học hỏi thêm về cách thức quản lý sản xuất, tiếp
thị, tiếp thu công nghệ, kiểu dáng sản phẩm, phục vụ khách hàng…
Sáu là, nâng cao khả năng cạnh tranh và tính hiệu quả trong nền kinh tế, đồng thời
tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng cho các doanh nghiệp Việt Nam. Tự do hóa thương
mại của WTO sẽ tạo điều kiện cho hàng hóa của các nước thành viên dễ dàng thâm nhập vào
thị trường Việt Nam. Điều này gây sức ép buộc các doanh nghiệp Việt Nam phải chấp nhận
mức độ cạnh tranh khốc liệt, làm cho họ trở nên năng động hơn trong việc tạo sản phẩm
mới, cải tiến các dịch vụ, hạ giá thành sản phẩm…
Bên cạnh những cơ hội đó, Việt Nam đồng thời cũng phải đương đầu với các thách
thức sau khi gia nhập WTO. Bởi lẽ, so với thế giới, Việt Nam còn là một trong những nước
nghèo với mức GDP đạt 372 USD/người/năm, hệ thống chính sách kinh tế-xã hội đang trong
quá trình hoàn thiện, chưa đồng bộ, trình độ kỹ thuật, trình độ quản lý… có sự chênh lệch
lớn so với các nước phát triển.
Bên cạnh đó, Việt Nam còn phải thực thi đầy đủ các cam kết của mình, đặc biệt là
các cam kết trong một số lĩnh vực như dịch vụ, sở hữu trí tuệ, các biện pháp đảm bảo thương
mại công bằng, an toàn vệ sinh thực phẩm, vệ sinh dịch tễ, kiểm dịch động thực vật và hàng
rào kỹ thuật thương mại…, nên việc thực thi sẽ rất khó khăn. Điều này không chỉ yêu cầu
Việt Nam phải thông qua các luật lệ, quy định phù hợp với WTO và nền kinh tế thị trường,
mà còn đòi hỏi tình hình thực tiễn phải đáp ứng được các yêu cầu của WTO. Cụ thể, Việt
Nam phải nâng cao đáng kể năng lực cho các cơ quan có liên quan cũng như thay đổi cơ bản
về quản lý và tổ chức, đầu tư đáng kể cho nguồn nhân lực, hợp lý hóa công tác tổ chức
thương mại và phân bổ ngân sách. Nếu không, sẽ phát sinh hai vấn đề: Thứ nhất, Việt Nam
không thể thực hiện các nghĩa vụ WTO của mình và thứ hai là Việt Nam không thể tận dụng
được hết các cơ hội khi gia nhập WTO, từ đó sẽ dẫn đến những hậu quả hết sức nghiêm
trọng, có thể gây tổn hại cho nền kinh tế.

Để sớm đạt mục tiêu gia nhập WTO nhằm mở rộng thị trường cho hàng hóa, doanh
nghiệp Việt Nam được đối xử bình đẳng, thu hút vốn và công nghệ, đòi hỏi có sự phối hợp
chặt chẽ đồng bộ của tất cả các bộ, các ngành từ khâu chuẩn bị đàm phán và đổi mới cơ chế
chính sách cho phù hợp với các cam kết quốc tế, đến sự chuẩn bị cho nền kinh tế sẵn sàng
SVTH : LÊ THỊ KIM LOAN

LỚP :ĐẠI HỌC TOÁN K09

20


BÀI TIỂU LUẬN

GVHD : HOÀNG THỊ KIM LIÊN

đương đầu với các thách thức, sự vươn lên vượt bậc của các doanh nghiệp với sự hỗ trợ của
Nhà nước và sự tranh thủ thái độ thiện chí của các nước thành viên WTO để đưa ra những
yêu cầu hợp lý phù hợp với điều kiện Việt Nam.
2.4. Phát triển kinh tế và kết quả đã đạt được của Việt Nam trong quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế:
Hội nhập kinh tế quốc tế là thách thức với mọi nền kinh tế, kể cả các nền kinh tế có
trình độ phát triển cao hơn Việt Nam. Thách thức này càng khắc nghiệt hơn khi chúng ta là
một nước đang phát triển đồng thời là nền kinh tế chuyển đổi. Hội nhập kinh tế quốc tế mở
ra thị trường rộng lớn để xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ; tạo điều kiện cho ta tiếp nhận vốn,
công nghệ sản xuất và công nghệ quản lý; các khoản vay ưu đãi từ các nước… Đây là những
nguồn lực to lớn góp phần đưa nền kinh tế nước ta có những bước phát triển mạnh mẽ trong
những năm vừa qua.
Nếu lấy việc gia nhập AFTA là mốc đầu tiên đánh dấu sự hội nhập khu vực về kinh tế
của Việt Nam thì mới khoảng 13 năm. Nếu lấy việc gia nhập WTO là mốc hội nhập hoàn
toàn và đầy đủ vào nền kinh tế thế giới thì mới chỉ trên 3 năm. Là bước đi ban đầu trong một

lộ trình dài, nên còn quá sớm để nói đến cái được và chưa được của sự hội nhập, nhưng lại
rất quan trọng khi nhìn thẳng vào những kết quả đó, để có những điều chỉnh hợp lý trong
tương lai. Không thể phủ nhận những kết quả vật chất đạt được, như kim ngạch xuất khẩu
tăng với tốc độ trên dưới 20%/năm, đầu tư trực tiếp, gián tiếp, viện trợ phát triển, kiều hối
đều có sự đột biến tích cực. Nhưng việc hoàn thiện hệ thống pháp luật và tuyên truyền sâu
rộng, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội được cho là kết quả to lớn nhất về mặt nhận thức.
Đặc biệt hơn, vị thế Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao rõ rệt từ sau khi Việt Nam
gia nhập WTO. Ngược lại, chính mặt trái của những kết quả trên lại gây nên hạn chế. Việc
nhận thức hội nhập được phổ biến rộng nhưng chưa thật sâu đã gây nên sự lúng túng trong
hành động của cả các cấp quản lý đến doanh nghiệp. Trong xã hội, do sự thiếu hiểu biết nên
nhiều khi quá hồ hởi hoặc kỳ vọng quá nhiều vào hội nhập, nên khi gặp khó khăn lại "đổ
lỗi" cho hội nhập. Hệ thống pháp luật, tuy ngày càng được hoàn thiện song vẫn còn sự
chống chéo, mâu thuẫn, tự gây nên các khó khăn. Vốn, công nghệ... từ bên ngoài chảy vào
lớn, trong khi sự sẵn sàng đón nhận của Việt Nam chưa thực sự tương xứng, đã trở thành
những quan ngại lớn, gây bất ổn về mặt vĩ mô. Kinh nghiệm điều hành nền kinh tế thị
trường của Việt Nam vốn hạn chế, nay lại phải đối mặt với yêu cầu điều hành nền kinh tế
hội nhập toàn cầu nên càng khó khăn hơn. Những điểm yếu cả chủ quan và khách quan trên,
càng khẳng định một quan điểm chỉ đạo từng được nhấn mạnh là: nhân tố bên ngoài là quan
SVTH : LÊ THỊ KIM LOAN

LỚP :ĐẠI HỌC TOÁN K09

21


BÀI TIỂU LUẬN

GVHD : HOÀNG THỊ KIM LIÊN

trọng nhưng nội lực mới là quyết định. Nội lực ở đây bao gồm cả "phần cứng" là cơ sở hạ

tầng, sản xuất vật chất, từ cơ cấu đến năng lực và "phần mềm" là những kiến thức dự báo,
điều hành và khả năng ứng phó. Tuy vòng đàm phán Doha đang trục trặc và tác động của
cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, chủ nghĩa bảo hộ gia tăng, nhưng
nhìn toàn cục và lâu dài, các nước đều cần thị trường, vốn, công nghệ, tính tùy thuộc lẫn
nhau quá sâu nên xu thế toàn cầu hóa vẫn sẽ tiếp tục.
Trong khi cuộc đàm phán trong khuôn khổ WTO chững lại, thế giới đang chứng kiến
sự nở rộ của những sự thu xếp về các khu vực mậu dịch tự do đơn lẻ, từng khu vực và giữa
các quốc gia. Hiện tượng này vừa xuất phát từ nhu cầu kinh tế, vừa bắt nguồn từ những tính
toán chính trị trong sự tập hợp lực lượng mới. Bằng chứng là sau khi Diễn đàn Đông Á và
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc ra đời, Mỹ cùng Australia đã tung ra ý tưởng
về Cộng đồng châu Á - Thái Bình Dương và Đối tác Thái Bình Dương (TPP). Ở Đông Á,
một mặt tiến trình hình thành Cộng đồng ASEAN đang diễn biến, mở ra triển vọng xuất hiện
một không gian kinh tế nhất thể hóa, mặt khác các nước ASEAN đều tìm kiếm những dàn
xếp riêng lẻ có lợi cho mình.
Trong mươi năm tới, về cơ bản, Việt Nam sẽ trở thành một nước công nghiệp. Vì
mục tiêu này Việt Nam tiếp tục cần mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, từ
đó sẽ hội nhập ngày càng sâu hơn với nền kinh tế thế giới, từ Hợp tác tiểu vùng 3 nước
Đông Dương, Khu vực Đông Nam Á... đến Khu vực châu Á - Thái Bình Dương... Triển
vọng ấy vừa giúp Việt Nam có thêm thị trường, vốn đầu tư, công nghệ, thực hiện chính sách
đa dạng hóa, đa phương hóa, bảo đảm thế cơ động trong sự tùy thuộc lẫn nhau, đồng thời sẽ
phải đối mặt với những cạnh tranh gay gắt hơn trong các không gian kinh tế được tự do hóa
cao, sự trùng chéo, thậm chí mâu thuẫn giữa các thể chế khác nhau, cũng như sự lôi kéo,
tranh chấp giữa các đối tác khác nhau.
Việt Nam cũng đang chuẩn bị cho Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011 - 2020.
Tầm quan trọng của Hội nhập ảnh hưởng đến mô hình tăng trưởng, đặc biệt là các mối quan
hệ giữa thị trường trong và ngoài nước, xuất và nhập khẩu... vì thế cần hình thành Chiến
lược hội nhập trong Chiến lược phát triển chung cho giai đoạn này.
Nước ta triển khai hội nhập kinh tế quốc tế chưa lâu, kinh nghiệm còn hạn chế nhưng
cũng đã mang lại những kết quả bước đầu khá khả quan. Đó là:
- Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hoá, đa phương hoá và hội

nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn 170 nước và có quan
hệ kinh tế - thương mại với trên 160 nước và vùng lãnh thổ, với hầu hết các tổ chức quốc tế,
SVTH : LÊ THỊ KIM LOAN

LỚP :ĐẠI HỌC TOÁN K09

22


BÀI TIỂU LUẬN

GVHD : HOÀNG THỊ KIM LIÊN

khu vực quan trọng. Đẩy lùi được chính sách bao vây, cấm vận của các nước, thế lực thù
địch. Tạo được thế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, nâng cao vị thế của
Việt Nam trên chính trường và thương trường quốc tế.
- Khắc phục được tình trạng khủng hoảng thị trường do hệ thống xã hội chủ nghĩa ở
Liên Xô (cũ) và các nước Đông Âu sụp đổ, khủng hoảng kinh tế trong khu vực năm 1997,
đồng thời cũng đã mở rộng được thị trường xuất khẩu. Năm 2004, tổng kim ngạch xuất khẩu
hàng hóa của cả nước đạt 26,003 tỷ USD, tăng 28,9% so với năm 2003 và là mức tăng cao
nhất trong bốn năm trở lại đây. Ðây là một trong những thành tựu nổi bật của nền kinh tế
nước ta năm qua. Tính riêng trong tháng 8 năm nay, kim ngạch xuất khẩu của cả nước đạt
2,8 tỷ USD, nâng kim ngạch xuất khẩu trong 8 tháng qua lên hơn 20,3 tỷ USD, tăng gần
19% so với cùng kỳ năm trước, đã chứng tỏ đường lối đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế
của Ðảng và Nhà nước ta đang được thực tiễn khẳng định.
- Thu hút được nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và tranh thủ được nguồn
viện trợ phát triển chính thức (ODA) ngày càng lớn và giảm đáng kể nợ nước ngoài. Năm
2004, vốn thực hiện của khu vực đầu tư nước ngoài đạt 2,85 tỷ USD, tăng 7,5% so với năm
2003 và vượt so với dự kiến ban đầu (mục tiêu năm 2004 là 2,75 tỷ USD). Doanh thu của
khu vực đầu tư nước ngoài trong năm 2004 đạt khoảng 18 tỷ USD, tăng 20% so với năm

2003. Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo thêm việc làm cho 7,4 vạn lao động,
đưa tổng số lao động trực tiếp lên khoảng 74 vạn người. Năm 2004 cả nước đã thu hút được
hơn 4,2 tỷ USD vốn đầu tư mới, tăng 37,8% so với năm 2003, trong đó vốn cấp mới đạt trên
2,2 tỷ USD và vốn bổ sung đạt gần 2 tỷ USD. Đây là mức đăng ký cao nhất kể từ sau khủng
hoảng tài chính khu vực diễn ra vào năm 1997.
- Việc tăng cường vận động xúc tiến đầu tư ở nước ngoài, việc ký kết và thực hiện
các hiệp định song phương liên quan đến đầu tư đã xuất hiện động thái mới về đầu tư nước
ngoài vào Việt Nam thể hiện qua việc gia tăng số lượng nhà đầu tư vào Việt Nam khảo sát,
tìm kiếm cơ hội đầu tư, kinh doanh. Xu hướng nói trên đã tạo điều kiện để hình thành các dự
án đầu tư mới trong năm 2005. Nếu tính cả số vốn của những dự án mới được cấp phép và
số vốn bổ sung của những dự án đang hoạt động thì tổng số vốn đăng ký mới trong 7 tháng
đầu năm 2005 đạt khoảng 3,2 tỷ USD, tăng 66,6% so với cùng kỳ năm trước.
- Tiếp thu được nhiều thành tựu mới về khoa học, công nghệ và kỹ năng quản lý.
Nhiều ngành kinh tế mới đã xuất hiện dựa trên cơ sở tăng cao hàm lượng chất xám trong sản
xuất - kinh doanh. Các ngành cơ khí chế tạo, đóng tàu… từng bước được nâng lên tầm cao
mới, sản phẩm ngày càng tạo được uy tín trên thị trường trong và ngoài nước. Cơ cấu kinh
SVTH : LÊ THỊ KIM LOAN

LỚP :ĐẠI HỌC TOÁN K09

23


BÀI TIỂU LUẬN

GVHD : HOÀNG THỊ KIM LIÊN

tế chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Tỷ trọng giá trị công
nghiệp và dịch vụ trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP) ngày càng tăng, nông nghiệp ngày
càng giảm. Trong đó xu hướng tỷ trọng giá trị của dịch vụ ngày càng tăng, tổng giá trị sản

phẩm nông - công nghiệp ngày càng giảm tương ứng.
- Giữ vững sự ổn định về kinh tế. Điều này thể hiện ở nền kinh tế có tốc độ tăng
trưởng liên tục khá cao và tương đối ổn định, đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế.
Từ năm 1991 đến năm 2000, GDP tăng liên tục qua các năm với nhịp tăng bình quân hàng
năm 7,5%. So với năm 1990, năm 2000 GDP tăng gấp 2,07 lần. Tuy xảy ra cuộc khủng
hoảng kinh tế trong khu vực năm 1997, nhưng từ năm 2001 đến 2004, GDP của Việt Nam
vẫn có nhịp độ tăng trưởng bình quân hàng năm 7,25%. Trong năm 2005, tốc độ tăng trưởng
GDP quí I đạt 7,23%, 6 tháng đầu năm đạt 7,63% (tuy nhiên, tốc độ tăng này chưa tương
xứng với tiềm năng của đất nước - mặc dù có chịu ảnh hưởng do thiên tai, dịch bệnh). Như
vậy liên tục trong thời gian qua, kinh tế Việt Nam luôn đạt mức tăng trưởng cao so với các
nước trong khu vực. Đặc biệt, tỷ lệ người nghèo đói ở Việt Nam đã giảm mạnh, từ 58%
(năm 1993) xuống 24,1% vào năm 2004 (theo chuẩn nghèo 1USD/ngày), chuẩn nghèo
lương thực đã giảm từ 24,9% (năm 1993) xuống 7,8% trong năm 2004.
Bước đầu chúng ta đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, nhưng cũng vẫn còn
những mặt hạn chế, yếu kém nhất định. Cụ thể là: Nhận thức về hội nhập của cán bộ và
nhân dân chưa được nhất trí cao. Chưa có một kế hoạch tổng thể và dài hạn để hội nhập kinh
tế quốc tế; hệ thống chính sách, luật pháp quản lý kinh tế, thương mại chưa hoàn chỉnh, còn
có những chính sách, luật chưa thực sự phù hợp với những thông lệ quốc tế; lực lượng sản
xuất có nguy cơ tụt hậu so với trình độ phát triển chung của thế giới, do đó sức cạnh tranh
hàng hoá kém, hiệu quả đầu tư thấp. Cơ cấu hàng hoá chủ yếu là bán sản phẩm và gia công,
xuất khẩu tuy với khối lượng lớn nhưng giá trị thu được thấp. Trước xu thế nhập khẩu và
sức cạnh tranh chưa đủ mạnh, có thể dẫn đến khả năng mất thị trường trong và ngoài nước.
Trong thời gian qua, mục tiêu phát triển kinh tế của ta là hướng về xuất khẩu, nhưng thực tế
lại có xu hướng thực hiện theo mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu. Nền kinh tế
đang ở trình độ phát triển chậm, còn chênh lệch quá nhiều so với các nước trong khu vực;
đội ngũ cán bộ quản lý còn thiếu, yếu, đặc biệt là đội ngũ cán bộ làm trong lĩnh vực kinh tế
đối ngoại; Bản sắc văn hoá đang bị đe doạ, đặc biệt là lối sống của lớp trẻ.
Với những thành công bước đầu về hội nhập kinh tế quốc tế mà Đảng và Nhà nước ta
đã xác định trong thời gian qua, chúng ta tin tưởng rằng đến năm 2020, nước ta cơ bản sẽ trở
SVTH : LÊ THỊ KIM LOAN


LỚP :ĐẠI HỌC TOÁN K09

24


BÀI TIỂU LUẬN

GVHD : HOÀNG THỊ KIM LIÊN

thành một nước công nghiệp, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh.
2.5. Văn hoá trong phát triển kinh tế ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế:
2.5.1. Vai trò, vị trí của văn hoá:
Trong thời đại ngày nay, hội nhập quốc tế có quan hệ mật thiết và gắn liền với sự tôn
trọng và tính đa dạng văn hóa, khi mà thế giới ngày càng vô cùng nhỏ bé bởi các tiến bộ vượt bậc của công nghệ thông tin, của truyền thông đại chúng và sự phát triển mang tính
bùng nổ của thương mại và đầu tư xuyên quốc gia. Những nỗ lực của các quốc gia trong
việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá của mình đã và đang diễn ra tích cực nhằm đóng
góp vào sự nghiệp chung của sự đa dạng văn hóa nhân loại.
Trong thời gian vừa qua, chưa bao giờ vai trò, vị trí của văn hoá trong việc củng cố
và bảo vệ hoà bình thế giới được khẳng định, nhấn mạnh và đề cao trên mọi diễn đàn quốc
tế. Cùng với chính trị và kinh tế, hợp tác văn hoá là một trong ba trụ cột lớn của hợp tác
quốc tế trong thời đại ngày nay. Bảo vệ và đóng góp vào quá trình hợp tác văn hoá trên tinh
thần tôn trọng và phát huy tính đa dạng văn hoá là trách nhiệm và nghĩa vụ của tất cả các
quốc gia
Đối thoại giữa các nền văn hoá và văn minh hết sức đa dạng và phong phú của các
quốc gia, dân tộc cần được coi là sự hợp tác mẫu mực trong thế giới toàn cầu hoá. Trong bối
cảnh một thế giới phát triển nhanh chóng hiện nay, bao gồm cả những biến động chính trị và
kinh tế, mỗi quốc gia, dân tộc đều có điều kiện và cơ hội để thúc đẩy sự phát triển, trong bối

cảnh đó cũng đặt ra cho mỗi quốc gia những thách thức mới, trong đó nổi bật là việc bảo vệ
bản sắc dân tộc và phát huy các giá trị văn hoá và văn minh trong môi trường mở rộng giao
lưu và hội nhập quốc tế.
Ngày nay, văn hoá được xem là sự tổng hoà các giá trị nổi bật về trí tuệ, tâm hồn và
vật chất của mỗi quốc gia, dân tộc, làm nên diện mạo riêng biệt của mỗi nứơc và là nền tảng
tinh thần, là động lực phát triển của toàn xã hội. Hội nhập và phát triển kinh tế quốc tế phải
gắn liền với việc bảo vệ và phát huy những giá trị bản sắc văn hoá dân tộc, đồng thời tiếp
thu những giá trị của văn hóa, văn minh nhân loại làm cho văn hoá mỗi dân tộc ngày càng
phong phú hơn. Đó chính là nhiệm vụ quan trọng và hàng đầu của mỗi quốc gia, của mỗi
nền văn hoá trong thời đại ngày nay.
Hội nhập quốc tế và xu thế xích lại gần nhau càng đòi hỏi các quốc gia, các Chính
phủ phải tôn trọng những giá trị của các nền văn hoá, phải có thái độ công bằng đối với các
SVTH : LÊ THỊ KIM LOAN

LỚP :ĐẠI HỌC TOÁN K09

25


×