Tải bản đầy đủ (.doc) (106 trang)

Khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 và những ảnh hưởng tới kinh tế, thương mại các nước Châu Âu.doc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (666.99 KB, 106 trang )

MỤC LỤC
Danh mục viết tắt............................................................................iii
Danh mục bảng và hình...................................................................v
LỜI NÓI ĐẦU................................................................................vii
Chương 1. Khái quát về cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu
2008 và những tác động chính đến nền kinh tế thế giới ............... 1
1.1. Một số vấn đề về khủng hoảng tài chính ......................................... 1
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại về khủng hoảng tài chính ..................... 1
1.1.2. Khủng hoảng tài chính dưới góc nhìn của học thuyết kinh tế của Keynes
J.M ...................................................................................................................... 5
1.2. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 .................................. 11
1.2.1. Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu ........................... 11
1.2.2. Diễn biến của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008. ....................... 15
1.3. Những tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008
đến nền kinh tế thế giới ......................................................................... 22
1.3.1. Tác động tới thị trường chứng khoán và hệ thống ngân hàng ................... 22
1.3.2. Tác động tới thương mại quốc tế ............................................................. 24
1.3.3. Tác động tới đầu tư quốc tế ..................................................................... 26
1.3.4. Tác động tới tăng trưởng ......................................................................... 27
1.3.5. Tác động tới cơ cấu ngành ....................................................................... 29
1.3.6. Tác động tới các khoản nợ quốc gia ........................................................ 37
Chương 2. Nền kinh tế các nước Châu Âu dưới tác động của
khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 ........................................... 39
2.1. Bối cảnh nền kinh tế các nước Liên minh Châu Âu - EU trước
khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 ................................................... 39
2.1.1. Khái quát chung về lịch sử hình thành và các nước thành viên ................ 39
2.1.2. Tình hình kinh tế EU trước khủng hoảng 2008 ........................................ 40
2.2. Tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu tới kinh tế, thương
mại các nước EU ................................................................................... 42
2.2.1. Tác động tới thị trường chứng khoán và hệ thống ngân hàng ................... 42
- i -


2.2.2. Tác động tới thương mại quốc tế ............................................................. 46
2.2.3. Tác động tới đầu tư quốc tế ..................................................................... 48
2.2.4. Tác động tới tăng trưởng kinh tế ............................................................. 51
2.2.5. Tác động tới cơ cấu ngành ....................................................................... 55
2.2.6. Tác động tới vấn đề việc làm và thất nghiệp ............................................ 63
2.2.7. Tác động tới các khoản nợ quốc gia ........................................................ 67
Các chính sách đối phó với khủng hoảng tài chính toàn cầu của
các nước Châu Âu và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam ......... 74
2.3. Các biện pháp của các nước EU đối phó với khủng hoảng tài
chính toàn cầu ....................................................................................... 74
2.4. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam .............................................. 84
KẾT LUẬN......................................................................................91
TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................93
- ii -
Danh mục viết tắt
AUD Australian Dollar Đô la Úc
CDS Credit Default Swap Tín phiếu trao đổi các món nợ xấu
CIS Commonwealth of Independent States Cộng đồng các quốc gia độc lập
CNY Chinese Yuan Đồng Nhân Dân Tệ
CSTK Fiscal Policy Chính Sách Tài Khóa
CSTT Monetary Policy Chính Sách Tiền Tệ
EA-16 Eurozone/ Euro area Khu vực đồng tiền chung Châu Âu
EC European Commission Ủy ban Châu Âu
ECB European Central Bank Ngân hàng Trung ương Châu Âu
ECSC European Coal & Steel Community Cộng đồng than thép Châu Âu
EDA European Debt Agency Cơ quan nợ Châu Âu
EIB European Investment Bank Ngân hàng đầu tư Châu Âu
EU/EU-27 European Union Liên minh Châu Âu
EU-15 European Union
Liên minh Châu Âu gồm 15 thành

viên, trước ngày 01/04/2004
EU-25 European Union
Liên minh Châu Âu gồm 25 thành
viên, trước ngày 01/01/2007
EUR Euro Đồng Euro
Eurostat
Statistical Office of the European
Communities
Cơ quan thống kê Châu Âu
Euratom European community of atomic energy
Cộng đồng Năng lượng nguyên tử
Châu Âu
FAO Food and Agriculture Organization
Tổ chức Lương thực và Nông
nghiệp Liên Hợp Quốc
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
FED Federal Reserve System Cục dự trữ liên bang Mỹ
JPY Japanese Yen Đồng Yên Nhật
GBP British Pound Đồng Bảng Anh
GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
- iii -
ILO International Labor Organization Văn phòng lao động quốc tế
IMF Internation Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế
MBS Mortgage-Backed Security
Khoản vay thế chấp/Chứng khoán
đảm bảo bằng tài sản thế chấp
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTM Ngân hàng Thương mại
NHTW Ngân hàng Trung ương
OECD

Organization for Economic Cooperation
and Development
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh
tế
TTCK Thị Trường Chứng Khoán
UNCTAD
United Nations Conference on Trade
and Development
Hội nghị của Liên Hiệp Quốc về
Thương mại và Phát triển
USD United States Dollar Đô la Mỹ
VND Việt Nam Đồng
WB World Bank Ngân hàng Thế giới
WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế giới
- iv -
Danh mục bảng và hình
Bảng 1. Diễn biến thị trường chứng khoán toàn cầu .................22
Bảng 2. Tốc độ tăng trưởng của toàn thế giới và các khu vực . 27
Bảng 3. Xuất khẩu thương mại dịch vụ toàn thế giới năm 2008
............................................................................................................32
Bảng 4. Thương mại dịch vụ toàn thế giới theo từng khu vực. .33
Bảng 5. Tốc độ tăng trưởng hàng năm của EU, Mỹ và Nhật Bản
............................................................................................................41
Bảng 6. Sự thay đổi các chỉ số chứng khoán Châu Âu...............44
Bảng 7. Xuất nhập khẩu của EU trong 7 tháng đầu năm 2009.47
Bảng 8. Chỉ số thu nhập từ ngành nông nghiệp trong EU-27 và
EU-15.................................................................................................60
Bảng 9. Nợ chính phủ của EU-27 và EA-16.................................68
Hình 1. Sự suy giảm của thương mại thế giới trong cuộc khủng
hoảng 2008-2009..............................................................................25

Hình 2. Sự tăng trưởng trong sản xuất công nghiệp ..................29
Hình 3. Lượt khách du lịch quốc tế ..............................................31
Hình 4. Thương mại quốc tế về hàng hóa năm 2005 .................42
Hình 5. Tốc độ tăng trưởng GDP thực tế của EU, EA-16, Mỹ và
Nhật Bản...........................................................................................52
Hình 6. Tốc độ tăng trưởng GDP thực tế của các nước EU từ
2007 đến 2010...................................................................................54
- v -
Hình 7. Chỉ số tổng sản phẩm công nghiệp trong EU-27 và
EA-16 ................................................................................................55
Hình 8. Sự thay đổi về doanh thu các lĩnh vực dịch vụ tháng
9-10/2008 ..........................................................................................61
Hình 9. Sự thay đổi doanh thu trong ngành dịch vụ ở một số
nước thành viên EU, tháng 11/2008 .............................................62
Hình 10. Sự thay đổi việc làm trong EU......................................64
Hình 11. Nợ công của các nước thành viên EU..........................69
- vi -
LỜI NÓI ĐẦU
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng tài
chính Mỹ từ cuối năm 2007, lan rộng ra các nước Châu Âu và ảnh hưởng sâu rộng
đến nền kinh tế toàn thế giới. Năm 2008 trôi qua với nhiều sự kiện kinh tế đáng chú
ý, tiêu biểu nhất là nền kinh tế thế giới trải qua 3 cú sốc liên tiếp: khủng hoảng lương
thực, khủng hoảng dầu mỏ và nổi bật là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Tình
hình phát triển kinh tế của thế giới gặp nhiều khó khăn và thử thách dưới những diễn
biến phức tạp
và những tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng. Bước sang năm 2009,
cuộc khủng hoảng tài chính kéo theo suy thoái kinh tế làm cho nền kinh tế các nước
càng trở nên trầm trọng. Vì vậy vấn đề về khủng hoảng tài chính toàn cầu đã và đang
là đề tài thu hút được rất nhiều sự quan tâm, chú ý không chỉ của các chuyên gia kinh
tế mà của mỗi cá nhân trên toàn thế giới bởi chúng ta là những người đang phải gánh

chịu những hậu quả do khủng hoảng tài chính toàn cầu gây ra. Châu Âu là một khu
vực quan trọng trên bản đồ kinh tế của thế giới với những nền kinh tế lớn như Đức,
Anh, Pháp, đặc biệt là Liên minh Châu Âu. Năm 2007, Tổng sản phẩm quốc nội
(GDP) của toàn Châu Âu đạt 20.103 tỷ USD, chiếm 36% GDP của toàn thế giới.
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu xảy ra tác động mạnh mẽ đến mọi khía cạnh
của nền kinh tế Châu Âu từ thị trường chứng khoán, hệ thống ngân hàng đến vấn đề
tăng trưởng kinh tế. Để đối phó với tình hình đó Chính phủ, Ngân hàng Thương mại
các nước và các tổ chức khác đã phải hết sức khẩn trương thực hiện các biện pháp
can thiệp, giải cứu thị trường như liên tục giảm lãi suất, tung ra các gói giải pháp kích
thích tăng trưởng kinh tế và hỗ trợ tài chính nhằm đảm bảo lòng tin của công chúng,
thị trường và đã đạt được những kết quả khả quan. Do đó, việc tìm hiểu tác động của
cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đến nền kinh tế các nước Châu Âu là hết sức
quan trọng. Bên cạnh đó các giải pháp đối phó với khủng hoảng kinh tế của các nước
Châu Âu sẽ là những bài học quý báu cho nền kinh tế Việt Nam.
- vii -
Nắm bắt được tầm quan trọng của vấn đề, tôi đã chọn đề tài khóa luận mang
tên “Khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 và những ảnh hưởng tới kinh tế,
thương mại các nước Châu Âu”.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là phân tích nguyên nhân, diễn biến của cuộc
khủng hoảng tài chính toàn cầu; từ đó đưa ra một bức tranh toàn cảnh về các tác động
của cuộc khủng hoảng này tới nền kinh tế, thương mại của các nước Châu Âu. Bên
cạnh đó, khóa luận cũng sẽ giới thiệu các giải pháp và kinh nghiệm của các nước
Châu Âu áp dụng để đối phó với cuộc đại khủng hoảng này, từ đó rút ra bài học kinh
nghiệm cho Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu là các tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn
cầu đến nền kinh tế, thương mại các nước thuộc liên minh Châu Âu và các biện pháp
mà các nước này áp dụng để khắc phục hậu quả từ cuộc đại khủng hoảng kinh tế.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài về mặt thời gian là giai đoạn từ năm 2007,
thời điểm bắt đầu cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ và sau đó lan sang các quốc gia
khác cho đến nay; về mặt không gian, khóa luận tập trung nghiên cứu tác động của

khủng hoảng tài chính toàn cầu tới các nước thành viên của Liên minh Châu Âu – EU
(27 nước).
Phương pháp nghiên cứu của khóa luận là thu thập, tổng hợp và sử dụng tài
liệu và số liệu thứ cấp, sau đó phân tích, đáng giá, so sánh số liệu thống kê. Bên cạnh
đó khóa luận cũng sử dụng phương pháp phân tích đi từ chung đến riêng, nghiên cứu
lý luận kết hợp tổng hợp từ thực tiễn.
Bố cục của khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 và những
tác động chính đến nền kinh tế thế giới.
Chương 2: Nền kinh tế các nước Châu Âu dưới tác động của khủng hoảng tài
chính toàn cầu 2008.
Chương 3: Các chính sách đối phó với khủng hoảng tài chính toàn cầu của các
nước Châu Âu và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
- viii -
Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy giáo TS. Vũ Hoàng Nam –
Trưởng khoa Hợp tác quốc tế trường đại học Ngoại Thương, đã hướng dẫn chỉ bảo
tận tình để tôi có thể hoàn thành khóa luận này. Đồng thời, tôi cũng xin cảm ơn sự
chỉ bảo dạy dỗ của tất cả các thầy cô giáo trường đại học Ngoại Thương. Tuy nhiên,
mặc dù đã cố gắng hết sức tìm tòi và khai thác tài liệu nhưng do kiến thức chuyên
môn còn hạn chế và thời gian viết khóa luận ngắn nên chắc chắn khóa luận khó tránh
khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được sự góp ý, phê bình của các thầy cô và
các bạn để bài khóa luận tốt nghiệp được hoàn chỉnh hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 12 tháng 5 năm 2010
Sinh viên thực hiện
Trần Việt Anh
- ix -

Chương 1. Khái quát về cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 và những tác động chính
đến nền kinh tế thế giới

Chương 1.Khái quát về cuộc khủng hoảng tài chính toàn
cầu 2008 và những tác động chính đến nền kinh tế thế
giới
1.1.Một số vấn đề về khủng hoảng tài chính
1.1.1.Khái niệm, đặc điểm và phân loại về khủng hoảng tài chính
1.1.1.1.Khái niệm khủng hoảng tài chính:
Đầu tiên cần làm rõ khái niệm tài chính, tài chính được hiểu theo nghĩa rộng là
tập hợp của các quỹ tiền tệ được gọi là các nguồn tài chính, các mối quan hệ giữa
chúng và quá trình phân phối các nguồn tài chính nhằm đáp ứng nhu cầu của các chủ
thể kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường luôn có sự luân chuyển giữa các luồng vốn
tiền tệ của tất cả các chủ thể trong xã hội mà giữa chúng có mối quan hệ rất chặt chẽ,
phụ thuộc và hỗ trợ lẫn nhau tạo nên một hệ thống tài chính (Kindleberger, CP &
Aliber, R 2005)
Từ đó tìm hiểu khái niệm khủng hoảng tài chính. Khủng hoảng và khủng
hoảng tài chính không phải là vấn đề mới trong kinh tế học, mà là một trong những
vấn đề được sự quan tâm rất lớn của các nhà nghiên cứu kinh tế từ trước đến nay.
Các nhà nghiên cứu kinh tế đã đưa ra rất nhiều lý thuyết khác nhau, cách hiểu và lý
giải khác nhau về khủng hoảng tài chính. Từ đó cũng đưa ra rất nhiều các quan điểm
khác nhau trong việc điều tiết thị trường, nhận biết khủng hoảng và hạn chế những
tác động của nó. Do vậy, hiện nay có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về khủng
hoảng tài chính.
Theo Concise Oxford Dictionary, 2006, Khủng hoảng là thời kỳ cực kỳ khó
khăn hoặc nguy hiểm. Từ gốc Hilap là Krisis. Khủng hoảng tài chính là khủng hoảng
trong lĩnh vực tài chính và thị trường tài chính.
Theo trang web BusinessDictionary.com, khủng hoảng tài chính là tình trạng
cầu tiền vượt quá cung tiền. Tức là tính thanh khoản bị giảm đi nhanh chóng, bởi tiền
bị rút ồ ạt khỏi các ngân hàng (tháo chạy), và buộc các ngân hàng phải bán các tài sản
đầu tư khác để bù đắp khoản thiếu hụt hoặc phá sản, kéo theo suy thoái.
- 1 -
Chương 1. Khái quát về cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 và những tác động chính

đến nền kinh tế thế giới
Theo nhà kinh tế học người Mỹ Federic Mishkin thì khủng hoảng tài chính là
sự đổ vỡ thị trường tài chính mà trong đó những sự lựa chọn nghịch và rủi ro đạo đức
trở nên tồi tệ hơn, làm cho thị trường không có khả năng hướng 1 cách hiệu quả các
quỹ đến những người có cơ hội đầu tư hiệu quả nhất.
Tóm lại, khủng hoảng tài chính chính được hiểu là sự thất bại của một hay
một số nhân tố của nền kinh tế trong việc đáp ứng đầy đủ bổn phận, nghĩa vụ tài
chính của mình. Hay nói cách khác khủng hoảng tài chính là tình trạng tài chính
(quỹ) mất cân đối nghiêm trọng có thể dẫn đến sụp đổ quỹ. Khủng hoảng tài chính
xảy ra khi nhu cầu tiền vượt quá so với nguồn cung. Nhu cầu về tiền mặt của người
dân hay các nhà đầu tư nước ngoài đã gây sức ép cho hệ thống ngân hàng và thị
trường tài chính khiến cho hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính có thể sụp đổ.
Trong nền kinh tế hiện tại, sự lan rộng của khủng hoảng tài chính trong một thời gian
dài kéo theo tình trạng suy thoái kinh tế (Laeven, L & Valencia, F 2008).
1.1.1.2.Đặc điểm
Khủng hoảng tài chính thường có những biểu hiện cơ bản sau:
Thứ nhất, có hiện tượng khan hiếm tín dụng, cầu về dự trữ quá lớn khiến cho
ngân hàng không thể cùng một lúc đáp ứng nhu cầu của tất cả mọi người. Giá trị tài
sản của ngân hàng giảm mạnh dẫn đến mất khả năng trả nợ. Điều này dẫn đến một số
ngân hàng sụp đổ và xuất hiện tình trạng đổ xô đến các ngân hàng, các “bong bóng”
giá tài sản nổ tung, sự sụt giá ban đầu trong các giá trị tài sản buộc các ngân hàng
phải bán tiếp tài sản và làm giá tài sản giảm mạnh hơn nữa. Các khoản tín dụng hình
thành trong thời điểm bùng nổ thì được mang ra bán tháo.
Thứ hai, các ngân hàng đầu tư nước ngoài ồ ạt rút vốn.
Thứ ba, toàn bộ bộ máy tài chính – tín dụng quốc gia lâm vào tình trạng tồi tệ:
sự phá vỡ hệ thống thanh toán, tài chính nhà nước; sự phá sản của các định chế tài
chính trung gian; phá giá đồng nội tệ, áp lực lạm phát.
Thứ tư, cán cân thanh toán, cán cân mậu dịch, ngân sách nhà nước bị mất cân
bằng nghiêm trọng.
- 2 -

Chương 1. Khái quát về cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 và những tác động chính
đến nền kinh tế thế giới
Thứ năm, vay nợ nước ngoài tăng nhanh và có thể kéo tới suy thoái kinh tế
trầm trọng.
Ngoài những biểu hiện trên khủng hoảng tài chính còn được thể hiện qua
những tác động tiêu cực khác đến nền kinh tế của các nước, gây ra tăng trưởng kinh
tế chậm và có thể kéo theo suy thoái kinh tế ở nhiều nơi. Bên cạnh đó dự báo quan
trọng trước một cuộc khủng hoảng tài chính là khi một nền kinh tế tăng trưởng quá
nóng và có một tỷ giá hối đoái quá yếu hoặc quá mạnh. Điều này được lý giải là do
đẩy sự đầu tư vào thị trường chứng khoán, bất động sản, thu hút đầu tư nước ngoài,
đồng thời lượng tiền được đầu tư vào những nơi sinh lợi cao và đầu cơ tăng nhanh
của các nhà đầu tư.
1.1.1.3.Phân loại
Có nhiều cách để phân loại khủng hoảng tài chính, song cơ bản khủng hoảng
tài chính được chia ra làm các loại chính như sau:
Thứ nhất là khủng hoảng ngân hàng. Ngân hàng là trung gian tài chính lớn
nhất và phổ biến nhất hiện nay với chức năng nhận tiền gửi, huy động vốn để cho vay
lại. Các ngân hàng hoạt động cả trong lĩnh vực tín dụng ngắn hạn, trung hạn và dài
hạn, ngoài ra còn cung cấp các dịch vụ thanh toán qua ngân hàng và buôn bán ngoại
tệ. Vì vậy rủi ro là rất lớn xét cả về mặt số lượng, thời hạn cũng như chủng loại tiền.
Khủng hoảng ngân hàng là hiện tượng xảy ra khi các ngân hàng can thiệp quá sâu
hoặc cho doanh nghiệp vay vốn vào những hoạt động kinh doanh có rủi ro cao như
bất động sản, chứng khoán, vốn tín dụng được đầu tư quá nhiều cho lĩnh vực nhiều
rủi ro dẫn tới tình trạng mất cân đối tài chính kinh tế. Tỉ lệ nợ xấu quá lớn, những
khoản cho vay không trả được tăng nhanh khiến cho hoạt động kinh doanh tiền tệ bị
trì trệ, tất cả hoặc hầu hết nguồn vốn của hệ thống ngân hàng trong tình trạng kiệt quệ
và có thể dẫn tới nguy cơ phá sản. Kèm theo đó có thể là sự giảm đáng kể giá trị tài
sản (như giá trị thực của bất động sản) ngay trước khủng hoảng, sự tăng nhanh lãi
suất thật và sự giảm dần hoặc đảo ngược trong dòng vốn. Trong một vài trường hợp,
khủng hoảng ngân hàng là do hiện tượng đột ngột rút tiền gửi của những người gửi

tiền do mất lòng tin vào khả năng thanh toán của tổ chức tín dụng và lo lắng cho tài
- 3 -
Chương 1. Khái quát về cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 và những tác động chính
đến nền kinh tế thế giới
sản của mình gửi ở đó (Laeven, L & Valencia, F 2008). Tại một thởi điểm nhất định,
một tổ chức tín dụng thường không giữ nhiều tiền mặt và không thể ngay lập tức thu
hồi các khoản cho vay của mình nên khi người gửi tiền đổ xô đến rút tiền thì dẫn đến
hiện tượng khan hiếm tín dụng, tổ chức này trở nên mất khả năng thanh toán thực sự
và thường phải ngừng giao dịch, thậm chí có thể phải tuyên bố phá sản. Nhiều tổ
chức tín dụng lâm vào tình trạng như vậy sẽ dẫn tới khủng hoảng cả hệ thống ngân
hàng.
Thứ hai là khủng hoảng tiền tệ. Theo nghĩa hẹp, khủng hoảng tài chính gắn
liền với chế độ tỷ giá hối đoái cố định, khi nền kinh tế đi xuống hoặc vấp phải những
làn sóng đầu cơ cực mạnh sẽ phải điều chỉnh ở trong nước chuyển sang chế độ tỷ giá
hối đoái thả nổi. Mức độ tỷ giá thả nổi mà thị tường qui định thường cao hơn so với
tỷ giá cố định mà chính phủ cố gắng duy trì rất nhiều. Mức biên độ tỷ giá hối đoái
này thường rất khó kiểm soát, hiện tượng này chính là khủng hoảng tiền tệ. Theo
nghĩa rộng, khủng hoảng tiền tệ chính là hiện tượng mà khi đó mức độ biến động của
tỷ giá hối đoái vượt quá phạm vi một quốc gia có thể gánh chịu. Khủng hoảng tiền tệ
còn có thể hiểu đơn giản là hiện tượng giá trị đối ngoại của nội tệ bị suy giảm một
cách nghiêm trọng và nhanh chóng. Chính phủ gặp rất nhiều khó khăn để kiểm soát
tỷ giá hối đoái và khi Ngân hàng Trung ương (NHTW) cố gắng can thiệp tỷ giá để
bảo vệ giá trị đồng nội tệ thì dự trữ ngoại hối của quốc gia bị sụt giảm nhanh chóng
trên một quy mô lớn (Burnside, C et al. 2008).
Thứ ba là khủng hoảng nợ. Khủng hoảng nợ là trường hợp quốc gia vay nợ
nước ngoài quá nhiều và sự dụng không hiệu quả nên không trả được nợ đúng hạn,
lâm vào khủng hoảng nợ buộc phải xin hoãn nợ, xóa nợ hoặc tuyên bố vỡ nợ. Khủng
hoảng nợ thường xảy ra ở một số nước đang phát triển. Có rất nhiều chỉ tiêu đánh giá
khả năng thanh toán của một quốc gia trong đó chỉ tiêu quan trọng nhất là chỉ tiêu tỷ
lệ thanh toán nợ nước ngoài. Chỉ tiêu này thường nằm dưới 20%, nếu vượt quá 20%

thì chứng tỏ lượng vốn vay nước ngoài của một quốc gia là rất lớn và dễ dẫn đến việc
không thể trả được nợ và lâm vào khủng hoảng nợ.
Thứ tư là khủng hoảng thị trường tài chính. Khủng hoảng thị trường tài chính
là sự rối loạn nặng nề trên thị trường tài chính vốn, có thể dẫn đễn sự sụp đổ nghiêm
- 4 -
Chương 1. Khái quát về cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 và những tác động chính
đến nền kinh tế thế giới
trọng một cách đột biến do sự suy giảm khả năng thực hiện có hiệu quả chức năng
của thị trường. Nó có thể có những ảnh hưởng bất lợi trên diện rộng cho nền kinh tế
thật như: ồ ạt rút tiền gửi từ các Ngân hàng Thương mại (NHTM), thu hẹp đáng kể
quy mô tín dụng, tăng số vụ phá sản. Giá chứng khoán biến động mạnh (tuột dốc hay
leo thang quá nhanh) ngoài tầm kiểm soát hay do hiệu ứng “domino” làm cho chứng
khoán bị bán đổ bán tháo, thu hẹp phát hành. Khủng hoảng tài chính xảy ra khi thị
trường bị “đông cứng” vì không có giao dịch, gây ra sự mất cân đối giữa tiền (chứng
khoán) vào và ra Thị Trường Chứng Khoán (TTCK) (quỹ). Một cuộc khủng hoảng
thị trường tài chính có thể liên quan đến một cuộc khủng hoảng tiền tệ, nhưng một
cuộc khủng hoảng tiền tệ thì không cần thiết dẫn đến sự sụp đổ một cách trầm trọng
hệ thống thanh toán trong thị trường nội địa và như vậy nó không lớn bằng một cuộc
khủng hoảng thị trường tài chính. Khủng hoảng thị trường tài chính không nhất thiết
đi đôi với khủng hoảng hệ thống tài chính – tín dụng quốc gia. Tình trạng trở nên đặc
biệt nghiêm trọng khi cả hai dạng khủng hoảng xảy ra cùng một lúc và chuyển thành
khủng hoảng niềm tin vào chính quyền.
1.1.2.Khủng hoảng tài chính dưới góc nhìn của học thuyết kinh tế của
Keynes J.M
Trong lịch sử phát triển của nền kinh tế thế giới đã xảy ra khá nhiều cuộc
khủng hoảng, trong đó không thể không nhắc đến cuộc đại khủng hoảng 1929 –
1933, bắt đầu sau sự sụp đổ của thị trường chứng khoán Wall Street vào ngày 29
tháng 10 năm 1929 (còn được biết đến với cái tên: ngày Thứ Ba đen tối). Nó bắt đầu
ở Hoa Kỳ và nhanh chóng lan rộng ra toàn Châu Âu và khắp các nơi trên thế giới,
phá hủy cả các nước phát triển. Một lý thuyết kinh tế chịu ảnh hưởng sâu sắc từ cuộc

đại khủng hoảng này và cũng chính là một lập luận quan trọng mô tả chi tiết cuộc
khủng hoảng là lý thuyết kinh tế học của Keynes. Những giải pháp của ông đã giúp
nước Mỹ thoát ra được khỏi cuộc đại khủng hoảng những năm 1930s này. Vậy
Keynes là ai? Lý thuyết của ông có ảnh hưởng ra sao? Nó có tầm quan trọng như thế
nào?
- 5 -
Chương 1. Khái quát về cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 và những tác động chính
đến nền kinh tế thế giới
1.1.2.1.Lý thuyết kinh tế học của Keynes
John Maynard Keynes – được mệnh danh là người thầy của nền kinh tế học
hiện đại, là một nhà kinh tế học người Anh (1883 – 1946), xuất thân từ tầng lớp
thượng lưu, tiểu sử của ông có rất nhiều mặt nổi bật với những ý tưởng hình thành
nên Kinh tế học Keynes – một trong những lý thuyết về kinh tế có ảnh hưởng lớn trên
toàn thế giới và có tầm ảnh hưởng lớn nhất đến kinh tế học hiện đại thế kỷ 20.
Trong giai đoạn trước khi cuộc đại khủng hoảng lịch sử 1929 nổ ra, theo tất cả
các mô hình cổ điển và tân cổ điển về kinh tế thì thị trường tự giải quyết tất cả các
vấn đề của nó và tự điều tiết, chính phủ có vai trò gần như bằng không trong việc
điều tiết cũng như quản lý thị trường. Mô hình kinh tế điển hình trong giai đoạn này
là mô hình kinh tế học của Adam Smith (1723 – 1790). Theo lý thuyết bàn tay vô
hình của Adam Smith thì tự người lao động biết rõ nhất cái gì có lợi cho họ, do vậy
nếu không có bàn tay của Chính phủ kiểm soát, người lao động sẽ thu được lợi nhuận
từ đó thúc đẩy sản xuất hàng hóa và thông qua thị trường tự do này lợi ích cá nhân sẽ
gắn với lợi ích xã hội. Ông cho rằng: “Mọi cá nhân không có ý thức thúc đẩy lợi ích
công cộng mà chỉ nhằm vào lợi ích của riêng mình, người đó được bàn tay vô hình
dẫn dắt để phục vụ một mục đích không nằm trong ý định của mình”. Rồi trên cơ cở
đó, ông đưa ra đánh giá về vai trò của chính phủ: “Bạn nghĩ rằng bạn đang giúp cho
hệ thống kinh tế bằng những quản lý đầy ý định tốt đẹp và bằng những hành động
can thiệp của mình. Không phải vậy đâu, hãy để mặc, hãy để mọi sự việc xảy ra,
đừng nhúng tay vào. Dầu nhờn của lợi ích cá nhân sẽ làm cho các bánh xe kinh tế
hoạt động gần như kỳ diệu. Không ai cần kế hoạch, không cần quy tắc, thị trường sẽ

giải quyết tất cả”. Theo lý thuyết này, Adam Smith đánh giá chính phủ hoàn toàn
không có vai trò trong việc giải quyết các vấn đề của thị trường. (Vũ Thị Ngọc
Phùng, Giáo trình Kinh tế phát triển, 2006).
Lý thuyết “Bàn tay vô hình” của Adam Smith và các học thuyết kinh tế “thị
trường tự do” của trường phái cổ điển và tân cổ điển bị cho là thiếu tính xác đáng,
kém hiệu quả, không đảm bảo cho nền kinh tế phát triển lành mạnh khi cuộc đại
khủng hoảng 1929 – 1933 nổ ra. Điều này đòi hỏi phải có một học thuyết kinh tế mới
có khả năng thích ứng với tình hình mới và khắc phục những nhược điểm của các học
- 6 -
Chương 1. Khái quát về cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 và những tác động chính
đến nền kinh tế thế giới
thuyết cũ, bên cạnh đó cần tìm ra nguyên nhân cũng như giải pháp để vượt qua khó
khăn hiện tại. Cuộc đại khủng hoảng những năm 1930s này có ảnh hưởng hết sức sâu
sắc tới suy nghĩ và tư duy kinh tế học của Keynes. Nếu như trước đây, các nhà kinh
tế học cổ điển và tân cổ điển cho rằng, mỗi khi xảy ra khủng hoảng kinh tế, giá cả và
tiền công giảm đi và các nhà sản xuất sẽ có động lực tăng thuê mướn lao động và mở
rộng sản xuất, nhờ đó nền kinh tế sẽ phục hồi thì Keynes lại có cái nhìn rất khác. Ông
quan sát cuộc đại khủng hoảng, nghiên cứu, phân tích và cho rằng: tiền công không
hề giảm đi cũng như việc làm không tăng và sản xuất mãi không hồi phục được. Từ
đó, ông cho rằng thị trường không hoàn hảo như các nhà kinh tế trước đây từng nghĩ.
Theo Keynes, để khắc phục được tình trạng khủng hoảng kinh tế thì vai trò của chính
phủ trong việc điều tiết và quản lý thị trường là hết sức quan trọng. Và học thuyết
kinh tế của Keynes ra đời.
1.1.2.2.Học thuyết kinh tế của Keynes
Trong học thuyết của mình, Keynes đã nêu ra nguyên nhân làm sụt giảm nền
kinh tế một cách hết sức đơn giản. Sự giảm sút của nền kinh tế được giải thích như
sau:
Khi nền kinh tế đang ở thời kỳ ổn định, lượng việc làm cho công nhân sẽ ở
mức cao và vì thế, người tiêu dùng cũng sẽ có xu hướng chi tiêu bình thường. Ở đây
có sự hiện diện của một quá trình tuần hoàn, trao đổi qua lại của tiền tệ trong nền

kinh tế, như tiền tiêu dùng của một người trở thành tiền thu nhập của người khác và
ngược lại tiền tiêu dùng của người khác sẽ là tiền thu nhập lại của một người. Nhưng
khi có một động cơ hay lý do nào đó làm cho người tiêu dùng mất đi sự tin tưởng vào
thị trường, khi người tiêu dùng lo sợ bất ổn kinh tế, họ sẽ cố gắng giảm bớt mọi
khoản chi tiêu. Nhưng do khoản chi tiêu của một người cũng là một phần thu nhập
của người khác, nên nếu một người ngừng chi tiêu, nó sẽ ảnh hưởng xấu đến mức thu
nhập của người khác. Người khác sẽ rơi vào một tình thế khó xử và bắt đầu giảm
mức chi tiêu cá nhân. Khi đó nó lại tác động xấu lại một người. Hiện tượng “hình
vòng luẩn quẩn” xảy ra, mọi người càng tiết kiệm chi tiêu trong thời kỳ khó khăn thì
nền kinh tế càng trở nên nghiêm trọng khi tất cả đều giảm chi tiêu. Điều này cũng
- 7 -
Chương 1. Khái quát về cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 và những tác động chính
đến nền kinh tế thế giới
được thể hiện ở một số luận điểm chính mà Keynes trình bày trong cuốn Lý thuyết
tổng quát được trích dẫn ngay sau đây.
Trước hết, tiền công có tính cứng nhắc. Mức tiền công được thỏa thuận giữa
chủ và thợ là tiền công danh nghĩa chứ không phải tiền công thực tế và mức tiền công
này được ghi trong hợp đồng, được công đoàn và được luật pháp bảo vệ. Do đó, mức
tiền công không phải là linh hoạt như giới học thuật kinh tế vẫn giả định. Giới chủ
chỉ tăng thuê mướn lao động khi tiền công thực tế giảm; mà muốn thế thì tiền công
danh nghĩa phải giảm nhiều hơn mức giá chung của nền kinh tế. Song nếu vậy, thì
cầu tiêu dùng sẽ giảm, kéo theo tổng cầu giảm. Đến lượt nó, tổng cầu giảm lại làm
tổng doanh số giảm, lợi nhuận giảm làm triệt tiêu động lực đầu tư mở rộng sản xuất -
việc cần thiết để thoát khỏi suy thoái.
Bên cạnh đó, kỳ vọng về giảm tiền công và giá cả sẽ khiến người ta giảm chi
tiêu do nghĩ rằng tiền trong túi của mình đang tăng giá trị. Cầu tiêu dùng và tổng cầu
giảm. Cứ thế, vòng xoáy đi xuống của nền kinh tế hình thành.
Đồng thời, thắt chặt chi tiêu trong thời kỳ khủng hoảng chỉ làm cho khủng
hoảng thêm trầm trọng. Khi kinh tế suy thoái, chính phủ nên đẩy mạnh chi tiêu nhằm
tăng tổng cầu như một chính sách chống suy thoái. Và nói chung, chính phủ nên tích

cực sử dụng các chính sách chống chu kỳ, chứ đừng nên trông mong vào sự tự điều
chỉnh của thị trường (Vũ Thị Ngọc Phùng, Giáo trình Kinh tế phát triển, 2006).
Keynes cũng nêu ra giải pháp để giải quyết cho tình trạng khó khăn này là nhà
nước phải áp dụng hiệu quả chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong hệ thống
những chính sách kinh tế vĩ mô. Đây chính là hai chính sách then chốt, là chiếc chìa
khóa có tác động nhanh và mạnh nhất trong việc giải quyết những vấn đề của nền
kinh tế.
Thứ nhất là chính sách tài khóa (CSTK). Đó là những chính sách liên quan
đến những điều chỉnh trong các hoạt động thu – chi ngân sách của chính phủ, cơ cấu
thu chi ngân sách chính phủ và quan hệ giữa chúng với nhau nhằm hướng nền kinh tế
tới mục tiêu vĩ mô mong muốn.
- 8 -
Chương 1. Khái quát về cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 và những tác động chính
đến nền kinh tế thế giới
Các công cụ chủ yếu của CSTK là chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư của Chính
phủ. Khoản chi tiêu này có được từ các loại thuế trực thu, gián thu và các khoản thu
khác. Ngân sách chủ yếu có được từ thuế và các khoản chuyển nhượng mang lại. Vai
trò quan trọng nhất của các chính sách thuế ở các nước đang phát triển là huy động
các nguồn tài trợ cho chi tiêu công cộng. Bên cạnh đó, thuế còn có chức năng điều
tiết vĩ mô đối với nền kinh tế, nó không chỉ hạn chế sức mua của người đóng thuế
nhằm dành những nguồn lực đó cho nhà nước, phân bổ lại thu nhập giữa các tầng lớp
dân cư mà còn là công cụ đắc lực để điều phối các nguồn và luồng đầu tư sao cho
hiệu quả, gián tiếp tác động cơ cấu lại sản xuất.
CSTK có thể nói là một trong những chính sách quan trọng trong việc thực
hiện được các mục tiêu về tăng trưởng sản lượng, tạo công ăn việc làm đầy đủ và
kiểm soát lạm phát ở mức hợp lý, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Khi nền kinh tế tăng
trưởng chậm hoặc ở tình trạng suy thoái thì chính phủ có thể tăng chi tiêu chính phủ
hoặc giảm thuế. CSTK thông minh là phải biết phát huy được vai trò tích cực khi xử
lý vấn đề thâm hụt ngân sách nhà nước và hạn chế được những tác động tiêu cực đến
nền kinh tế.

Thứ hai là chính sách tiền tệ (CSTT). CSTT hiểu theo nghĩa hẹp là tổng thể
các biện pháp, các công cụ của Ngân hàng Trung ương (NHTW) nhằm góp phần đạt
được các mục tiêu kinh tế thông qua việc chi phối dòng tiền di chuyển, khối lượng
tiền và mặt bằng lãi suất. Hiểu theo nghĩa rộng thì CSTT là tổng thể các biện pháp
của Nhà nước pháp quyền nhằm mục đích cung ứng những phương tiện thanh toán
cần thiết và tạo dựng những khuôn khổ tiền tệ cho các mối quan hệ kinh tế của nền
kinh tế nhằm những mục tiêu cơ bản như: ổn định tỷ giá hối đoái, cân bằng cán cân
thanh toán, giữ nền kinh tế tăng trưởng đều. Công cụ của CSTT bao gồm các công cụ
gián tiếp và các công cụ trực tiếp.
Nhóm công cụ trực tiếp là nhóm các công cụ tác động thẳng vào mục tiêu
trung gian của CSTT (hay tác dụng thẳng vào khối lượng tiền cung ứng và lãi suất).
- 9 -
Chương 1. Khái quát về cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 và những tác động chính
đến nền kinh tế thế giới
Nhóm công cụ này bao gồm hạn mức tín dụng, khung lãi suất, biên độ dao động của
tỷ giá mua bán ngoại tệ và chính sách quản lý ngoại hối.
Nhóm công cụ gián tiếp là nhóm các công cụ tác động trước hết vào các mục
tiêu hoạt động của CSTT, thông qua cơ chế thị trường mà tác động đến khối lượng
tiền cung ứng và lãi suất. Nhóm công cụ này bao gồm nghiệp vụ thị trường mở, chính
sách tái chiết khấu, dự trữ bắt buộc và chính sách tỷ giá hối đoái.
Nghiệp vụ thị trường mở là nghiệp vụ trong đó NHTW sử dụng các nghiệp vụ
mua bán chứng khoán trên thị trường tiền tệ mở để thay đổi khối lượng tiền cơ sở, từ
đó tác động đến khối lượng tiền cung ứng và mức lãi suất trên thị trường. Khi NHTW
mua hoặc bán các chứng khoán, nó sẽ làm tăng hoặc giảm ngay lập tức dự trữ của các
NHTM. Đây là công cụ điều tiết các mục tiêu trung gian có hiệu quả nhất vì nó linh
hoạt và chủ động. Tuy nhiên việc thực hiện công cụ này đòi hỏi sự phát triển của thị
trường tài chính và tiền tệ.
Chính sách tái chiết khấu là chính sách trong đó NHTW thường cho các
NHTM vay dưới hình thức chiết khấu lại các giấy tờ có giá ngắn hạn do các NHTM
đưa đến. Chính sách cho vay của NHTW đối với các NHTM gọi là chính sách tái

chiết khấu. Mức độ hiệu quả của công cụ này căn cứ vào mức độ phụ thuộc về vốn
của NHTM vào NHTW. Vì thế nó là công cụ kém chủ động, khi sử dụng thường
được kết hợp với công cụ dự trữ bắt buộc.
Dự trữ bắt buộc là số tiền mà NHTM buộc phải duy trì trên một tài khoản tiền
gửi không hưởng lãi tại NHTW. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc này là tỷ lệ phần trăm nhất
định trên tổng số dư tiền gửi tại một khoảng thời gian nào đó. Công cụ này ảnh
hưởng đến khả năng cho vay của hệ thống ngân hàng, từ đó ảnh hưởng đến lãi suất
và cung tiền.
Chính sách tỷ giá hối đoái là sự can thiệp của NHTW nhằm tác động tới tỷ giá
hối đoái được thực hiện thông qua các hoạt động mua vào hoặc bán ra ngoại tệ của
NHTW trên thị trường ngoại hối. Mức độ can thiệp của NHTW vào sự hình thành tỷ
- 10 -
Chương 1. Khái quát về cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 và những tác động chính
đến nền kinh tế thế giới
giá hối đoái trên thị trường phụ thuộc vào cơ chế tỷ giá hối đoái do quốc gia đó áp
dụng.
Theo Keynes, giải pháp tối ưu dành cho chính phủ để giải quyết vấn đề khủng
hoảng thị trường gặp phải là Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cần phải đẩy mạnh cung
ứng tiền tệ (cung tiền tệ). Việc hỗ trợ thêm tiền cho chi tiêu sẽ giúp người tiêu dùng
không phải giảm chi dùng hay thậm chí còn tăng tiêu dùng, như vậy sẽ tạo ra hiệu
ứng lan tỏa, kích thích doanh nghiệp sản xuất trở lại. Nguyên lý cầu hữu hiệu khẳng
định rằng, lượng cung hàng hóa là do lượng cầu quyết định. Vì thế, khi bước vào thời
kỳ suy thoái kinh tế, nếu tăng lượng cầu đầu tư hàng hóa công cộng (tăng chi tiêu
công cộng) thì sản xuất và việc làm cũng sẽ tăng theo, nhờ vậy nền kinh tế có thể
thoát khỏi suy thoái.
Học thuyết Keynes đã khẳng định rất rõ vai trò cần thiết và vô cùng quan
trọng của Chính phủ trong việc điều tiết thị trường, đặc biệt hơn trong giai đoạn
khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 hiện nay thì học thuyết này lại càng phát huy
được sức mạnh của mình.
1.2.Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008

1.2.1.Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu
Cuộc khủng hoảng tài chính này đầu tiên xảy ra tại Mỹ - một nước có nền
kinh tế chiếm tới 25% GDP toàn cầu và có một tỷ lệ lớn trong các giao dịch quốc tế.
Sau đó cuộc khủng hoảng lan sang các nước công nghiệp Tây Âu – những trung tâm
tài chính lớn của thế giới và nhanh chóng lan rộng ra toàn thế giới
Các nhà nghiên cứu cho rằng nguyên nhân sâu xa của cuộc khủng hoảng Mỹ
là chính sách phi điều tiết các hoạt động đầu tư của ngành ngân hàng và chính sách
lãi suất quá thấp trong một thời gian quá lâu của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED).
Và các công cụ tài chính trực tiếp gây ra thảm họa này là các món nợ có thế chấp bất
động sản dưới chuẩn, các công cụ tài chính phái sinh, ví dụ như Khoản vay thế chấp
hay còn gọi là Chứng khoán đảm bảo bằng tài sản thế chấp (MBS - Mortgage-Backed
Security) hoặc Tín phiếu trao đổi các món nợ xấu (CDS - Credit Default Swap). Bên
- 11 -
Chương 1. Khái quát về cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 và những tác động chính
đến nền kinh tế thế giới
cạnh đó, sự suy sụp của thị trường bất động sản và “vỡ nợ” tín dụng, hàng loạt các
ngân hàng thua lỗ cũng được xem là những nguyên nhân trực tiếp và cơ bản gây ra
cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ.
Trước hết là những hậu quả từ sự suy sụp của thị trường bất động sản tại Mỹ .
Ở Mỹ, theo luật có điều khoản khi một cá nhân hay công ty muốn mua một bất động
sản, thì họ phải trả ngay một số tiền trị giá khoảng 10% - 25% trị giá nhà. Phần còn
lại NHTM có thể cho vay, với điều kiện căn nhà đó được thế chấp để bảo lãnh khoản
tiền nợ (Mortgage) và khách hàng có thể trả dài hạn, khoảng từ 10 đến 25 năm. Như
vậy, người mua không cần có nhiều tiền mà vẫn mua được nhà, nhưng họ phải có
việc làm và thu nhập ổn định để trả lãi hàng tháng cho ngân hàng. Nếu vì lý do nào
đó, người mua không có tiền trả lãi, ngân hàng có thể tịch thu căn nhà đó và bán cho
người khác. Phần tiền 80% trị giá căn nhà sẽ được chủ nợ mang đi bảo hiểm với một
tổ chức tài chính lớn (ví dụ công ty AIG của Mỹ). Như thế, nếu bán căn nhà bị lỗ,
ngân hàng chủ nợ sẽ được công ty bảo hiểm bồi thường phần bị lỗ. Nếu áp dụng
đúng luật như vậy thì các ngân hàng chủ nợ cho vay đều được an toàn, vì tỷ lệ nợ khó

đòi trong ngành bất động sản bình thường tương đối thấp, chỉ vào khoảng 1% - 2%.
Nhưng tại Mỹ, bắt đầu từ năm 2001, để giúp nền kinh tế thoát khỏi trì trệ,
FED đã liên tục hạ thấp lãi suất, dẫn đến việc các ngân hàng cũng hạ lãi suất cho vay
tiền mua bất động sản. Vào giữa năm 2000 thì lãi suất cơ bản của FED là trên 6%
nhưng sau đó lãi suất này liên tục được cắt giảm, cho đến giữa năm 2003 thì chỉ còn
1%. Bên cạnh đó, về phương diện sở hữu nhà cửa, chính sách chung của chính phủ
lúc bấy giờ là khuyến khích và tạo điều kiện cho dân nghèo và các nhóm dân da màu
được vay tiền dễ dàng hơn để mua nhà. Việc này phần lớn được thực hiện thông qua
hai công ty được bảo trợ bởi chính phủ là Fannie Mae và Freddie Mac. Hai công ty
này giúp đầu tư vốn vào thị trường bất động sản bằng cách mua lại các khoản cho
vay của các NHTM, biến chúng thành các loại chứng từ được bảo đảm bằng MBS,
rồi bán lại cho các nhà đầu tư ở Wall Street, đặc biệt là các ngân hàng đầu tư khổng
lồ như Bear Stearns và Merrill Lynch.
- 12 -
Chương 1. Khái quát về cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 và những tác động chính
đến nền kinh tế thế giới
Mặt khác, vì có sự chuyển đổi các khoản cho vay thành các công cụ đầu tư
nên thị trường tín dụng để phục vụ cho thị trường bất động sản không còn là thị
trường duy nhất của các NHTM hoặc các công ty chuyên cho vay thế chấp bất động
sản nữa. Nó đã trở thành một thị trường đầu tư mới cho các nhà đầu tư, có khả năng
huy động dòng vốn từ khắp nơi đổ vào, kể cả dòng vốn ngoại quốc. Điểm đặc biệt ở
đây là bởi vì việc hình thành, mua bán, và bảo hiểm MBS là vô cùng phức tạp cho
nên nó diễn ra gần như ngoài tầm kiểm soát thông thường của chính phủ. Bởi vì thiếu
sự kiểm soát cần thiết cho nên lòng tham và tính mạo hiểm đã trở nên phổ biến ở các
nhà đầu tư. Bên cạnh đó, bởi vì có thể bán lại phần lớn các khoản vay để các công ty
khác biến chúng thành MBS, các NHTM đã trở nên mạo hiểm hơn trong việc cho
vay, bất chấp khả năng trả nợ của người vay.
Như vậy, lãi suất thấp, các chính sách của chính phủ, sự mạo hiểm của các
ngân hàng giúp người dân mua địa ốc dễ dàng, các công ty và tư nhân đều có thể
mượn tiền dễ dàng để đầu tư hoặc mua bất động sản. Hậu quả là đẩy giá nhà lên, giá

nhà bình quân đã tăng đến 54% chỉ trong vòng bốn năm từ 2001 (năm bắt đầu cắt
giảm mạnh lãi suất) đến 2005. Việc này cũng dẫn đến vấn đề đầu cơ và ỷ lại là giá
nhà sẽ tiếp tục lên. Hệ quả là người ta sẵn sàng mua nhà với giá cao, bất kể giá trị
thực và khả năng trả nợ sau này vì họ nghĩ nếu cần sẽ bán lại để trả nợ ngân hàng mà
vẫn có lời. Khi đó, các ngân hàng cạnh tranh nhau và tìm mọi cách ưu đãi khách
hàng. Thậm chí nhiều ngân hàng không yêu cầu người mua phải trả khoản tiền mặt
20% trị giá ngôi nhà. Đây là tình trạng rủi ro rất cao cho các ngân hàng chủ nợ. Các
khoản vay này được gọi là dưới chuẩn (subprime), vì người vay nợ không đủ tiêu
chuẩn để đi vay. Do đó một bong bóng đã hình thành trong thị trường bất động sản.
Sau đó, do lo lắng về diễn biến lạm phát, FED bắt đầu tăng dần lãi suất, dẫn
đến việc thị trường bất động sản bắt đầu chững lại vào đầu năm 2006. Trong khi vào
giữa năm 2003 lãi suất căn bản của FED chỉ có 1% thì vào giữa năm 2006 nó đã tăng
lên đến 5,25%. Điều này bắt buộc các NHTM phải đẩy lãi suất cho vay tiền mua nhà
lên cao hơn nhiều nữa. Tình hình lãi suất cao đã khiến cường độ vay để mua nhà
giảm xuống. Giá nhà bắt đầu trượt dốc vì cung vượt cầu. Nhiều người mua nhà giá
- 13 -
Chương 1. Khái quát về cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 và những tác động chính
đến nền kinh tế thế giới
cao trước đây bắt đầu thấy giá thị trường của căn nhà đang sở hữu thấp hơn khoản nợ
mà mình đang vay. Bên cạnh đó, rất nhiều người trong nhóm vay tiền với lãi suất
dưới chuẩn bắt đầu mất khả năng trả nợ khi lãi suất của họ bị điều chỉnh trở lại theo
lãi suất mới hiện hành khá cao. Họ muốn bán nhà để trả nợ cũng không được vì giá
nhà thấp hơn khoản nợ do thị trường tụt dốc. Hệ quả là họ đành bỏ nhà cho ngân
hàng trưng thu lại. Trên 12 triệu căn nhà bị các ngân hàng chủ nợ tịch thu và không
bán được.
Mặt khác, việc ngày càng nhiều người không có khả năng trả nợ ngân hàng
mỗi tháng dẫn đến việc trị giá của các MBS bị tụt dốc. Như đã nói lúc đầu, có rất
nhiều nhà đầu tư ở Wall Street đã mua MBS. Do đó, khi MBS mất giá thì đồng nghĩa
với việc tài sản của họ cũng bị mất theo, dẫn đến việc thiếu hụt vốn. Bên cạnh đó,
các công ty bảo hiểm MBS, chẳng hạn như AIG, cũng lâm vào cảnh khốn đốn khi

phải đứng ra bảo lãnh ngày càng nhiều các khoản vay xấu. Ngoài ra, các NHTM hoặc
các công ty cho vay thế chấp còn giữ lại phần lớn các khoản vay cho mình (thay vì
bán lại cho Fannie Mae chẳng hạn) cũng nhìn dòng vốn và tín dụng của mình bị cạn
kiệt khi phải đương đầu với tỷ lệ mất khả năng trả nợ ngày càng cao của người vay
thuộc nhóm dưới chuẩn. Khoản tiền cho vay dành cho nhóm này đã tăng vùn vụt.
Theo các ước tính thì nó tăng từ 160 tỷ USD ở năm 2001 lên 540 tỷ vào năm 2004 và
trên 1.300 tỷ vào năm 2007 (Trần Văn Thọ & Trần Lê Anh 2008).
Tóm lại, bởi vì có nhiều mối liên hệ phức tạp giữa người vay và nhiều thành
phần cho vay trực tiếp cũng như gián tiếp, thị trường bất động sản đi xuống đã ảnh
hưởng trực tiếp đến thị trường tài chính nói chung. Mức độ lan tỏa và nghiêm trọng
của vấn đề là do sự mua đi bán lại các công cụ tài chính phái sinh (các MBS và
CDS). Vấn đề này càng trở nên nghiêm trọng hơn khi các nhà đầu tư bắt đầu bán tháo
các công cụ đầu tư mạo hiểm để tìm cách bảo tồn vốn. Đồng thời các nhà đầu tư có
tiền gửi ngân hàng bị hoảng loạn và đều đến rút tiền ở ngân hàng ra. Các tổ chức tài
chính lớn cũng phải chi các khoản bảo hiểm bất động sản và bị thiếu tiền mặt, có thể
cũng phải tuyên bố phá sản.
- 14 -
Chương 1. Khái quát về cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 và những tác động chính
đến nền kinh tế thế giới
Bên cạnh đó vấn đề “vỡ nợ” tín dụng bất động sản và hàng loạt các ngân hàng
thua lỗ tại Mỹ cũng được xem là một nguyên nhân cơ bản khác của cuộc khủng
hoảng tài chính Mỹ. Hàng loạt vụ đổ vỡ xảy ta trong ngành tài chính – ngân hàng
Mỹ.
Trước hết phải kể đến sự sụp đổ của mô hình ngân hàng đầu tư độc lập
(investment bank) của Wall Street. Cả 5 ngân hàng độc lập của con phố tài chính này
đều trải qua những bước ngoặt quan trọng trong năm 2008: Lehman Brothers phá
sản, Bear Sterrns và Merill Lynch bị thâu tóm, Morgan Stanley và Goldman Sachs
phải chuyển đổi sang mô hình ngân hàng tổng hợp (bank holding company). Tính đến
ngày 15/12/2008, số NHTM của Mỹ phải đóng cửa đã lên tới con số 25, so với con số
3 ngân hàng bị ngưng hoạt động trong cả năm 2007. Trong số này, phải kể những tên

tuổi lớn như Washington Mutual, Wachonia, IndyMac.
Như vậy cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ bắt đầu từ năm 2007 với đỉnh điểm
là sự sụp đổ của các ngân hàng đầu tư khổng lồ và những công ty bảo hiểm lớn nhất
nước Mỹ vào tháng 9/2008. Các công ty này có trụ sở tọa lạc ở khu Wall Street. Sau
hàng trăm năm hiện hữu với tư cách là trung tâm tài chính của nước Mỹ và của cả thế
giới, khu Wall Street đã hoàn toàn sụp đổ trong một tuần lễ, kể từ ngày 15/9/2008,
với sự phá sản của ngân hàng đầu tư Lehman Brothers. Tiếp đến là phản ứng dây
chuyền gây nên sự sụp đổ hàng loạt các ngân hàng, quĩ tín dụng, không chỉ ở Mỹ mà
lan ra toàn cầu, sang cả các thị trường chứng khoán, rồi tới mọi ngành sản xuất kinh
doanh của nền kinh tế thực của các quốc gia, làm suy giảm thương mại, đầu tư, gia
tăng đói nghèo và thất nghiệp trên toàn thế giới. Vì vậy có thể nói cuộc khủng hoảng
tài chính Mỹ là nguyên nhân cơ bản của cuộc đại khủng hoảng toàn cầu 2008.
1.2.2.Diễn biến của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008.
Cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ bắt đầu từ năm 2007 và ngày càng trầm trọng
hơn kéo theo sự sụp đổ đối với thị trường tài chính, hệ thống tài chính ngân hàng Mỹ
đồng loạt đổ vỡ, ngành dịch vụ sản xuất bắt đầu chững lại và đi xuống. Kinh tế Mỹ
lâm vào suy thoái với tốc độ nhanh khoảng -0,3% trong quý III/2008. Mức chi tiêu
- 15 -

×