Tải bản đầy đủ (.pdf) (120 trang)

Phật giáo tây tạng lịch sử và những vấn đề đặt ra hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.29 MB, 120 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC
----------&&&----------

LÃ THỊ THANH THỦY

PHẬT GIÁO TÂY TẠNG – LỊCH SỬ VÀ NHỮNG
VẤN ĐỀ ĐẶT RA HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SỸ
Chuyên ngành: Châu Á học

Hà Nội - 2014


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC
----------&&&----------

LÃ THỊ THANH THỦY

PHẬT GIÁO TÂY TẠNG – LỊCH SỬ VÀ NHỮNG
VẤN ĐỀ ĐẶT RA HIỆN NAY

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Châu Á học
Mã số: 60.31.50

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Đỗ Quang Hưng


Hà Nội - 2014


LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo, các cán bộ
của Khoa Đông Phương học, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn
(Đại học Quốc gia Hà Nội) đã giúp đỡ, trang bị cho tôi những kiến thức quý
báu trong quá trình học tập.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới GS.TS. Đỗ Quang Hưng - thầy
giáo đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu
và hoàn thiện luận văn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam nơi tôi đang công tác, cùng nhiều đồng nghiệp đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo mọi
điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn.
Để có được thành quả này, tôi cũng xin dành tặng lời tri ân sâu sắc nhất
tới những người thân yêu trong gia đình đã luôn khuyến khích và động viên tôi.
Luận văn chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót, do vậy tôi
mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo, các đồng nghiệp
và những độc giả quan tâm.
Hà Nội, ngày 01 tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn

Lã Thị Thanh Thủy


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU

2

Chương 1: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHẬT

GIÁO TÂY TẠNG

16

1.1. Khu tự trị Tây Tạng

16

1.2. Phật giáo Tây Tạng

17

1.3. Đặc điểm của Phật giáo Tây Tạng

30

Tiểu kết

36

Chương 2: NHÀ NƯỚC TRUNG QUỐC VỚI PHẬT GIÁO TÂY TẠNG
TỪ NĂM 1949 ĐẾN NAY
2.1. Quan hệ giữa Nhà nước Trung Quốc với Phật giáo Tây Tạng từ năm 1949
đến năm 1959
2.2. Quan hệ giữa Nhà nước Trung Quốc với Phật giáo Tây Tạng từ năm 1959
đến năm 1982
2.3. Quan hệ giữa Nhà nước Trung Quốc với Phật giáo Tây Tạng từ năm 1982
đến nay
Tiểu kết


37

37

44

54
64

Chương 3: PHẬT GIÁO TÂY TẠNG - VẤN ĐỀ ĐẶT RA HIỆN NAY
VỚI TRUNG QUỐC VÀ NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM
3.1. Những “sắc thái” của vấn đề Phật giáo Tây Tạng hiện nay với Trung
Quốc
3.2. Giải quyết vấn đề Phật giáo Tây Tạng: một trong những điểm then chốt
trong quan hệ nhà nước Trung Quốc

67

67

75

3.3. Bước đầu liên hệ với Việt Nam

81

Tiểu kết

88


KẾT LUẬN

90

TÀI LIỆU THAM KHẢO

94

PHỤ LỤC

103

1


MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Phật giáo Tây Tạng thuộc hệ phái Phật giáo Đại thừa. Theo tác giả Hoàng Tâm
Xuyên thì Phật giáo Tây Tạng được liệt danh vào trong “10 tôn giáo lớn trên thế giới”
và nó trở thành văn hóa tộc người của người Tạng. Trong kiến trúc chùa tháp, cách
bài trí tượng thờ, đồ thờ và phương thức sử dụng pháp khí, nhạc khí trong nghi lễ của
Phật giáo Tây Tạng có nhiều điểm khác với Phật giáo Trung Hoa và Việt Nam. Việc
quản lý văn hóa Phật giáo Tây Tạng từ năm 1949 đến nay, Đảng và nhà nước Trung
Quốc đã triển khai thực thi nhiều chính sách liên quan đến dân tộc, tôn giáo và nhiều
bài học kinh nghiệm được rút ra từ 1949 đến nay. Đồng thời, việc quản lý các vị Lạtma tham gia dịch vụ tôn giáo, cách thức người dân tổ chức lễ hội hay cách thức quản
lý tài chính công (tiền bán vé vào chùa tham quan, tiền công đức) ở các di tích là
những bài học kinh nghiệm mà nhà nước Việt Nam cũng cần tham khảo.
Những năm gần đây, chính phủ Trung Quốc rất quan tâm đến việc đầu tư phát
triển kinh tế, văn hóa, xã hội, tôn giáo, lễ hội ở khu tự trị Tây Tạng; cuộc sống của

người dân ngày càng phồn vinh và người Tạng được hưởng nhiều chế độ ưu đãi
riêng,... nhưng tình hình an ninh, chính trị bất ổn vẫn thường xuyên xảy ra ở khu tự trị
dân tộc Tây Tạng, với nhiều cuộc bạo động, biểu tình của người dân địa phương đã
xảy ra nhằm chống đối nhà nước, đòi ly khai Trung Hoa,…; tất cả đã nói lên những
bất cập trong lĩnh vực quản lý dân tộc, tôn giáo của nhà nước Trung Quốc hiện nay.
Mặt khác, trước thời kỳ hai nước Việt-Trung chưa thực hiện chính sách “cải
cách mở cửa” thì người Việt Nam ít có cơ hội biết đến văn hóa Phật giáo Tây Tạng
và chỉ sau khi chính phủ hai nước Việt-Trung chính thức ký kết Hiệp định “một hành
lang hai đông tây” vào ngày 20 tháng 5 năm 2004 nhằm phát triển kinh tế, du lịch,
thương mại, giao lưu văn hóa thông qua các cửa khẩu quốc tế ở phía đông (Móng
Cái- Đông Hưng; Hữu Nghị- Tân Thanh) và phía tây (Lào Cai- Hà Khẩu) của hai
nước thì người dân, nhà nghiên cứu, quý sư thầy,… mới có điều kiện đến Trung Quốc
du lịch, trải nghiệm, khám phá tâm linh. Tuy nhiên, số lượng người trong diện may
2


mắn để đến Tây Tạng không có nhiều, bởi kinh phí đi lại rất tốn kém, sức khỏe không
cho phép và đặc biệt thủ tục làm visa (vòng 2) tại Trung Quốc để được nhập cảnh vào
Tây Tạng là vô cùng khó khăn và phức tạp; cả đối với người Trung Quốc chứ không
chỉ quy định riêng với người nước ngoài. Bởi vậy, đa phần người Việt Nam biết đến
văn hóa Phật giáo Tây Tạng chủ yếu là qua phim tài liệu dưới dạng ký sự hay các bài
viết được dịch từ tiếng Anh, Trung sang tiếng Việt mang tính giới thiệu về vùng đất,
con người, khí hậu, phong cảnh và kiến trúc chùa tháp,… đăng tải trên các trang
mạng điện tử, facebook,… Hiện nay, ở Việt Nam chưa có luận văn nào nghiên cứu
mang tính chuyên sâu và có hệ thống về Phật giáo Tây Tạng.
Xuất phát từ nhu cầu công tác chuyên môn của tác giả tại cơ quan để phục vụ
cho phần trưng bày văn hóa các dân tộc Đông Nam Á tại tòa nhà Bảo tàng Đông Nam
Á nằm trong khuôn viên của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam. Năm 2006, chúng tôi
đã hợp tác với Bảo tàng các dân tộc tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) triển khai nghiên
cứu trưng bày, giới thiệu về đồ vải của dân tộc Thái ở tiểu vùng sông Mê kông và

cùng nhau thảo luận tiến hành nghiên cứu sưu tầm văn hóa các dân tộc tỉnh Vân Nam
phục vụ cho trưng bày tại tòa nhà Bảo tàng Đông Nam Á. Qua một vài lần tới tham
quan tại Bảo tàng bạn, tác giả đã có cơ hội tiếp cận nghiên cứu nhiều hiện vật liên
quan đến Phật giáo Tây Tạng đang trưng bày và bảo quản tại kho của Bảo tàng các
dân tộc thiểu số tỉnh Vân Nam và nảy sinh ý tưởng muốn viết luận văn về Phật giáo
Tây Tạng thông qua các nguồn tư liệu thứ cấp đã được công bố bằng tiếng Việt,
Trung, Anh và nguồn tư liệu gắn liền với hiện vật của hai Bảo tàng (Bảo tàng các dân
tộc tỉnh Vân Nam và Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam).
Hiện nay, nghiên cứu về Phật giáo Tây Tạng đã có nhiều công trình nghiên cứu
dưới góc độ quản lý của nhà nước về văn hóa du lịch, tôn giáo, lịch sử, dân tộc học,
Phật học.., nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào mang tính ứng dựng vào thực
tiễn của công tác chuyên môn tại Bảo tàng và áp dụng vào việc quản lý văn hóa, tôn
giáo, dân tộc ở Việt Nam. Bài học quản lý văn hóa, tôn giáo, dân tộc ở Tây Tạng
trong thời gian qua của nhà nước Trung Quốc còn nhiều điều bất cập, chúng ta cũng
cần phải tìm hiểu về căn nguyên của nó và rút ra những bài học kinh nghiệm để tránh

3


mắc phải sai lầm giống như ở Tây Tạng, từ đó đưa ra các quyết sách phù hợp với
lòng dân, tiến tới hoàn thiện chính sách tôn giáo ở Việt Nam.
Như vậy, nội dung nghiên cứu luận văn của chúng tôi không bị trùng lặp với các
đề tài trước và nó lại vừa có giá trị thực tiễn để tác giả áp dụng vào công tác chuyên
môn tại Bảo tàng lại vừa cung cấp thêm các nguồn tư liệu mới cho các cơ quan hoạch
định chính sách dân tộc, văn hóa, tôn giáo ở Việt Nam tham khảo. Với lý do và ý
nghĩa như đã trình bày ở trên, chúng tôi chọn đề tài: "Phật giáo Tây Tạng - Lịch sử
và những vấn đề đặt ra hiện nay" cho luận văn thạc sĩ chuyên ngành Châu Á học
của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
- Cung cấp một cách có hệ thống những tư liệu liên quan đến quá trình Phật giáo

Ấn Độ truyền vào Tây Tạng và sự tương thích của Phật giáo Ấn Độ với tín ngưỡng
bản địa là Bôn giáo để tạo nên nét văn hóa đặc trưng riêng của Phật giáo Tây Tạng.
- Tìm hiểu những nét đặc trưng văn hóa Phật giáo Tây Tạng và chính sách quản
lý tôn giáo của nhà nước Trung Hoa với khu tự trị dân tộc Tây Tạng từ năm 1949 đến
nay.
- Bước đầu nghiên cứu so sánh với một số ngôi chùa Mật tông ở Hà Nội với văn
hóa Phật giáo Tây Tạng và đưa ra một số khuyến nghị về bài học kinh nghiệm quản
lý tôn giáo của nhà nước Trung Hoa để áp dụng vào trong công tác quản lý tôn giáo ở
Việt Nam trong bối cảnh hội nhập toàn cầu.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là "Phật giáo Tây Tạng - Lịch sử và
những vấn đề đặt ra hiện nay", bao gồm các vấn đề: quá trình Phật giáo Ấn Độ du
nhập vào Tây Tạng và sự tương thích với tín ngưỡng Bôn giáo để tạo thành nét riêng
của Phật giáo Tây Tạng; chính sách tôn giáo của nhà nước Trung Hoa với Phật giáo
Tây Tạng từ năm 1949 đến nay và những vấn đề đặt ra hiện nay đối với Phật giáo
Tây Tạng.

4


- Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các ngôi chùa Mật tông ở thành phố La-sa
thuộc khu tự trị Tây Tạng và so sánh với một số ngôi chùa Mật tông ở Hà Nội.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ chuyên ngành Châu Á học, chúng tôi
đã áp dụng một số phương pháp nghiên cứu chính sau đây:
4.1. Phương pháp tiếp cận về tôn giáo học: trong phương pháp nghiên cứu này,
chúng tôi vận dụng cách tiếp cận nghiên cứu nhân học tôn giáo theo góc độ văn hóa
học. Vai trò của nhân học tôn giáo mà trước hết là vận dụng những kết quả nghiên
cứu về tôn giáo học của các học giả phương Tây, Trung Quốc và Việt Nam để làm
luận cứ khoa học chứng minh cho luận điểm của mình đưa ra.

4.2. Phương pháp chuyên gia: ngoài tìm kiếm các nguồn tài liệu thứ cấp nêu
trên, chúng tôi còn tiến hành phương pháp phỏng vấn các chuyên gia ở Việt Nam và
Trung Quốc chuyên nghiên cứu hay dịch thuật về Phật giáo Tây Tạng trong những
năm gần đây. Tại Việt Nam, chúng tôi phỏng vấn Thượng tọa Thích Minh Hiền (chùa
Hương), Thích Thanh Quyết (chùa Phúc Khánh), Thích Gia Quang (chùa Quán Sứ),
Đại Đức Thích Minh Thanh (chùa Khúc Thủy), Thượng tọa Thích Đức Thiện (chùa
Phật Tích),... đã đến Tây Tạng tham quan, tu tập; ông Vũ Hồng Thuật (Bảo tàng Dân
tộc học Việt Nam) nghiên cứu sinh tại Viện Dân tộc học trường Đại học Vân Nam,
tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) để phỏng vấn, chia sẻ tư liệu, ảnh,... liên quan đến luận
văn.
Với các chuyên gia Trung Quốc, do có mối quan hệ Hợp tác từ trước giữa Bảo
tàng Dân tộc học Việt Nam với Bảo tàng các dân tộc tỉnh Vân Nam (năm 2006),
chúng tôi sang thành phố Côn Minh triển khai dự án Hợp tác nghiên cứu trưng bày về
đồ vải Thái ở tiểu vùng sông Mê Kông đã phỏng vấn Giáo sư Tạ Mộc Hoa (Giám đốc
Bảo tàng) và tham quan, nghiên cứu hiện vật Phật giáo Tây Tạng tại Bảo tàng này.
Tháng 12/2009, Bảo tàng Vân Nam cử 6 chuyên gia sang Bảo tàng Dân tộc học Việt
Nam tư vấn cho phần trưng bày văn hóa các dân tộc tỉnh Vân Nam tại tòa nhà trưng
bày Bảo tàng Đông Nam Á, trong đoàn có Giáo sư Tùng Thanh Hoa là người Tạng ở
thành phố La-sa chuyên nghiên cứu về Lịch sử Phật giáo Tây Tạng đã cung cấp cho
5


chúng tôi nhiều tư liệu quý báu liên quan đến chính sách của nhà nước Trung Quốc
với Phật giáo Tây Tạng và xu hướng phát triển của Phật giáo Tây Tạng trong tương
lai. Đầu năm 2012, chúng tôi đón tiếp Giáo sư Phạm Hùng Quý và Giáo sư Hoàng
Khả Hưng (Học Viện Nghiên cứu Dân tộc tỉnh Quảng Tây - Trường Đại học Dân tộc
Quảng Tây); Giáo sư Hà Minh (Viện trưởng Viện Dân tộc học, Trường Đại học Vân
Nam) đến tham quan trao đổi học thuật với cán bộ Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam;
Giáo sư Trịnh Hiểu Vân (Học viện Khoa học xã hội Vân Nam) tham gia Hội thảo
quốc tế về “Bảo tàng với di sản văn hóa lưu vực sông Mê Kông và sông Hằng trong

bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu” do Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam phối hợp với
Viện Văn hóa nghệ thuật Việt Nam tổ chức tại Huế, từ ngày 11-12/6/2012, chúng tôi
đã đến phỏng vấn sâu các học giả nêu trên để lấy tư liệu và xin ý kiến đóng góp cho
luận văn.
4.3. Phương pháp tổng hợp, so sánh, đối chiếu và phân tích: sau khi có tư liệu,
chúng tôi tiến hành tổng hợp nội dung, phân tích, so sánh, đối chiếu rồi tự rút ra kết
luận và nhận xét.
4.4. Phương pháp điều tra điền dã: chủ yếu được triển khai nghiên cứu ở một số
ngôi chùa ở Hà Nội để tìm hiểu về Phật giáo Mật tông ở Việt Nam trong mối quan hệ
với Phật giáo Mật tông Tây Tạng.
5. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hiện nay, có một số bài tạp chí và sách viết về khu tự trị Tây Tạng nói chung và
Phật giáo Tây Tạng nói riêng được công bố bằng tiếng Trung, Anh, Việt. Trong nhiều
nguồn tài liệu dịch từ tiếng Trung sang tiếng Việt, chúng tôi quan tâm đến một số
công trình dịch thuật của các tác giả sau:
Công trình dịch thuật của tác giả Nguyễn Duy Chiếm, nhan đề "Cách mạng văn
hóa liệt truyện" (thực lục), gồm 3 tập [8]. Tập I của cuốn sách, ngoài giới thiệu khái
quát bối cảnh Đảng cộng sản Trung Quốc đã giành chính quyền từ Quốc Dân Đảng
và lập nên nhà nước Trung Hoa vào ngày 10 tháng 10 năm 1949; thực hiện chính
sách cải cách ruộng đất; cuộc cách mạng "đại nhảy vọt" của Đảng Cộng sản và những
câu truyện mâu thuẫn về nội bộ chính trị của Đảng và nhà nước Trung Quốc giữa phe
6


ôn hòa (cánh “tả”) là Lưu Thiết Kỳ và phe cấp tiến (cánh “hữu”) là chủ tịch Mao
Trạch Đông. Tập II cuốn sách nói về câu truyện 10 năm thực hiện cuộc “cách mạng
văn hóa” (1966-1976) và những mâu thuẫn nội bộ trong Đảng Cộng sản; việc tranh
chấp quyền lực chính trị giữa phe cánh “tả” và phe cánh “hữu” ngày càng diễn ra
quyết liệt. Tập III cuốn sách chủ yếu đề cấp đến cuộc chiến tranh giữa Mao Trạch
Đông với Đặng Tiểu Bình và ngẫm suy của tác giả sau kiếp nạn trên bàn cờ chính trị

của giới lãnh đạo Trung Quốc trong thời kỳ từ năm 1950 đến năm 1980. Đây là
nguồn tài liệu tham khảo quý cho chúng tôi tìm hiểu về bối cảnh thực hiện chính sách
dân tộc và tôn giáo của Đảng và nhà nước Trung Quốc với người Tạng từ sau 1949
đến năm 1982.
Công trình nghiên cứu của tác giả Trịnh Tây (Đặng Thúy Thúy dịch) với tiêu đề
"Dân tộc và tôn giáo Trung Quốc"[24]. Tác giả công trình, ngoài xác định lại khái
niệm "dân tộc-quốc gia", "đa nguyên nhất thể" của dân tộc Trung Hoa; bối cảnh văn
hóa các dân tộc thiểu số; chế độ tự trị khu vực dân tộc của Trung Quốc; phương
hướng bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số,… còn dành 4 trang (tr.133136) giới thiệu khái quát về Phật giáo Tây Tạng trong bối cảnh văn hóa tín ngưỡng
tôn giáo của người Trung Quốc.
Về "Lịch sử Phật giáo Tây Tạng" của pháp sư Thánh Nghiêm, nội dung chủ yếu
của cuốn sách đề cập đến các vấn đề về nguồn gốc lịch sử Phật giáo Tây Tạng; những
bước thăng trầm của Phật giáo Tây Tạng gắn liền với lịch sử văn hóa dân tộc; các đồ
thờ, pháp khí, tu viện và mối quan hệ giữa nhà nước với tôn giáo; giữa Phật giáo Tây
Tạng với Phật giáo Mông Cổ trong những năm gần đây [17]. Nguồn tài liệu này rất
hữu ích cho chúng tôi tham khảo.
Cuốn “Bách khoa thư về Mật tông Tây Tạng: 1000 vấn đề Mật tông Tây Tạng”
của nhóm tác giả Vũ Thỏa - Nguyên Ninh. Đây là một công trình nghiên cứu mang
tính hỏi-đáp về các vấn đề liên quan đến Mật tông Tây Tạng, nó có giá trị tham khảo
với chúng tôi khi tìm hiểu về các thuật ngữ và nội dung tư tưởng liên quan đến Phật
giáo Tây Tạng [19].

7


Công trình nghiên cứu “Từ điển Phật học” của nhóm dịch giả Đạo Uyển giúp
chúng tôi dùng tra cứu các thuật ngữ và ý nghĩa về tên gọi các giáo phái, tên các vị
chức sắc tôn giáo, các vấn đề liên quan đến Phật giáo Tây Tạng [34].
Công trình nghiên cứu của pháp sư Thánh Nghiêm - Tịnh Hải “Lịch sử Phật
giáo thế giới”, nội dung cuốn sách đề cập đến lịch sử phát triển của các tôn giáo trên

thế giới; trong đó có Phật giáo Tây Tạng [18]. Liên quan đến nội dung, nhóm tác giả
dành 4 chương (tr.270- 436) viết về Phật giáo Tây Tạng thời kỳ truyền bá trước; Phật
giáo Tây Tạng thời kỳ truyền bá sau; Tông Khánh Ba và tư tưởng; văn vật của Phật
giáo Tây Tạng và đặc sắc của Phật giáo Tây Tạng. Đây là nguồn tài liệu tham khảo
rất bổ ích cho luận văn.
Tác giả Hoàng Tâm Xuyên với công trình “10 tôn giáo lớn trên thế giới” (tr.214291) viết về Đạo Phật; trong đó có giới thiệu vài thông tin về Phật giáo Tây Tạng như
một nét chấm phá riêng của “bức tranh văn hóa” Phật giáo Tây Tạng trong khung
cảnh văn hóa Phật giáo nói chung [43].
Cuốn sách mang tính cẩm nang về tôn giáo Trung Quốc của tác giả Lữ Vân
"Tôn giáo ở Trung Quốc: 100 câu hỏi và trả lời", nội dung chủ yếu giải đáp các câu
hỏi mang tính phổ thông cho những ai muốn tìm hiểu về tôn giáo Trung Quốc (Phật
giáo, Đạo giáo, Thiên chúa giáo) và mối quan hệ giữa tôn giáo với chính trị, nhà nước
[37]. Tuy công trình này không mang tính học thuật cao nhưng lại mang đến cho
người đọc cảm nhận được khái quát về các tôn giáo ở Trung Quốc qua các thời kỳ.
Học giả C.Alexander Simkins và Annellen Simkins cho ra mắt tác phẩm "Ánh
sáng mật tông - Con đường tâm linh Tây Tạng" [44], nội dung đề cập khái lược về
Phật giáo Tây Tạng; Phật giáo Tây Tạng và nếp sống Phật giáo,... Đây là cuốn sách
giới thiệu mang tính chuyên biệt về Phật giáo Mật tông Tây Tạng; trong đó có đề cập
nhiều đến phương pháp tu Mật tông và những cảm nhận của người tu theo môn pháp
này.
Liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu dân tộc và chính sách dân tộc của Trung
Quốc, tác giả Hách Thời Viễn với công trình “Dân tộc và vấn đề dân tộc ở Trung
Quốc” được Viện Dân tộc học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam dịch để làm
8


tư liệu nghiên cứu nội bộ [35]. Nội dung chủ yếu bàn về lý luận và thực tiễn giải
quyết các vấn đề về dân tộc của Đảng và nhà nước Trung Quốc. Đây là nguồn tài liệu
quý để chúng tôi nghiên cứu tham khảo trong luận văn viết về mối quan hệ dân tộc
Tạng với Đảng và nhà nước Trung Quốc từ năm 1950-1982.

Năm 2004, tác giả Võ Kim Quyên (chủ biên) với công trình “Tôn giáo và đời
sống hiện đại” tập hợp các bài viết của các tác giả Trung Quốc dịch sang tiếng Việt
[23]. Nội dung của cuốn sách, ngoài tổng quan về tôn giáo Trung Quốc (Phật giáo,
Đạo giáo, Nho giáo, Thiên chúa giáo, Đạo tin lành), còn đề cập đến chính sách tôn
giáo và các hiện tượng của các tôn giáo hỗn tạp tại Trung Quốc. Cuốn sách này, tùy
không đề cập riêng về Phật giáo Tây Tạng giống như một số các cuốn sách khác
nhưng nó lại mang đến cho người đọc một cái nhìn tổng thể về tôn giáo Trung Quốc
và phương thức quản lý tôn giáo của nhà nước này.
Công trình nghiên cứu của tập thể Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo “Về tôn giáo và
tôn giáo ở Việt Nam” [41]. Cuốn sách tập hợp các bài viết nghiên cứu về tôn giáo của
tập thể cán bộ Viện Nghiên cứu tôn giáo và các bài viết của tác giả trong và ngoài
nước đăng trên tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo từ năm 1999 đến năm 2003. Nội dung
cuốn sách có thể khái quát thành hai phần chính, đó là: Tôn giáo - Vấn đề lý luận và
các tôn giáo ở Việt Nam.
Tác giả Đỗ Quang Hưng “Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam: lý luận
và thực tiễn” [11], nội dung cuốn sách nêu rõ ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh đối với quá trình phát triển tư duy lý luận của Đảng ta về tôn
giáo và vấn đề tôn giáo; con đường xây dựng và hoàn thiện chính sách tôn giáo của
Đảng và nhà nước ta từ năm 1945 đến nay, cùng việc thực thi chính ấy trong đời sống
các tôn giáo. Nội dung cuốn sách chia làm bốn phần: Bối cảnh quốc tế của vấn đề tôn
giáo ở Việt Nam thế kỷ 20; Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về bước
đầu nhận thức tôn giáo của Đảng cộng sản Việt Nam giai đoạn 1924-1945; Sự phát
triển quan điểm và đường lối tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam từ cách mạng
dân tộc dân chủ đến cách mạng xã hội chủ nghĩa; xây dựng và từng bước hoàn thiện
chính sách tôn giáo ở Việt Nam.

9


Năm 2007, tác giả Nguyễn Thanh Xuân cho ra mắt công trình nghiên cứu “Một

số tôn giáo ở Việt Nam” [42] nội dung tổng thuật một cách khái quát về nguồn gốc
du nhập, triết lý, tư tưởng và thực hành của Đạo Phật, đạo Công giáo, đạo Tin lành,
đạo Hồi, đạo Cao đài ở Việt Nam; trong đó phần viết về Phật giáo, tác giả viết 99
trang (tr.11-109). Tuy chuyên đề này không đề cập đến Phật giáo Tây Tạng nhưng lại
có giá trị tham khảo cho chúng tôi tìm hiểu về nguồn gốc và lịch sử phát triển của
Phật giáo Ấn Độ và sự du nhập của nó vào Việt Nam để làm tư liệu tham khảo.
Năm 2009, nhà xuất bản Tôn giáo cho ra mắt ấn phẩm “Mật tông Tây Tạng Tôn giáo huyền bí trên thế giới” của tác giả Sangye Gyatso - Thiện Nhân, nội dung
của cuốn sách nói về nguồn gốc của Mật tông Tây Tạng; những điều cần biết về Mật
tông; nội dung chính của phương pháp tu Mật tông; các giáo phái chủ yếu của Mật
tông Tây Tạng [45]. Đây là một cuốn sách đề cập đến nhiều phương diện của Phật
giáo Mật tông Tây Tạng; trong đó có phần lịch sử và các giáo phái được chúng tôi
quan tâm hơn cả.
Năm 2010, nhà xuất bản Tôn giáo cho ra đời ấn phẩm “Mật tông Phật giáo” của
tác giả Nguyễn Tuệ Chân [3].Nội dung cuốn sách, ngoài giới thiệu sự hình thành và
phát triển của Mật tông Ấn Độ; các giai đoạn phát triển của Mật tông, Mật chú trong
Mật giáo Ấn Độ; sự quan hệ giữa Mật tông với Du già; hệ thống kinh sách, pháp khí
(ý nghĩa của “kim cương” trong Mật tông); các ngôi chùa Mật tông nổi tiếng; nguyên
nhân sự biến mất của Mật tông ở Ấn Độ và sự truyền nhập Mật tông vào vùng Tây
Tạng. Đây là cuốn sách quan trọng để chúng tôi tham khảo viết trong luận văn.
Tác giả Nhiếp Chính Vương với “Nghệ thuật Mật giáo là cách cửa dẫn tới giác
ngộ” [39], nội dung đề cập truyền thừa dòng Drukpa, Đức Phật kim cương, nghệ
thuật Mật giáo, giải thích cách bài trí và biểu tượng Man-da-la, Ngũ Trí Phật, pháp
khí trong Phật giáo, nhạc khí nghi lễ,…
Ngoài các nguồn tài liệu sách tiếng Việt nêu trên, chúng tôi còn sử dụng “Tài
liệu tham khảo đặc biệt” của hãng Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) ra hàng ngày có
viết về: Nguy cơ xung đột tiểm ẩn ở Tây Tạng [29]; Bắc Kinh cuộc khủng khoảng ở
Tây Tạng [30]; Trung Quốc cần thay đổi quan điểm về Tây Tạng [31]; Các nhóm lợi
10



ích cản trở sự hòa giải ở Tây Tạng [32] và nhiều bài viết liên quan đến tình hình an
ninh, chính trị, quân sự ở Tây Tạng đăng ở tài liệu Tham khảo đặc biệt.
Gần đây, một số các bài viết của các tác giả Trung Quốc đăng bằng tiếng Trung
trên các tạp chí chuyên ngành ở trong nước, được dịch sang tiếng Việt in trên tạp chí
Nghiên cứu Tôn giáo [9], [13], [25] có nội dung liên quan đến vấn đề dân tộc và tôn
giáo Trung Quốc. Các nguồn tài liệu này, cũng được chúng tôi sử dụng trích dẫn
trong luận văn.
Nguồn tài liệu tiếng Trung: Theo quy định của Cục xuất bản Trung Quốc, từ
năm 2000 trở lại đây, các tác giả có công trình xuất bản, đăng tạp chí nghiên cứu đều
phải đăng tải tại: ; để mọi độc giả có
thể tham khảo tài liệu. Trong các nguồn tài liệu tiếng Trung, chúng tôi quan tâm đến
bài viết của tác giả Đỗ Vĩnh Bân “Luận bàn con đường phát triển của Phật giáo Tây
Tạng đương đại” [49], nội dung bàn về vấn đề nhận thức, hiện trạng và xu thế phát
triển của Phật giáo Tây Tạng trong giai đoạn hiện nay. Đồng thời, tác giả còn phân
tích về vai trò của Phật giáo Tây Tạng đối với ý nghĩa chiến lược quốc gia và khu tự
trị dân tộc Tây Tạng trong bối cảnh tình hình hiện nay; dự đoán xu thế phát triển của
Phật giáo Tây Tạng trong khu vực và đưa ra một số đề xuất với chính phủ Trung
Quốc về đối sách chiến lược thích ứng với Phật giáo Tây Tạng hiện nay.
Một công trình nghiên cứu dưới góc độ triết học Phật giáo của Giáo sư Kiều Căn
Tỏa “Luận bàn về đặc điểm chủ yếu và nội dung cơ bản của tư tưởng triết học Phật
giáo Tây Tạng” với luận điểm, Phật giáo Tây Tạng là sự kết hợp và phát triển dựa
trên nền tảng tư tưởng Phật giáo Bôn giáo nguyên thủy của dân tộc Tạng trộn lẫn với
triết học Phật giáo Ấn Độ. Đồng thời, triết học Phật giáo Tây Tạng lấy phương thức
lý luận hóa và hệ thống hóa đối với vũ trụ, nhân sinh, xã hội có tính nhận thức căn
bản. Ngoài ra, phương pháp luận thế giới quan Phật giáo Tây Tạng là lấy hệ thống
tổng hợp phương thức tư duy và lý luận thâm sâu của tư tưởng triết lý nhà Phật để tạo
thành nền tảng cho hệ thống triết học Phật giáo Tây Tạng [62].
Tạp chí Khoa học xã hội Cam Túc, tác giả Đào Kha với bài viết “Luận bàn ảnh
hưởng của dân tộc Hán đối với Phật giáo Tây Tạng” [57], nội dung chủ yếu đề cập
11



đến các vấn đề ảnh hưởng của người Hán đối với Phật giáo Tây Tạng trên mọi
phương diện; trong đó ảnh hưởng nổi bật là đời sống xã hội và tín ngưỡng tôn giáo.
Bài viết cũng cho biết thêm về thời gian Phật giáo Ấn Độ truyền nhập vào Tây Tạng
là thế kỷ V công nguyên, bằng hai hướng Đông và Tây Nam.
Một công trình nghiên cứu về sự lan tỏa của Phật giáo Tây Tạng ở Đài Loan, tác
giả Tố Nam Tài Nhượng trong “Nghiên cứu Phật giáo Tây Tạng ở Đài Loan” đã cho
biết, Phật giáo Tây Tạng du nhập vào địa khu Đài Loan khoảng những năm 40 của
thế kỷ 20 và mãi đến những năm 70 thì mọi hoạt động liên quan đến giáo hội và công
tác nghiên cứu phật giáo Tây Tạng ở địa khu Đài Loan mới chính thức đi vào hoạt
động [59]. Kể từ sau năm 1980 đến nay, nhiều công trình nghiên cứu khoa học về
Phật giáo Tây Tạng ở Đài Loan đạt được rất nhiều thành quả về khoa học.
Tiếp tục các chuỗi sự kiện liên quan đến quan hệ chính trị giữa nhà nước với
lãnh đạo Lạt-ma trên các trang mạng của Trung Quốc (QQ, baidu.com,
Newbaidu.com), nó không chỉ cho người đọc nhìn thấy các khu vực hành chính của
người Tạng định cư trên cao nguyên và định cư ở nước ngoài mà còn phân tích, đánh
giá cả về tình hình kinh tế, chính trị, an ninh ở Tây Tạng trong những năm tới. Đặc
biệt, nguồn tài liệu này cũng phân tích một số vấn đề nhược điểm của Phật giáo Tây
Tạng trong bối cảnh tình hình chính trị do nhà nước Trung Hoa điều hành mà bộ máy
chính quyền là người Hán lãnh đạo.
Công trình nghiên cứu dành riêng cho phân tích khái niệm về Phật giáo Tây
Tạng của tác giả Lưu Dũng [54], nội dung đưa ra một số các thuật ngữ tên gọi về Phật
giáo Tây Tạng qua các thời kỳ và bối cảnh sử dụng các thuật ngữ này. Đồng thời, tác
giả cũng đưa ra quan điểm riêng của mình về khái niệm “Phật giáo Tây Tạng” là phải
dựa trên sự cấu thành của lịch sử và đáp ứng được nhu cầu thực tại của người dân
trên phương diện lý luận, thực tiễn tu tập; chế độ tổ chức và phương diện tôn giáo dân
tục để lý giải một cách toàn diện của khái niệm nêu trên thì mới giảm thiểu được sự
tranh luận học thuật không đáng có trong nghiên cứu Phật giáo Tây Tạng.
Một công trình tổng thuật nghiên cứu về Phật giáo Tây Tạng trong 10 năm trở

lại đây của tác giả Triệu Lợi Văn, nội dung chính của bài tổng thuật nghiên cứu nêu
12


ra những công trình nghiên cứu của các tác giả viết về những hiện tượng mới xuất
hiện ở Phật giáo Ngũ Đài Sơn là một trong những tiêu điểm chú ý của các nhà học
thuật thế giới [64]. Ngoài ra, bài viết cũng tổng thuật một số vấn đề liên quan đến nội
dung về văn hóa Ngũ Đài Sơn, các giáo phái, các cao tăng, kiến trúc chùa tháp, nghệ
thuật tạc tượng, đồ thờ và cách tiếp cận lý thuyết và lý luận đánh giá về giá trị văn
hóa của Phật giáo Tây Tạng ở Ngũ Đài Sơn trong mười năm trở lại đây.
Tháng 2 năm 2009, một cuộc Hội thảo quốc tế về chủ đề “50 năm cải cách dân
chủ Tây Tạng", tác giả Đạt Bảo Thứ Nhân với bài phát biểu “Lý tính và tín ngưỡng thảo luận về sự biến đổi 50 năm tín ngưỡng Phật giáo người Tạng” [60] đưa ra quan
điểm: người Tạng theo Phật giáo đã có hơn 1000 năm, trước khi thực hiện cuộc cải
cách dân chủ và đề xuất đưa “Hiến pháp vào trong quản lý chùa chiền”; Nhà nước
cần phải chỉ đạo về phương châm, hành động cụ thể để tránh những ảnh hưởng gây
tác động xấu đến Phật giáo Tây Tạng, đến các hoạt động tôn giáo của các vị Lạt-ma
và dân chúng.
Một lĩnh vực nghiên cứu về “Công năng xã hội Phật giáo Tây Tạng” của tác giả
Quách Mẫn Lệ đã chỉ ra nguồn gốc Phật giáo Tây Tạng là từ Ấn Độ truyền vào Tây
Tạng và nó dung hòa với Phật giáo bản địa là Bôn giáo. Do đặc thù hoàn cảnh tự
nhiên ở vùng cao nguyên và bối cảnh văn hóa đã tạo nên hệ thống giá trị độc đáo
trong việc kế tục truyền ngôi kế vị các vị Lạt-ma [58].
Tại học viện Triết học tôn giáo (Trường Đại học dân tộc Trung ương), nghiên
cứu sinh Vương Á Hân với đề tài “Nghiên cứu du lịch văn hóa Phật giáo Tây Tạng
đương đại”, nội dung đề cập đến định hướng khu tự trị Tây Tạng phát triển du lịch
văn hóa Phật giáo và những thách thức đặt ra sau khi con đường sắt từ Thanh Hải lên
Tây Tạng sẽ làm phá vỡ cảnh quan môi trường sinh thái nơi đây và an ninh chính trị
sẽ không ổn định; với nguyên nhân chính là mức độ chênh lệch về giàu-nghèo giữa
người Hán và người Tạng, ngày càng một gia tăng. Đồng thời, luận án cũng đưa ta
những giải pháp bảo tồn và phát triển văn hóa Phật giáo Tây Tạng trong bối cảnh toàn

cầu hóa [56].

13


Nguồn tài liệu tiếng Anh: Có một số tài liệu bằng tiếng Anh viết về Tôn giáo
Trung Quốc nói chung và Phật giáo Tây Tạng nói riêng. Trong các công trình nghiên
cứu đã được xuất bản, cuốn “The Third Eye” (Tây Tạng huyền bí) của tác giả
Lobsang Rampa, xuất bản năm 1956 dưới dạng tự truyện của một vị Lạt-ma người
Tạng. Tác giả viết lại những trải nghiệm huyền bí ling thiêng của Phật giáo Tây Tạng
mà bản thân ông đã tích lũy được trong suốt quảng đời tu tập theo phái Lạt-ma giáo
[70]. Nguồn tài liệu này rất quý bởi do chính chủ thể văn hóa viết ra dưới dạng trải
nghiệm nên có giá trị tham khảo rất tốt, hầu hết những người nghiên cứu về Phật giáo
Tây Tạng đều không bỏ qua cuốn sách này.
Về lĩnh vực nghiên cứu chính sách đối với tôn giáo của nước Cộng hòa nhân
dân Trung Hoa, tác giả Kuznecov.Politikavot cho độc giả hiểu được bối cảnh những
năm 1960-1970, tôn giáo Trung Quốc không được phép tồn tại bởi do cuộc "cách
mạng văn hóa" đã biến quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo mà Hiến pháp đã công nhận
làm vật thí mạng cho nhiệm vụ tiêu diệt “bốn lỗi thời”và các phương châm của chính
sách đối với tôn giáo cũng được đề ra với nhiều hình thức khác nhau [74].
Tác giả Pitman.B.Potter với bài viết “Kiểm soát tín ngưỡng: điều tiết tôn giáo ở
Trung Quốc” đã xem xét việc điều tiết tôn giáo ở Trung Quốc, trong bối cảnh kỳ
vọng nhiều ở một sự thay đổi của nhà nước [76]. Chủ tịch Mao Trạch Đông sau khi
thực hiện cuộc "cách mạng văn hóa" đã nhận ra sai lầm về đường lối chỉ đạo chiến
lược, sau đó đưa ra một số quyết sách tạo điều kiện cho người dân được tự do tín
ngưỡng tôn giáo nhưng phải chịu dưới sự quản lý và điều tiết đối với các hành vi tôn
giáo của nhà nước. Ngoài ra, nội dung bài viết còn chỉ ra một số thách thức của việc
kiểm soát tín ngưỡng và điều tiết tôn giáo của Trung Quốc dẫn đến nguy cơ chiến
tranh tôn giáo có thể xảy ra ở một số vùng dân tộc thiểu số; trong đó có người Tạng
theo Phật giáo và người Hồi, người Mông Cổ theo Hồi giáo.

Công trình nghiên cứu chuyên biệt về người Tạng lưu vong ở nước ngoài của
đức Đạt Lại Lạt Ma “Freedom in Exile” (Tự do ở vùng lưu vong) đã cho người đọc
thấy tính chính trị và sắc tộc trong văn hóa Phật giáo Tây Tạng rất nổi trội [69].

14


Với những công trình tổng thuật nghiên cứu nêu trên cho thấy chủ đề về Phật
giáo Tây Tạng được rất nhiều các học giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu
trên cả ba nguồn tư liệu tiếng Việt, Trung, Anh, nhưng do khuôn khổ của luận văn
Thạc sĩ chúng tôi không thể tổng thuật nghiên cứu được hết.
6. Đóng góp của luận văn
- Luận văn được xem như một công trình chuyên khảo Đông phương học đầu
tiên về Phật giáo Mật tông Tây Tạng ở Trung Quốc so sánh với một số ngôi chùa Mật
tông ở Hà Nội (Việt Nam).
- Luận văn trực tiếp cung cấp một cách có hệ thống các tư liệu liên quan đến quá
trình du nhập Phật giáo Ấn Độ vào Tây Tạng và sự tương thích của nó với tín ngưỡng
Bôn giáo để tạo nên nét đặc trưng riêng của Phật giáo Mật tông Tây Tạng; tập quán
của người Tạng với Phật giáo; chính sách của nhà nước Trung Hoa với Phật giáo Tây
Tạng từ năm 1949 đến nay; chỉ ra nguyên nhân dẫn đến việc người Tạng bạo động
chống đối nhà nước, đòi ly khai Trung Hoa và những bài học kinh nghiệm về quản lý
tôn giáo của nhà nước này đối với Việt Nam.
- Đặc biệt, kết quả nghiên cứu của luận văn còn là cơ sở khoa học cho việc bổ
sung tư liệu hiện vật văn hóa của người Tạng hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng Dân tộc
học Việt Nam mà trước đây các đoàn nghiên cứu của Bảo tàng đi sưu tầm tại tỉnh
Vân Nam (Trung Quốc) chưa có điều kiện nghiên cứu kỹ.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, kết cấu của luận văn
gồm ba chương:
Chương 1: Quá trình hình thành và phát triển của Phật giáo Tây Tạng

Chương 2: Nhà nước Trung Quốc với Phật giáo Tây Tạng từ năm 1949 đến nay
Chương 3: Phật giáo Tây Tạng - Vấn đề đặt ra hiện nay với Trung Quốc và
những bài học kinh nghiệm.

15


Chương 1
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
CỦA PHẬT GIÁO TÂY TẠNG

1.1. Khu tự trị Tây Tạng
Nước Thổ Phồn xưa và Khu tự trị dân tộc Tây Tạng ngày nay, trải qua nhiều tên
gọi khác nhau: “Ô Ti Tạng” (Wu sizang), “Tây Phiên” (Xifan), “Đường Cổ Đặc”
(Tang gute), “Đồ Bác Đặc”(Tu baite),… với ý nghĩa là “cõi Tây phương tịnh độ”. Vị
trí Khu tự trị Tây Tạng từ 260o50' đến 36o53' Vĩ bắc và từ 78o25' đến 99o06' Kinh
đông, nằm ở giữa trên cao nguyên Thanh-Tạng, với độ cao trung bình là 4800 mét;
trong đó có 11 ngọn núi có độ cao trên 8000 mét so với mặt nước biển. Toàn bộ Tây
Tạng núi non trùng điệp, tuyết phủ quanh năm nên nó được mệnh danh là “nóc nhà
thế giới” hay “vùng đất của tuyết” [92]. Phía Bắc Tây Tạng tiếp giáp với cao nguyên
Pamia tỉnh Tân Cương và nối liền với dãy núi Côn Luân; phía Đông liền kề với tỉnh
Thanh Hải và Tây An; phía Nam giáp với dãy núi Hymalaya, Ấn Độ, Xích Kim,
Nepan; phía Tây giáp với Ca-sơ-mia, Pa-ki-xtan, Áp-ga-ni-xtan.
Khu tự trị dân tộc Tây Tạng là một đơn vị hành chính cấp tỉnh của Trung Quốc.
Từ năm 1912 đến năm 1950, khu vực Khu tự trị Tây Tạng do chính phủ Tây Tạng
quản lý và đứng đầu là đức Đạt Lại Lạt Ma. Ngày nay, khu vực Tây Tạng được phân
thuộc các tỉnh Thanh Hải, Cam Túc, Tứ Xuyên và Vân Nam. Năm 1950, quân giải
phóng nhân dân Trung Quốc cho quân đội lên cắm chốt khu vực Chamdo của Tây
Tạng.
Dưới sức ép của quân đội Trung Quốc, năm 1951, đức Đạt Lại Lạt Ma đã ký

một “Hiệp ước 17 điểm” với chính quyền Trung ương Trung Quốc nhằm xác nhận
chủ quyền của Trung Quốc tại Tây Tạng thuộc về lãnh thổ Trung Hoa [107]. Mặc dù
bản “Hiệp ước 17 điểm” có ghi chép là đảm bảo duy trì một chính quyền tự trị tự do
do đức Đạt Lại Lạt Ma đứng đầu lãnh đạo, nhưng đến năm 1955, một “Ủy ban soạn
thảo về khu tự trị Tây Tạng” được soạn ra để xúc tiến thành lập hệ thống song song
về hành chính theo đường lối cộng sản Trung Quốc. Trước sức ép của quân đội, cảnh
16


sát, cuối năm 1959, đức Đạt Lại Lạt Ma phải từ bỏ “Hiệp ước 17 điểm” và chạy sang
Ấn Độ lưu trú. Năm 1965, khu tự trị các dân tộc Tây Tạng được thành lập và từ thời
gian này trở đi, Tây Tạng trở thành một đơn vị hành chính cấp tỉnh.
Khu tự trị dân tộc Tây Tạng lấy thành phố La-sa làm trung tâm hoạt động tôn
giáo, văn hóa, kinh tế, chính trị của người dân địa phương. Khu tự trị này, bao gồm
nhiều hệ thống cấp “châu tự trị” nhỏ. Do vị trí của Tây Tạng nằm giữa trung tâm
Châu Á, nên nhà nước Trung Quốc coi Tây Tạng là vùng phên dậu bảo vệ biên cương
phía Tây Nam và nó có vị trí cực kỳ quan trọng về mặt quân sự, quốc phòng, an ninh,
chính trị của nhà nước và khu vực [18:265]. Diện tích tự nhiên của Tây Tạng là 120
vạn km2 [52:18]. Dân số là 3002166 người; trong đó dân tộc Tạng có 2716389 người,
chiếm 90.48% dân số toàn khu; người Hán chiếm 8,17% và tỷ lệ còn lại là các dân
tộc thiểu số khác [93]. Người Tạng thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng-Miến, ngữ hệ HánTạng. Các nhà nghiên cứu dân tộc học Trung Quốc, phân chia người Tạng thành ba
nhóm địa phương, gồm: nhóm Tạng Ba, Khang Ba và nhóm An Đa. Với nhóm Tạng
Ba là nhóm người Tạng bản địa của nhà nước “Thổ Phồn” xưa, họ là những người
nông dân ở lưu vực sông Nhã Lỗ Tạng Bố và những người dân du mục ở phía Bắc;
nhóm người Khang Ba địa bàn sinh sống chủ yếu là vùng núi Tây Khang và ở lưu
vực sông Nhã Lỗ Tạng Bố; nhóm người An Đa cư trú chủ yếu ở các tỉnh Cam Túc,
Thanh Hải, Tứ Xuyên và Vân Nam [47:27]. Theo GS.TS Trịnh Hiểu Vân chia sẻ: Xét
về mặt nhân chủng học, nhóm người An Đa có hình thể gần giống như người Mông
Cổ, nên các nhà dân tộc học Trung Quốc còn xếp nhóm người này vào nhóm TạngMông1. Song, các nhóm địa phương nêu trên lại đồng nhất về chữ viết. Từ năm 1949
đến nay, mọi giao dịch trong quản lý hành chính nhà nước đều dùng tiếng Trung,

tiếng Tạng chỉ dùng trong giao tiếp, giáo dục ở trường học và kinh sách nhà Phật.
1.2. Phật giáo Tây Tạng
Vài nét về lịch sử Phật giáo và mối quan hệ với Phật giáo Tây Tạng
Phỏng vấn GS.TS. Trịnh Hiểu Vân (phòng nghiên cứu Đông Nam Á, Viện Khoa học xã hội Vân Nam, Trung
Quốc), nhân tham dự Hội nghị quốc tế “Bảo tàng với di sản văn hóa lưu vực sông Mê Kông và sông Hằng
trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu” do Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam phối hợp với Viện Văn hóa nghệ
thuật Việt Nam tổ chức tại Huế), ngày 11-12/6/2012.
1

17


Theo nhiều nguồn tài liệu ghi chép, tên gọi Phật giáo mang tên người sáng lập là
Phật Đà. Đạo Phật chính là giáo lý mà Phật Đà thuyết giảng. Từ Phật, viết tắt của chữ
Phật Đà, dịch âm của chữ “Buddha” từ tiếng Phạn sang tiếng Hán và ở Việt Nam
cũng gọi là “Bụt” hay “ông Bụt”, dịch nguyên nghĩa là “bậc giác ngộ” hoặc “giác
giả” [34:479].
Theo Tiến sĩ Thích Đức Thiện, đạo Phật chia làm ba thời: thời quá khứ do Phật
A Di Đà làm giáo chủ, thời hiện tại là do Phật Thích Ca Mầu Ni và thời tương lai do
Phật Di Lặc sáng thế. Như vậy, Phật giáo ngày nay thuộc thời hiện tại, do Phật Thích
Ca làm giáo chủ. Tên Thích Ca Mầu Ni được gọi sau khi Ngài tu “khổ hạnh” dưới
gốc cây bồ đề và đã “giác ngộ” nên gọi là Phật, nghĩa là “Người giác ngộ chân lý”2.
Theo truyền thuyết, Phật Thích Ca Mầu Ni sinh vào ngày 15 tháng 4 âm lịch
năm 624 trước Công nguyên tại vườn Lâm tì ni, thành Kapilavastu. Tên thế danh của
Ngài trước khi xuất gia là Thái tử Cù Đàm Tất Đạt Đa, cha tên là Suddedana (Tịnh
Phạm Vương), mẹ là Ma Da (huyễn hóa) thuộc tầng lớp quý tộc. Hiện nay, về năm
sinh và năm mất của Phật vẫn chưa có sự thống nhất, với nhiều số liệu về thời gian
đưa ra khác nhau. Dựa theo cách giải thích của “Chúng thánh điển kỳ” do sư đồ cuối
cùng truyền lại trong “Thiện kiến Tì Bà Sa Luật” dịch ra từ thời Nam Tề (Trung
Quốc), Phật mất vào năm 485 trước Công nguyên và sinh vào năm 565 trước Công

nguyên. Các quốc gia theo Đạo Phật ở Đông Nam Á thì căn cứ vào “Miến Điện Phật
truyền” để tính thì Phật sinh năm 624 trước Công nguyên và mất 544 trước Công
nguyên. Cách giải thích này hiện nay đã được đại bộ phận các tín đồ Đạo Phật trên
thế giới chấp thuận [43: 222].
Sau khi tu thành Phật vào năm 520 trước Công nguyên, Ngài đã từng giảng
thuyết “Tứ đế”3 cho các vị Tỳ khưu và sau khi Ngài mất, các đệ tử của Ngài đã đem
đạo Phật truyền bá tới vùng phía đông của hạ lưu sông Hằng, phía nam tới bờ sông
Caođaveri; phía tây tới bờ biển A rập, phía bắc tới khu vực Thaiysiro. Ở thời kỳ
Phỏng vấn Đại đức Thích Đức Thiện (trụ trì chùa Phật Tích, xã Lạn Kha huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh), ngày
25/10/2013.
3
Thuyết “Tứ đế” (còn gọi là thuyết “Tứ Diệu đế” hay “Tứ Thánh đế”) là bốn chân lý cơ bản của giáo lý đạo
Phật, gồm: Khổ đế (chân lý về sự khổ), Tập khổ đế (chân lý về sự phát sinh của khổ), Diệt khổ đế (chân lý về
diệt khổ), Đạo đế (chân lý về con đường dẫn đến diệt khổ).
2

18


thống trị vua Asoka thuộc vương triều Maurya, đạo Phật bắt đầu phát triển tới các
vùng biên, bao gồm: phía đông tới Mianma, nam tới Xri Lanca, tây tới Xyri, Ai
Cập…, nhanh chóng trở thành tôn giáo mang tính thế giới. Sau khi vương triều Cusan
(Kushan) hưng khởi thì lại truyền đến Iran, các nơi ở trung tâm Châu Á, rồi qua con
đường tơ lụa truyền vào Trung Quốc, rồi từ Trung Quốc truyền vào các nước Việt
Nam, Triều Tiên, Nhật Bản [43: 236-237].
Khi hệ phái Đại thừa phát triển, các nhà tu hành của hệ phái này muốn phân biệt
sự cao thấp về mặt tư tưởng giáo lý nên đã gộp “Phật giáo Bộ phái” và “Phật giáo
nguyên thủy” thành Phật giáo Tiểu thừa. Do ảnh hưởng của sự phát triển Phật giáo
Đại thừa mà Phật giáo Tiểu thừa đã cải biến tư tưởng giáo lý của mình, được thể hiện
trong Hữu bộ, Kinh thượng bộ. Ban đầu, giáo nghĩa của Hữu bộ dựa trên cơ sở của bộ

“A Tỳ Đạt Ma Phát Trí Luận” do ngài Ca Đa Diên Ni Tử soạn làm cơ sở tu tập và về
sau từ bộ kinh này soạn ra bộ “A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận” nên giáo nghĩa của
Hữu bộ trở nên cố định và không phát triển thêm về mặt tư tưởng.
Vào giữa thế kỷ IV tây lịch, ngài Harivarman người Trung-Ấn, thuộc dòng Bà la
môn là người kết hợp nghiên cứu giáo nghĩa của “Đại chúng bộ” và giáo lý của “Đại
thừa Phật giáo”, với mục đích thống nhất giáo nghĩa của các bộ phái; từ đó ông soạn
ra bộ “Thành- Thực- Luận”. Nội dung của bộ này là căn cứ vào giáo lý “Tứ Thánh
đế” để chỉnh đốn lại giáo lý của Phật giáo [12: 136].
Phật giáo Đại thừa khởi nguyên tư tưởng từ khi Phật đang còn tại thế và sau 100
khi Phật mất, trong hệ thống giáo đoàn mới chia Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ. Tới
thời vua Asoka (A Dục Vương) thì tư tưởng của Phật giáo Đại thừa mới hình thành rõ
nét. Khởi nguyên của Phật giáo Đại thừa là vùng phía Nam Ấn Độ và được thành lập
vào sau kỷ nguyên Tây lịch. Phật giáo Đại thừa tuy thành lập trước thời đại Thánh
tăng Long Thọ, nhưng để tổ chức thành một hệ thống kinh điển mang tính tư tưởng
triết lý đạo Phật thì phải tận đến khi Thánh tăng Long Thọ Bồ tát khởi nghiệp, thông
qua việc chú giải kinh điển của phái Đại thừa, như các bộ “Đại Thừa Trí Độ Luận”,
“Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận”. Trong thời điểm này, nhiều vị cao tăng Ấn Độ đã đến
Trung Quốc tham gia dịch thuật kinh tạng của phái Đại thừa, như: năm 167 Tây lịch

19


có nhà sư Chi Lâu Ca Sấm; năm 220 có thánh tăng Ngô Chí Khiêm; năm 252 có
Khang Tăng Khải; năm 265 có Trúc Pháp Hộ tham gia dịch rất nhiều kinh điển Đại
thừa từ chữ Ấn Độ sang chữ Hán hoặc chú thích kinh tạng. Các vị thánh tăng nêu trên
đều sinh ra cùng thời với thánh tăng Long Thọ và đã phiên dịch rất nhiều kinh điển
Đại thừa sang chữ Hán [12:158]. Thánh tăng Long Thọ là vị tỵ tổ của Phật giáo Đại
thừa. Ngài sinh ra ở vùng phía Nam Ấn Độ, thuộc dòng dõi Bà la môn. Sau khi thánh
tăng Long Thọ xuất gia tu hành đã đến nhiều nơi truyền bá Phật giáo Đại thừa tới
công chúng và là người có công tổ chức cho các tăng ni học giáo lý Phật giáo Đại

thừa nên Ngài được coi như là Phật Thích Ca tái hiện.
Theo tiến sĩ Thích Đức Thiện: Các bộ tạng điển được dịch ở thời điểm này là bộ
kinh “Bát Nhã”, “Diệu Pháp Liên Hoa”, “Hoa Nghiêm”, “Thủ Lăng Nghiêm”; trong
đó bộ kinh “Bát Nhã” được thịnh hành sớm nhất và lưu truyền rộng rãi nhất. Lập
trường căn bản của bộ kinh “Bát Nhã là tư tưởng “không”, nhưng “không” ở đây
không phải là “chủ nghĩa hư vô” mà là “chân không diệu hữu”, nghĩa là dựa vào mục
tiêu “Bát Nhã” (trí tuệ) sẽ chứng được chính quán, vứt bỏ ngã chấp, tâm tưởng được
tự tại an lạc. Từ đó, chuyển biến cái giá trị căn bản của nhân sinh và đưa nhân sinh
đến với chân-thiện-mỹ, vượt qua được sự đối lập, như: khổ-vui, giàu-nghèo, mê-ngộ,
thiện-ác4.
Sang đến thể kỷ IV, sau khi Phật giáo Đại thừa hưng khởi, cao tăng Thế Thâm là
người đặt nền móng lý luận của phái tu thiền (Yoga) đến thăm Nepal và truyền bá
đạo pháp. Năm 405, cao tăng Pháp Hiển (người Trung Quốc) cũng đến Kapilavastu
hành hương về miền đất Phật. Sau khi đi chiêm ngưỡng Phật tích, tăng sư Pháp Hiển
trở về thuật lại cho các vị cao tăng nghe và mọi người lấy rất làm ngưỡng mộ và sùng
ái đạo Phật. Theo lời thỉnh cầu của cao tăng Trí Nghiêm (Trung Quốc), năm 408, nhà
sư Giác Hiền (Buddhabhadra) người Ấn Độ tới Trường An hoằng dương Phật Pháp
và dịch kinh Đại thừa sang tiếng Hán. Có thể nói, thời điểm này, việc hành trì tu theo
phái Đại thừa đã rất thịnh hành ở Nepal. Cùng với ngài Long Thọ là hai vị thánh tăng
Đế Bà và Bạt Đà La không ngừng truyền bá đạo pháp Đại thừa tới các nước.
Phỏng vấn Đại đức Thích Đức Thiện (trụ trì chùa Phật Tích, xã Lạn Kha, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh),
ngày 25/10/2013.
4

20


Đạo Phật Ấn Độ trong thời đại hoàng kim ở triều Licchevi phát triển rất rực rỡ,
dưới sự ủng hộ mạnh mẽ của vua Angsuphama (?-640). Ông đã đem con gái là
Buricơdi (Xích Tôn, tức công chúa Văn Thành) gả cho người Tây Tạng là Tùng Tán

Can Bố (Sron-btsan-sgampo, 569-650). Khi công chúa Xích Tôn tới Tây Tạng có
mang theo tượng Phật và văn vật; từ đó, khai thông đường giao thông từ Ấn Độ qua
Cát Mandu, Laxa tới Trường An (Trung Quốc). Năm 633, ngài Huyền Trang của
Trung Quốc hành hương tới Nepal. Theo tác giả Hoàng Tâm Xuyên, căn cứ vào hai
tấm bia dựng năm 725 và 749 (dưới thời vua Thấp Bà Đề Bà) đã cho xây chùa Man
Nạp Đề Bà và chùa Diên Ma. Hai ngôi chùa này đều là trung tâm hoạt động của Phật
giáo Ấn Độ lúc bấy giờ và đã có liên hệ về mặt tôn giáo với Tây Tạng và nội địa
Trung Quốc. Và trong thời kỳ này, hàng loạt các tăng nhân Trung Quốc và Triều Tiên
tới thăm và tu tập tại hai ngôi chùa này [43:264-265].
Từ thế kỷ VIII đến thế kỷ IX, Phật giáo Đại thừa ở Ấn Độ bị yếm thế, nhường vị
trí cho đạo Bà la môn lên ngôi nắm quyền về mặt tinh thần; nhưng ở những vùng núi
cao phía Bắc Nepal thì không bị ảnh hưởng nhiều. Về sau, đạo Phật và đạo Bà la môn
kết hợp lại với nhau tạo thành Mật giáo. Một số tín ngưỡng trong các phải chính của
Mật giáo là Kim Cương thừa, Dị Hành thừa, Thời Luận thừa, biểu hiện trong Phật
giáo mới ở Ấn Độ.
Vào giữa thế kỷ XI đến đầu thế kỷ XV, sau khi hình thành nhiều nhiều tông phái
của đạo Lạt-ma Tây Tạng đã có một số phái truyền đến Nepal, như: phái Tát Ca
truyền vào Nepal giữa thế kỷ XIII; phái Ninh Mã do Long Khâm Nhiễu Giáng Ba
(1308-1364) đã xây chùa tháp Nhĩ Ba Lâm tại Butan, rồi từ đây truyền vào Nepal;
phái Cát Cử truyền vào Nepal vào giữa thế kỷ XV [43:265-266].
Với những tư liệu dẫn chứng nêu trên cho ta thấy, Phật giáo Ấn Độ đã truyền
vào Trung Quốc từ rất sớm và các tông phái Phật giáo Trung Quốc cũng đã giao thoa
với Phật giáo Nepal. Điều này minh chứng cho văn hóa nói chung và tôn giáo nói
riêng luôn luôn có tính “mở” và rất dễ “tương thích”với mọi nền văn hóa, tộc người
để tồn tại và phát triển, tạo thành nét văn hóa Phật giáo đặc sắc riêng cho mỗi khu
vực, quốc gia.

21



Quá trình ra đời và phát triển của Phật giáo Tây Tạng
Phật giáo Ấn Độ truyền vào Tây Tạng lấy Đại thừa Mật giáo của thời kỳ Văn kỳ
làm nền tảng tư tưởng chủ yếu cho việc truyền bá đạo pháp. Song Đại thừa Mật giáo
cũng có sự giao thoa với Đại thừa Hiển giáo, tích lọc các tinh hoa của đạo Phật để
phổ cập tới dân chúng. Người có công truyền thừa vào thời kỳ đầu của Phật giáo Ấn
Độ vào Tây Tạng là thánh tăng An Huệ, Trần Na, Đức Quang, Giải Thoát Quân;
trong đó An Huệ là người truyền thừa Tỳ Đàm học; Trần Na truyền thừa Duy thức và
Nhân Minh học; Đức Quang truyền thừa Luật học; Giải Thoát Quân truyền thừa Bát
Nhã học [17: 42-44].
Trong Phật giáo Tây Tạng, phái Trung Quán của thánh tăng Long Thọ được các
vị Lạt-ma rất tôn sùng. Cùng với ngài Long Thọ là ngài Liên Hoa Sinh cũng là người
có ảnh hưởng cực kỳ to lớn đối với các vị Lạt-ma Tây Tạng ở các đời sau này về cả
tư tưởng triết lý đạo Phật đến việc chú giải kinh tạng và thực hành tu tập. Từ đó, sức
ảnh hưởng của Phật giáo Mật tông Ấn Độ đã phát triển rất mạnh ở Tây Tạng, khiến
cho 18 bộ phái Tiểu thừa ở vùng đất này đã dần dần yếm thế và chỉ còn một vài hệ
phái tồn tại với sức ảnh hưởng của nó tới xã hội không lớn nên đang tiến dần tới sự
suy vong. Trái lại, phái Du Già Mật và Vô Thượng Du Già Mật của ngài Long Thọ
lại phát triển rất mạnh, được người Tạng hoan nghênh đón nhận, vì thế mà hệ thống
Phật giáo Tây Tạng thuộc về Phật giáo Đại thừa thời Văn kỳ Ấn Độ.
Phật giáo Đại thừa Mật tông Ấn Độ có nhiều nét tương đồng với văn hóa Bôn
giáo, với tín ngưỡng chủ đạo là sùng bái thần quỷ và phù chú “vu thuật”. Do vậy,
Phật giáo Ấn Độ đã nhanh chóng hòa đồng và tương thích với nền văn hóa bản địa để
tồn tại và phát triển, tạo nên một nét văn hóa riêng của Phật giáo Tây Tạng khác với
Phật giáo Ấn Độ, Trung Hoa và một số nước.
Tương truyền Phật giáo bắt đầu truyền vào Tây Tạng ở vào giữa khoảng thế kỷ
thứ III, nhưng Phật giáo chính thức được truyền vào vùng đất này là dưới thời vua
Tùng Tán Can Bồ (Sron-btsan-sgampo, 569-650), tức thế kỷ VII [12:201], nhưng
định hình thành một tông phái chỉnh thể thì phải đến gần cuối thể kỷ VIII .

22



×