GIẢI PHÁP TÍN DỤNG NHẰM THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN KINH TẾ
NGOÀI QUỐC DOANH TẠI SGDI NHCTVN
3.1 ĐỊNH HƯỚNG TD NH ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN KTNQD TẠI SGDI.
Phát huy những thành tựu đã đạt được và bài học kinh nghiệm của 15
năm xây dựng và phát triển, với vị thế đặc biệt quan trọng trong hệ thống
NHCTVN (chiếm 19% tài sản có của NHCTVN), Ban lãnh đạo và cán bộ nhân
viên SGDI nhận thức sâu sắc niềm vinh dự và trách nhiệm lớn lao của mình,
quyết tâm xây dựng SGDI trở thành một chi nhánh NHTM hiện đại, có vai trị
chủ đạo, chủ lực trong hệ thống NHCTVN, góp phần nâng cao vị thế của
NHCTVN trên thị trường trong nước và quốc tế và đóng góp tích cực vào sự
nghiệp CNH, HĐH đất nước.
Từ những kết quả hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh
năm 2003, SGDI - NHCTVN đăng ký các chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh năm 2004
cụ thể như sau:
- Tập trung mọi nỗ lực để khai thác nguồn vốn, thường xuyên khảo sát,
nghiên cứu các hình thức huy động vốn, kỳ hạn, lãi suất của các NHTM trên địa
bàn để xây dựng chiến lược huy động vốn có hiệu quả. Tiếp tục duy trì và tăng
nguồn vốn huy động từ 5 - 10% so với năm 2003.
- Chấp hành nghiêm túc các quy chế TD hiện hành và chỉ đạo của Ban
lãnh đạo trong từng thời kỳ nhằm tăng trưởng TD đối với mọi thành phần
kinh tế an toàn, hiệu quả, cho vay phải thu hồi được cả vốn gốc và lãi; tập
trung sàng lọc khách hàng, phân tích và đánh giá tồn diện về khách hàng để
có giải pháp tổng thể trong hoạt động đầu tư TD.
- Tiếp tục cơ cấu lại dư nợ theo hướng mở rộng thêm các đối tượng cho
vay: cho vay tiêu dùng, cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ; đẩy mạnh cho
vay vào các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế mở, khu kinh tế năng
động. Tăng cường công tác tiếp thị để thu hút khách hàng mới có dự án sản
xuất kinh doanh có hiệu quả để đầu tư vốn.
Tổng dư nợ cho vay nền kinh tế tăng 15 - 20%, trong đó dư nợ cho vay
trung dài hạn chiếm tỷ trọng 65% trong tổng dư nợ, cho vay ngoài quốc doanh
chiếm 45%.
- Nợ quá hạn - nợ xấu dưới 3% tổng dư nợ đầu tư.
Trước những yêu cầu và đòi hỏi của xu thế hội nhập, với chặng đường
mới ẩn chứa nhiều cơ hội và cũng đầy thách thức khó khăn nhưng với truyền
thống không ngừng đổi mới và phát triển, SGDI - NHCTVN quyết tâm phấn đấu
hoàn thành vượt mức mọi chỉ tiêu kế hoạch đề ra, với phương châm kinh
doanh “phát triển bền vững - an toàn - hiệu quả”.
3.2. GIẢI PHÁP TD NHẰM THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN KTNQD TẠI SGDI.
3.2.1. Giải pháp mở rộng TD đối với khu vực KTNQD.
3.2.1.1. Hoàn thiện và nâng cao hiệu quả chiến lược Marketing.
3.2.1.1.a. Hoàn thiện và đổi mới chiến lược khách hàng.
Bất cứ trong lĩnh vực kinh doanh nào, khách hàng là yếu tố quan trọng
nhất. Trong tiến trình phát triển của một NHTM thì chiến lược khách hàng
phải ln ln đồng hành và như một sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình hoạt
động của một NH.
Nhận thức thì như vậy nhưng thực tế vận dụng lại rất khó. Làm thế nào
để có được khách hàng đủ điều kiện vay vốn theo cơ chế tín dụng hiện hành, có
tình hình tài chính mạnh, sản xuất kinh doanh có hiệu quả, có tín nhiệm với
NH... trong điều kiện NH hoạt động đan xen, cạnh tranh trong lĩnh vực NH ngày
càng mạnh mẽ.
Khách hàng của SGDI - NHCTVN hiện nay chủ yếu là Tổng công ty và cơng
ty 90, 91 có hoạt động sản xuất kinh doanh và tình hình tài chính mạnh. Vì
khách hàng là nhân tố không thể thiếu đối với bất cứ NH nào. Để phát triển
khách hàng hơn nữa SGDI cần thực hiện các hoạt động sau:
- SGDI phải tiến hành đổi mới chính sách khách hàng. Việc đổi mới này
nhằm thu hút hơn nữa những khách hàng có uy tín đến giao dịch, mở rộng thị
phần TD trên địa bàn thành phố và các vùng lân cận. SGDI cần xây dựng cho
mình chính sách khách hàng, chiến lược kinh doanh có định hướng vào KTNQD
trong cơ cấu chung của NH; đa dạng hoá đối tượng cho vay; mở rộng hơn nữa
trong việc cho vay các Công ty TNHH, Công ty cổ phần, DN tư nhân, các hộ kinh
doanh cá thể vì đây có thể là những khách hàng nhỏ nhưng số lượng ấy ngày
càng đông đảo, ngành nghề kinh doanh đa dạng, phong phú; do vậy trong
tương lai họ sẽ là những khách hàng tiềm năng mà SGDI cần phải khai thác
triệt để, nhằm đưa nguồn vốn đầu tư một cách có hiệu quả cho nền kinh tế.
- Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền, xây dựng và quảng bá
thương hiệu, uy tín của SGDI cả trong nước và quốc tế để tất cả các khách
hàng, mọi người dân biết, hợp tác, hỗ trợ cho sự phát triển đi lên của SGDI. Xây
dựng phong cách văn hoá kinh doanh riêng, chú ý giới thiệu chi tiết các dịch vụ
cung cấp, những lợi ích mà khách hàng có được khi quan hệ với SGDI.
- Tăng cường công tác tìm kiếm khách hàng, chủ động đặt quan hệ với
khách hàng, áp dụng chính sách lãi suất, dự thưởng... để hấp dẫn, thu hút
khách hàng.
Khi có quan hệ TD với khách hàng, cán bộ TD phải hướng dẫn khách hàng
làm hồ sơ vay vốn để khách hàng có thể hồn thành bộ hồ sơ một cách nhanh
nhất, tiết kiệm được thời gian và công sức, tạo cho khách hàng sự thoải mái,
vui vẻ.
Trong quá trình cung cấp TD, SGDI phải giữ mối quan hệ với khách hàng,
cùng giải quyết những khó khăn mà khách hàng gặp phải và tiếp tục khai thác
những nhu cầu mới để kịp thời đáp ứng.
- Với những khách hàng có quan hệ thường xuyên với SGDI, SGDI có thể
cho các đối tượng này vay với lãi suất thấp hơn, nhận tiền gửi của họ với lãi
suất cao hơn một chút, tạo điều kiện khi họ vay vốn để duy trì lâu dài mối quan
hệ giữa SGDI với khách hàng.
3.2.1.2.b. Cần có chính sách lãi suất linh hoạt đối với KTNQD.
SGDI là chi nhánh trực thuộc NHCTVN, là một trong những đơn vị lớn, có
uy tín. SGDI có nguồn vốn tiền gửi thanh tốn lớn và ổn định từ các công ty 90,
91 và các DNNN. Trong hoạt động tín dụng của SGDI thì lãi suất ln được
khách hàng quan tâm nhất, vì nó là yếu tố quyết định chi phí, ảnh hưởng trực
tiếp đến lợi nhuận giữ lại của dự án vay vốn. Hiện nay, các mức lãi suất mà
SGDI đang áp dụng có sự phân biệt giữa KTQD và KTNQD. Điều đó là do
KTNQD luôn vay với số lượng nhỏ, chưa đáp ứng được các điều kiện đảm bảo
tiền vay của SGDI, rủi ro tiềm ẩn cịn rất lớn... Tuy nhiên khơng phải tất cả các
DNNQD đều thể hiện những khó khăn, vướng mắc như trên mà cịn có rất
nhiều các DNNQD làm ăn thực sự có hiệu quả, chi trả nợ gốc và lãi sịng phẳng
cho NH. Thực tế cho thấy khơng phải DNQD nào cũng làm ăn hơn hẳn các
DNNQD, mà các DNQD cũng đang gặp rất nhiều khó khăn. Tuy vậy, thành phần
KTNQD vẫn chưa được hưởng chính sách lãi suất ngang bằng với KTQD. Rõ
ràng điều này là quá thiệt thịi đối với thành phần kinh tế này. Vì vậy để có thể
thu hút được khách hàng, đặc biệt là thành phần KTNQD đến vay vốn tại SGDI
với mức lãi suất cho vay bình đẳng thì trước hết thành phần kinh tế này phải
tự hồn thiện mình, đáp ứng đầy đủ mọi yêu cầu đảm bảo tiền vay, kinh doanh
có hiệu quả hơn, đóng góp vào sự phát triển bền vững của SGDI... Lúc đó SGDI
cũng nên có mức lãi suất cho vay thống nhất đối với KTQD và KTNQD. Như vậy
sẽ áp dụng các mức lãi suất khác nhau phù hợp với tình hình và kết quả hoạt
động kinh doanh của từng DN. Bên cạnh đó, căn cứ vào tính chất đặc điểm của
từng ngành nghề kinh doanh mà SGDI có thể áp dụng các mức lãi suất khác
nhau. Chẳng hạn đối với DN kinh doanh xuất nhập khẩu đang được Nhà nước
khuyến khích như thực phẩm, may mặc... SGDI có thể cho vay với mức lãi suất
thấp hơn với cho vay để sản xuất thơng thường. Ngồi ra, căn cứ vào mối quan
hệ truyền thống, có uy tín, hay vay với các món lớn thì SGDI có thể cho vay với
mức lãi suất ưu đãi, khuyến khích và động viên các khách hàng nhằm duy trì
mối quan hệ lâu dài.
Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt như hiện nay giữa các NH thì lãi suất
là một cơng cụ để cạnh tranh nhằm thu hút các khách hàng là các DNNQD có
số lượng ngày càng tăng. Lãi suất là một yếu tố nhạy cảm mà bất cứ NH nào
cũng quan tâm và theo dõi rất chặt chẽ. Tuy nhiên, việc chủ động dùng lãi suất
để cạnh tranh chỉ là biện pháp nhất thời trong một thời điểm nào đó và phải
tính tốn cẩn trọng để khơng rơi vào tình trạng lợi bất cập hại khi các đối thủ
cạnh tranh đưa ra chiến lược.
3.2.1.2. Bổ sung thêm hoạt động tư vấn.
Hiện nay, ở Việt Nam chưa có một cơ chế cơng bố thơng tin đầy đủ về DN
và NH. Hệ thống kế toán theo tiêu chuẩn Việt Nam là một trở ngại lớn và làm
lệch lạc việc đánh giá để ra quyết định cho vay của NHTM và của các nhà quản
lý. Trung tâm thông tin TD NH (CIC) của NHNN đã hoạt động được hơn 10
năm nhưng chưa phải là cơ quan định mức tín nhiệm DN một cách độc lập. Đó
cũng là thách thức lớn cho hệ thống NH trong việc mở rộng TD cho nền kinh tế
trong điều kiện thiếu một hệ thống thông tin tương xứng. Nếu các NHTM cố
gắng chạy theo thành tích, mở rộng TD trong điều kiện mơi trường thơng tin
khơng cân xứng thì nguy cơ nợ xấu tất yếu sẽ phát sinh.
Mặt khác, trong thời đại ngày nay, khi nền kinh tế đã phát triển, hệ thống
thơng tin rộng khắp thì việc đáp ứng nhu cầu hiểu biết của con người trở nên
rất cần thiết. Với thực tế là sự hiểu biết về hoạt động NH của dân cư hiện nay
cịn rất ít thì việc mở rộng các hoạt động tư vấn là hợp lý. Đặc biệt là các loại
hình DNNQD, họ thường khơng hiểu biết nhiều về lĩnh vực đầu tư, thể lệ hoạt
động TD của NH... Chính vì vậy mà việc đầu tư TD của NH cũng như việc đầu tư
vào các cơng trình của DN chưa thu được kết quả như mong muốn, mức độ rủi
ro cao.
Cũng như các hoạt động tư vấn khác, tư vấn NH là một lĩnh vực nhằm
đánh giá, phân tích, dự báo thơng tin về tình hình kinh tế xã hội, pháp luật và
các thơng tin về các thơng tin NH... có liên quan đến vấn đề đầu tư TD, giải đáp
mọi thắc mắc về lĩnh vực NH của các DN, của dân cư giúp họ đưa ra những
quyết định đầu tư đúng đắn.
Bởi vậy, để phổ biến rộng khắp, cung cấp những thông tin cần thiết về
hoạt động của NH, giải đáp thắc mắc cho khách hàng thì SGDI cần mở các hoạt
động tư vấn. Các hoạt động này, ngồi nhiệm vụ nói trên thì cịn phải phát
triển những nhu cầu mới của khách hàng để phục vụ, để tiết kiệm chi phí hoạt
động. SGDI có thể lồng ghép các hoạt động này vào các quỹ tiết kiệm, quầy giao
dịch; đào tạo cán bộ để họ có đủ kiến thức hiểu biết, tận tình hướng dẫn khách
hàng khi khách hàng đến giao dịch.
3.2.1.3. Mở rộng cho vay vốn trung và dài hạn đối với khu vực KTNQD.
Do đặc thù riêng của DNNQD và xét trong hoàn cảnh chung của nền kinh
tế, hiện tại DNNQD đang đứng trước những khó khăn cần tháo gỡ và quá trình
phát triển KTNQD đã và đang bộc lộ một số hạn chế chủ yếu.
Đó là do q trình phát triển của KTNQD đang trong giai đoạn khởi đầu
nên khả năng tích luỹ vốn cịn hạn chế là khó khăn tất yếu. Theo đánh giá của
Phòng Thương mại và Cơng nghiệp Việt Nam, tình trạng thiếu vốn đang là khó
khăn lớn nhất đối với các DN. Các DN lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính
trước hết do bản thân các DN thiếu tài sản thế chấp NH, trong khi đó mức cho
vay vẫn bị hạn chế. Do vậy, các DNNQD có kế hoạch mở rộng sản xuất thì họ lại
thiếu vốn để đưa các kế hoạch đó vào thực hiện. Hơn nữa, do hầu hết các
khoản vay đều là ngắn hạn với lãi suất cao nên khu vực KTNQD khó tìm được
nguồn vốn trung và dài hạn.
Khó khăn tiếp theo cũng bắt nguồn từ nguồn vốn hạn hẹp của các
DNNQD, đặc biệt là nguồn vốn trung và dài hạn, nên khu vực KTNQD khơng có
điều kiện đầu tư đổi mới trang thiết bị, nâng cấp công nghệ sản xuất để mở
rộng năng lực sản xuất. Vì vậy, bên cạnh việc mở rộng cho vay ngắn hạn cần
đặc biệt quan tâm tới việc nâng tỷ trọng dư nợ trung và dài hạn cho khu vực
KTNQD.
3.2.2. Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay KTNQD đối với SGDI.
Một trong những đặc điểm của hoạt động kinh doanh NH là càng mở
rộng TD thì rủi ro có nguy cơ càng tăng, nhất là đối với khu vực KTNQD. Vì vậy
mở rộng TD phải gắn với việc hạn chế rủi ro, nâng cao chất lượng TD.
Chất lượng TD được phản ánh trên nhiều mặt: Tỷ lệ quá hạn cao hay thấp, nợ
khó địi nhiều hay ít, cơ cấu dư nợ có hợp lý khơng...? Chất lượng TD liên quan
tới cả hai phía: NH - Khách hàng và những yếu tố bất khả kháng.
3.2.2.1. Giải pháp về nghiệp vụ.
Về phía SGDI - NHCTVN để nâng cao chất lượng TD, hạn chế bớt những
rủi ro trong quá trình mở rộng TD đối với khu vực KTNQD thì cần giải quyết
những vấn đề như:
- Xác định đúng hướng đầu tư đối với khu vực KTNQD:
Chọn đúng hướng đầu tư là công việc quan trọng hàng đầu của các nhà
kinh doanh. Bên cạnh cung cấp TD cho các dự án của khu vực KTNQD, SGDI
cũng nên cử cán bộ nghiên cứu tìm hiểu thế mạnh của dự án đó để từ đó có thể
đưa ra những hỗ trợ khác đạt hiệu quả cao nhất.
- Ngăn chặn nợ quá hạn phát sinh trong quá trình cho vay bằng các biện
pháp sau:
+ Làm tốt khâu thẩm định dự án phát triển KTNQD trước khi cho vay,
thẩm định tài sản thế chấp, thủ tục hồ sơ cho vay là những yếu tố cần thiết,
song yếu tố quyết định chính là hiệu quả kinh tế của dự án xin vay chứ không
phải là thủ tục pháp lý của hồ sơ TD hoặc tài sản thế chấp.
Nền kinh tế phát triển ngày càng cao tất yếu dẫn đến các doanh nghiệp
phải mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh, từ đó nhu cầu về vốn cũng tăng
mạnh, và vốn vay NH là một trong những giải pháp hàng đầu cho việc đáp ứng
này. Thực tế, ngày càng có nhiều dự án đầu tư mới, cải tiến kỹ thuật, mở rộng
sản xuất của các doanh nghiệp gửi đến xin vay vốn. Việc thẩm định cho vay
những dự án này là công việc vô cùng quan trọng và hết sức phức tạp. Điều
này lại một lần nữa đặt ra vấn đề về trình độ thẩm định một dự án xin vay của
bộ phận thẩm định. Vì vậy, cần điều tra xem xét kỹ hiệu quả kinh tế của dự án
đầu tư phát triển KTNQD để hoàn thành thủ tục vay là công việc quan trọng
hàng đầu đối với cho vay KTNQD.
+ Tìm những hình thức thích hợp để nắm chắc đối tượng vay. Cán bộ TD
cần theo dõi sát tình hình sử dụng vốn, thu nhập, trả nợ của DNNQD để có biện
pháp tác động kịp thời, ứng phó linh hoạt với các DN vay vốn; ngồi ra, cần kết
hợp với các TCTD khác để nắm thực trạng vay và sử dụng vốn vay, nợ quá hạn,
thái độ đối với việc trả nợ vay của khách hàng.
+ Hỗ trợ các DNNQD giải quyết các khó khăn: Tư vấn cho các DN sử dụng
vốn vay. Cùng các DN tìm các biện pháp giải quyết khó khăn trong kinh doanh.
Đề nghị kịp thời tới cấp trên các trường hợp khoanh nợ, xoá nợ, giãn nợ, gia
hạn nợ hợp lý khi có thiên tai, rủi ro xảy ra.
+ Tổ chức tốt việc thu hồi nợ quá hạn: Phân loại chính xác nguyên nhân
nợ quá hạn và nguyên nhân không muốn trả nợ để có biện pháp xử lý hợp lý.
- Mở rộng cho vay khách hàng có tài sản đảm bảo hình thành từ vốn vay.
Theo Khoản 2 Điều 2 Chương 1 Nghị định số 178/1999/NĐ-CP này
29/12/1999 của Chính phủ về bảo đảm tiền vay thì cho vay có bảo đảm bằng
tài sản là việc cho vay vốn của TCTD mà theo đó, nghĩa vụ trả nợ của khách
hàng vay được cam kết bảo đảm thực hiện bằng tài sản cầm cố, thế chấp, tài
sản hình thành từ vốn vay của khách hàng hoặc bảo lãnh tài sản của bên thứ
ba.
Trong nhiều trường hợp, NH yêu cầu khách hàng phải có tài sản đảm bảo
khi nhận TD. Lý do là khách hàng luôn phải đối đầu với rủi ro trong kinh doanh,
có thể mất khả năng trả nợ cho NH do thu nhập từ hoạt động kinh doanh giảm
sút mạnh. Những biến cố khơng mong đợi có thể gây cho NH những tổn thất
lớn.
Trong các hoạt động TD của NH thì chỉ có DNQD là có thể vay vốn mà
khơng cần tài sản thế chấp, còn 100% DNNQD khi vay vốn NH đều phải có tài
sản đảm bảo, kể cả các DNNQD làm ăn rất tốt, có uy tín và phương án sản xuất
đầu tư hiệu quả.
Tuy nhiên, không phải DNNQD nào cũng có khả năng đáp ứng được yêu
cầu này, mà thậm chí xét cho cùng thì việc bảo đảm bằng tài sản cho món vay
cũng chỉ mang tính an ủi tâm lý cán bộ TD khi mà họ quyết định cho vay, là
phương án cuối cùng thu nợ mà thơi. Vì vậy, để tạo điều kiện thuận lợi cho khu
vực KTNQD phát triển mà khơng có tài sản để thế chấp có được nguồn vốn để
đáp ứng nhu cầu kinh doanh của mình, SGDI cần mở rộng cho vay bằng tài sản
đảm bảo được hình thành từ nguồn tài trợ của SGDI. Đây là biện pháp cuối
cùng để SGDI có thể mở rộng hoạt động TD của mình đối với KTNQD mà có thể
hạn chế việc người vay bán tài sản hình thành từ vốn vay, hạn chế được tổn
thất cho SGDI. Mặt khác, khi người vay không có khả năng trả nợ thì phần lớn
các tài sản này cũng đều bị giảm giá, khó bán. Do đó tài sản thế chấp loại này
không đảm bảo cho SGDI thu đủ gốc và lãi.
Đối với khách hàng vay: phải có tín nhiệm với NH, có khả năng tài chính
để thực hiện nghĩa vụ trả nợ, có dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh
dịch vụ khả thi... Ngồi ra, đối với thế chấp tài sản hình thành từ vốn vay hợp
đồng phải được lập thành văn bản; có thể ghi vào hợp đồng tín dụng hoặc lập
thành văn bản riêng do các bên thoả thuận. Khi tài sản được hình thành và đưa
vào sử dụng, các bên phải lập phụ lục hợp đồng thế tài sản hình thành từ vốn
vay, trong đó mơ tả đặc điểm, xác định giá trị tài sản đã được hình thành...
- Xử lý lãi suất cho vay.
Cùng với nguồn vốn, lãi suất là vấn đề cốt lõi thể hiện trong kết quả hoạt
động NH. Nó phải được sử dụng như một công cụ điều tiết vĩ mô của nền kinh
tế và hoạt động NH. Xử lý lãi suất huy động và lãi suất cho vay là vấn đề hết sức
nhạy cảm và phức tạp. Cái khó nhất hiện nay trong xử lý lãi suất NH là làm thế
nào vừa đảm bảo tuân thủ các quy luật kinh tế thị trường để SGDI thực hiện
kinh doanh, vừa đảm bảo sự ưu tiên nhất định đối với khu vực KTNQD. Lãi suất
huy động (đầu vào) phải đảm bảo sát với chỉ số giá cả thị trường có thể cạnh
tranh và huy động được, còn lãi suất đầu ra phải tương đối thấp mới có tác
động đến sự phát triển sản xuất (trong phạm vi giới hạn chấp nhận được) để
SGDI đảm bảo có thu nhập. Vì vậy, lãi suất cho vay DNNQD nên xử lý theo các
hướng như: Lãi suất phân chia theo từng khu vực, từng đối tượng vay, từng dự
án theo nguyên tắc đối tượng nào, khu vực nào có tỷ suất lợi nhuận cao thì lãi
suất cho vay cao; cần thực hiện cơ chế thưởng lãi suất cho DNNQD nào trả nợ
đúng hạn cả gốc và lãi nhằm khuyến khích các DN này sử dụng vốn đúng mục
đích và trả nợ đầy đủ, đúng hạn.
3.2.2.2. Tích cực cải cách thủ tục hành chính, tăng cường quản trị kinh
doanh.
Quản trị điều hành phải được thực hiện bằng các công cụ: cơ chế chính
sách, thơng tin, thanh tra - kiểm tra. Mở rộng và phát triển hoạt động kinh
doanh phải phù hợp với trình độ, năng lực quản lý, kiểm sốt của bộ máy tổ
chức, cán bộ và nhu cầu thực tế khách quan của thị trường, đảm bảo sự thống
nhất trong chỉ đạo điều hành, đồng thời nâng cao vai trị tham mưu, tính tự
chủ, năng động và tự chịu trách nhiệm của các bộ phận cơng tác.
Trong q trình cho vay DNNQD, thủ tục hồ sơ đã có nhiều cải tiến song
còn nhiều tồn tại cần giải quyết. Thủ tục phải đơn giản ở mức tối đa nhưng vẫn
phải đảm bảo cơ sở pháp lý. Đây là một vấn đề khó, cần hồn thiện dần, nhằm
nâng cao năng lực quản lý phục vụ và tiện ích cho khách hàng. SGDI cần:
+ Tổ chức lại mạng lưới cho vay DNNQD.
Tổ chức mạng lưới NH phù hợp, bảo đảm gọn nhẹ, năng động, hiệu quả và
thuận tiện là đòi hỏi khách quan. Nơi có mơi trường kinh doanh cần phải có các
Phịng giao dịch, Quỹ tiết kiệm để huy động vốn và cho vay vốn một cách nhanh
chóng, kịp thời tới các DNNQD.
+ Hiện đại hố cơng nghệ, phát triển dịch vụ NH.
Để phát triển các dịch vụ tiện ích cho khách hàng, nâng cao khả năng cạnh
tranh của SGDI, đòi hỏi phải đổi mới cơng nghệ, trang bị thêm máy tính cùng
các thiết bị đồng bộ, các phương tiện hiện đại như máy ATM, máy in sổ tiết
kiệm... để đổi mới phương pháp giao dịch đảm bảo thuận tiện cho yêu cầu quản
lý và phục vụ tại các đơn vị giao dịch trực tiếp với khách hàng, bố trí lại nhân
viên để tăng cường nhân viên TD cho vay các DNNQD.
3.2.2.3. Giải pháp về công tác tổ chức cán bộ.
Đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ, nâng cao năng lực thẩm định dự
án.
Con người là yếu tố quyết định thành bại trong kinh doanh. Không thể tạo
ra bước đột phá, giữ vững ổn định và phát triển nhanh nếu thiếu đội ngũ cán
bộ có năng lực, bản lĩnh vững vàng, hết lịng tận tâm vì sự nghiệp chung. Do đó,
trong chiến lược phát triển kinh doanh, chiến lược đào tạo nguồn nhân lực
phải được đặt lên hàng đầu và phải dành nhiều sự đầu tư thoả đáng cho cơng
tác này. Hoạt động TD địi hỏi một đội ngũ cán bộ TD khơng chỉ tinh thơng nghề
nghiệp mà cịn có phẩm chất đạo đức. Cán bộ TD khơng chỉ nắm chắc thể lệ, chế
độ của ngành mà phải am hiểu các lĩnh vực khác liên quan, nắm vững đường
lối chính sách của Đảng và Nhà nước, hiểu biết luật pháp để vận hành tốt
nghiệp vụ. Cần có chế độ thưởng phạt nghiêm minh, xử lý thích đáng những
cán bộ TD cố ý làm sai, phát động phong trào thi đua, có khen thưởng kịp thời
các điển hình, tiên tiến - từ đó động viên người lao động hăng say công việc và
đạt kết quả tốt.
Mọi nguyên nhân làm ảnh hưởng đến chất lượng TD không phải đổ lỗi hết
cho khách quan, mà điều quan trọng trước hết, đầu tiên tác động đến chất
lượng TD là con người, là những cán bộ TD trực tiếp liên quan đến những
khoản đầu tư, những người thẩm định đến chất lượng TD. Chính vì con người
có vai trị quan trọng trong việc nâng cao chất lượng TD, cho nên mỗi NH
không thể không từng bước nâng cao chất lượng cán bộ, không ngừng bồi
dưỡng nghiệp vụ, chấn chỉnh tư tưởng, đạo đức.
Ngoài vấn đề về phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp, địi hỏi cán bộ TD cần
phải có những kỹ năng sau:
- Kỹ năng bán hàng: đòi hỏi cán bộ TD phải có những kỹ năng nhất định về
Marketing để thu hút khách hàng, nắm vững nghiệp vụ TD để cho vay được
nhiều, với chất lượng tốt.
- Kỹ năng tìm hiểu điều tra: kỹ năng này yêu cầu cán bộ TD phải biết cách
thu thập và khai thác thơng tin có ích từ khách hàng và từ các nguồn khác.
- Kỹ năng phân tích: địi hỏi cán bộ TD phải biết nhận định, đánh giá tình
hình có cơ sở khoa học, từ đó rút ra được những rủi ro có thể gặp phải khi đặt
quan hệ tín dụng dưới hình thức văn bản có tính thuyết phục để trình lên xin ý
kiến chỉ đạo.
- Kỹ năng đàm phán với khách hàng: cán bộ TD phải biết thương lượng
với khách hàng, về các vấn đề có liên quan tới việc tuân thủ các điều khoản đã
quy định trong chế độ, thể lệ cho vay, để khoản vay được tiến hành trong điều
kiện thuận lợi nhất.
Trên cơ sở những yêu cầu địi hỏi đó, SGDI cần rà sốt lại đội ngũ cán bộ
hiện có, có kế hoạch đào tạo và đào tạo lại để bổ sung những mặt còn thiếu, cịn
yếu nhằm nâng cao trình độ chun mơn, nghiệp vụ, khắc phục tình trạng bất
cập về trình độ kỹ thuật nghiệp vụ của cán bộ TD, nhất là số cán bộ do sắp xếp
lại tổ chức đang làm các nghiệp vụ khác chuyển sang làm tín dụng. Tuỳ theo
điều kiện cụ thể mà lựa chọn hình thức đào tạo.
Cần phải khẳng định rằng phát triển hoạt động đào tạo có hiệu quả là yếu
tố quyết định trong việc thực hiện mục tiêu chiến lược của mỗi NH. Đồng thời
để đáp ứng yêu cầu hội nhập khu vực và quốc tế, hoạt động đào tạo ngày nay
không chỉ đào tạo, đào tạo lại, cập nhật kiến thức kỹ năng các sản phẩm dịch
vụ mới hiện đại mà còn phải có chiến lược cụ thể để đào tạo được nhiều nhân
lực có trình độ cao, đáp ứng được u cầu hội nhập theo phương châm “đi
trước đón đầu”. Vì vậy yếu tố hợp tác đào tạo cần được đẩy mạnh. Chỉ có vậy
mới tiếp cận được khoa học cơng nghệ tiên tiến hiện đại, kinh nghiệm quản lý
điều hành... Hợp tác có thể được thực hiện trong nước như NH có thể hợp tác
với các trường đại học và các Trung tâm đào tạo về tài chính NH để giao lưu
trao đổi phương pháp, kỹ năng dạy và học, cập nhật được những kiến thức kỹ
năng hiện đại, ngoài ra có thể hợp tác đào tạo khu vực và quốc tế...
Nhiều năm qua, việc đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ nhân viên của
SGDI đã có những bước chuyển biến rõ rệt, phần nào đáp ứng được yêu cầu
phát triển trong nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, sự biến đổi đó vẫn cịn chậm
so với sự biến đổi nhanh chóng của khoa học cơng nghệ NH cùng các cơng cụ
quản lý mới hiện đại. Vì vậy mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng
cao, văn hoá giao tiếp và kỹ năng quản lý điều hành đang là vấn đề bức bách, là
chiến lược ưu tiên hàng đầu của NHCTVN nói chung và của SGDI nói riêng
nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược đã đề ra.
SGD có đội ngũ cán bộ cơng nhân viên đông đảo, không thể đào tạo được
hết trong một thời gian ngắn mà phải có q trình, có bước đi thích hợp,
nhưng phải hết sức cấp bách. Có như vậy SGDI mới nhanh chóng trở thành một
chi nhánh NHTM hiện đại, có vai trị chủ đạo, chủ lực trong hệ thống NHCTVN,
góp phần nâng cao vị thế của NHCTVN trên thị trường trong nước và quốc tế
và đóng góp tích cực vào sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ.
3.3.1. Kiến nghị với Nhà nước và các cơ quan chức năng.
Để giúp các NHTM mở rộng hoạt động cho vay đối với khu vực KTNQD thì
Chính phủ cần phải đề ra các biện pháp để thúc đẩy các thành phần KTNQD
phát triển nhằm tạo ra được một đối tượng khách hàng rộng lớn và an tồn
cho các NHTM để các NH này có thể n tâm đầu tư. Muốn vậy, Chính phủ và
các cơ quan có chức năng cần phải có các biện pháp sau:
Trong khi các nước láng giềng như Trung Quốc và các nước thuộc khối
ASEAN đang ngày càng hồn thiện mơi trường pháp lý với nỗ lực tạo ra sân
chơi bình đẳng giữa DNQD và DNNQD thì hệ thống chính sách, pháp luật của
Việt Nam còn chồng chéo, thiếu minh bạch và thiếu ổn định, các thủ tục về thuế
và hành chính tuy đã được cải thiện song vẫn còn phức tạp. Vì vậy phải tiếp tục
hồn chỉnh các chính sách, pháp luật, quy định của Nhà nước đã ban hành liên
quan đến việc khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân, tạo điều kiện thuận lợi
nhằm thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển. Hồn thiện mơi trường pháp lý
thuận lợi cho hoạt động cạnh tranh lành mạnh; tập trung hoàn thiện hệ thống
văn bản pháp lý theo hướng nâng cao vai trò tự chủ và tự chịu trách nhiệm cao
hơn trong kinh doanh của các NHTM; cụ thể hoá và thể chế hố các biện pháp
khuyến khích cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động NH.
Ở điều kiện nước ta hiện nay việc xây dựng các văn bản, bộ luật dành
riêng cho các DNNQD đặc biệt là các DN vừa và nhỏ là hết sức cần thiết. Trước
mắt, phải có sự hoàn thiện hơn nữa hệ thống các văn bản pháp luật hiện hành
có liên quan tới loại hình DN này và giám sát thật kỹ quá trình áp dụng của các
cơ quan chức năng. Về lâu dài cần phải xây dựng một bộ luật DN vừa và nhỏ
trong đó quy định về: tư cách pháp nhân, ngành nghề kinh doanh, các chính
sách khuyến khích bảo hộ... Đồng thời trong quá trình xây dựng Luật phải tiến
hành song song với việc xây dựng các văn bản thi hành để sau khi văn bản có
hiệu lực thì lập tức được áp dụng ngay vào cuộc sống. Các văn bản phải được
đảm bảo tính ổn định lâu dài và tính đồng bộ, thống nhất để các DN yên tâm
đầu tư vào sản xuất kinh doanh.
Hướng dẫn các DN phát triển kinh doanh theo Pháp luật, tạo điều kiện cho
các DN hiểu pháp luật và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, nhanh chóng đưa
pháp luật vào cuộc sống; đảm bảo cạnh tranh bình đẳng giữa các DN thuộc mọi
thành phần kinh tế và bảo vệ lợi ích hợp pháp của các DN. Bên cạnh đó cũng
phải xử lý nghiêm và kịp thời những DN cố ý kinh doanh trái pháp luật, cùng
với việc sử dụng biện pháp kinh tế để xử lý những hành vi vi phạm đó. Khơng
hình sự hố các quan hệ kinh tế - dân sự trong quan hệ tín dụng giữa NH với
DNNQD khi xảy ra các tranh chấp do DN không trả được nợ cho NH.
Chính phủ có biện pháp thúc đẩy cổ phần hố các DNNN có quy mơ vốn
lớn, đang hoạt động có hiệu quả mà khơng phải thuộc lĩnh vực quan trọng, tạo
ra sự đột phá tăng tốc, đẩy nhanh q trình cổ phần hố DNNN, thúc đẩy thị
trường chứng khốn hoạt động có hiệu quả. Đồng thời, muốn phát triển nhanh
và bền vững khu vực tư nhân phải phát triển mạnh khu vực KTQD, đặc biệt nên
tập trung cho các DN lớn làm mũi nhọn, làm đầu tàu cho nền kinh tế, yểm trợ
cho các DN nhỏ của khu vực tư nhân là một điều rất quan trọng.
Chính phủ thực hiện đúng cam kết với IMF, ADB, WB... về cải tổ DNNN,
chống bao cấp, bảo trợ quá mức cho DNNN, thúc đẩy phát triển DNNQD.
Do vốn và tài sản của DNNQD không lớn, nên mức độ đảm bảo an tồn cho
các khoản vay khơng cao, các NHTM thường ngại cho các DNNQD vay vốn. Để
khuyến khích các NHTM cho DNNQD vay vốn, Nhà nước có thể sử dụng các biện
pháp như hỗ trợ lãi suất đối với các khoản cho vay đối với các DNNQD, giảm
thuế thu nhập DN nếu NH cho vay đối với các DNNQD đạt được một tỷ lệ nhất
định trong tổng TD của NH.
Chính phủ cần sớm thành lập các tổ chức định mức tín dụng đối với các
DN, trong đó có các DN loại vừa để làm cơ sở cho việc đầu tư vốn. Quy chế cho
vay và nghị định đảm bảo tiền vay cần chú ý tới nhu cầu, khả năng, thực trạng
của các DNNQD để có tín dụng phù hợp đối với họ, nhất là hình thức tín dụng
trung và dài hạn.
Chính phủ cần có chính sách xử lý rủi ro đối với các NH cho vay vốn
DNNQD, bình đẳng đối với các DN như: khoanh nợ, xoá nợ, giãn nợ, ưu đãi lãi
suất...
Trước đây cơ quan công chứng Nhà nước không chịu chứng nhận cho các
NHTM trong việc chủ động bán tài sản, bởi vì u cầu việc bán tài sản phải
thơng qua Trung tâm đấu giá. Đến nay vướng mắc này đã được giải toả, không
bắt buộc phải qua Trung tâm do Bộ Tư pháp và NHNN có hướng dẫn cụ thể thì
lại gặp rắc rối mới, đó là Sở Địa chính - Nhà đất không cho chuyển tên sở hữu
tài sản. Vì vậy, đối với việc xử lý tài sản cầm cố thế chấp, Sở Địa chính - Nhà đất
khẩn trương cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất, tạo
cơ sở pháp lý chặt chẽ cho các giao lưu dân sự nói chung và điều kiện cho thế
chấp tài sản nói riêng. Để tạo điều kiện thuận lợi cho công tác xử lý tài sản thế
chấp, đề nghị UBND và cơ sở ban ngành của Thành phố tạo điều kiện hỗ trợ NH
trong việc hợp pháp hoá các tài sản thế chấp, tài sản xiết nợ, hỗ trợ khi kê biên
và đấu giá tài sản. Bên cạnh đó, các cơ quan pháp luật, cơng an, viện kiểm sốt,
tồ án tạo điều kiện cho NH thu giữ tài sản thế chấp, giải quyết nhanh các vụ
án để thu hồi vốn cho NH.
Để giúp các DN có dự án khả thi cần vốn tín dụng đầu tư song thiếu một
phần thế chấp, bảo lãnh theo hợp đồng vốn vay, nhanh chóng đưa Quỹ bảo lãnh
cho DN vừa và nhỏ đi vào hoạt động. Mục đích của Quỹ là để bảo lãnh một
phần, nhằm hỗ trợ cho các DN tiếp cận được các khoản vay ngắn, trung và dài
hạn tại các TCTD thông qua việc cấp bảo lãnh, tái bảo lãnh TD; đồng thời chia
sẻ rủi ro giữa Quỹ bảo lãnh tín dụng và DN với TCTD khi gặp rủi ro bất khả
kháng khơng trả được nợ vay. Hình thành Quỹ tín dụng hỗ trợ xuất nhập khẩu.
Chính phủ cần hỗ trợ cho các DN thuộc thành phần KTNQD thực hiiện nhanh
q trình đổi mới như: tiếp nhận thơng tin và công nghệ mới hiện đại, hướng
dẫn cải tiến công nghệ kỹ thuật truyền thống, hỗ trợ vốn vay dài hạn với lãi
suất ưu đãi, hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực để có thể tiếp nhận việc chuyển giao
cơng nghệ. Đồng thời giúp các DN lựa chọn cho mình những máy móc thiết bị
cơng nghệ phù hợp. Ngồi ra, trong điều kiện nước ta hiện nay, bên cạnh việc
đầu tư kỹ thuật công nghệ mới để tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường thì
các DN cần lưu ý khai thác các kỹ thuật công nghệ sử dụng nhiều lao động, kết
hợp với việc cải tiến để nâng cao năng suất và hiệu quả trong sản xuất kinh
doanh. Chính phủ cần trợ giúp kinh phí để tư vấn và đào tạo lại nguồn lao động
có trình độ, đặc biệt là tư vấn, đào tạo cán bộ có trình độ quản lý tiên tiến, đáp
ứng yêu cầu của thời kỳ đổi mới, thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.
Chính phủ cần phải quan tâm hơn nữa hoạt động của các trung tâm thông
tin, trung tâm xúc tiến thương mại trong việc cung cấp thông tin cho các DN tư
nhân về các lĩnh vực sản phẩm, thị trường, chiến lược ngoại thương... Việc cung
cấp thông tin cần thiết cho các DN thuộc thành phần KTNQD là hết sức cần
thiết, thông tin cung cấp phải được chọn lọc, cập nhật thường xuyên; đồng thời
xây dựng và cung cấp thông tin thị trường thế giới cho các DNNQD, giúp đỡ về
công nghệ, hợp tác kinh doanh, tài trợ vốn ban đầu thành lập DN.
Chính phủ cần có chính sách hỗ trợ các DN tiếp cận với thị trường các
nước trong khu vực và trên thế giới. Chính phủ hỗ trợ bằng các chính sách thuế
quan ưu đãi để kinh tế tư nhân phát triển, đó là điều rất cần thiết trong giai
đoạn hiện nay. Các giải pháp kích cầu của Chính phủ cần được tiếp tục đẩy
mạnh để giúp tháo gỡ những khó khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm hàng hoá
cho khu vực kinh tế tư nhân. Đẩy mạnh công tác chống buôn lậu, nhập lậu,
chống hàng giả, hàng nhái nhãn hiệu, mẫu mã...
Cho phép kinh tế tư nhân tham gia vào hầu hết các hoạt động sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ, thương mại, xuất nhập khẩu ở tất cả các lĩnh vực của nền
kinh tế mà lâu nay thuộc quyền của các DNNN. Bên cạnh đó, phải có sự hồn
thiện hơn nữa đối với một số chính sách kinh tế vĩ mơ của Chính phủ như chính
sách thương mại và cơng nghiệp, chính sách thuế, chính sách đầu tư... nhằm tạo
điều kiện cho các DNNQD phát triển mạnh mẽ, ổn định và đúng hướng đồng
thời tạo ra một sân chơi bình đẳng đối với mọi loại hình DN thuộc mọi thành
phần kinh tế.
3.3.2. Kiến nghị đối với NHCTVN.
NHCTVN là cơ quan chủ quản của SGDI do đó cần phải tạo điều kiện giúp
SGDI trong việc khắc phục những hạn chế, phát huy mặt mạnh để cùng hệ
thống phát triển. Để làm được vấn đề đó cần thực hiện các nội dung sau:
Tổ chức giải quyết nhanh, rõ ràng các nghiệp vụ liên quan đến hoạt động
của SGDI như việc phê duyệt mức cho vay vượt quyền phán quyết, khi tái thẩm
định các dự án đầu tư... Sửa đổi cơ chế, chính sách cho vay, bảo lãnh phù hợp
với NHNN theo hướng nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với hệ
thống NHCTVN nói chung và SGDI nói riêng.
Thu hút các dự án, chương trình của quốc tế, của các nước khác, hỗ trợ
SGDI về đào tạo cán bộ quản lý, nâng cao trình độ quản lý, điều hành hoạt động
NH theo lộ trình quốc tế; đào tạo nâng cao trình độ nghiệp vụ thẩm định dự án,
phân tích và đánh giá rủi ro cho cán bộ NH; trang bị cơng nghệ NH hiện đại.
Mở rộng hình thức TD thuê mua và cung cấp các khoản TD trung, dài hạn
với lãi suất ưu đãi cho các DNNQD mới khởi sự hoặc đầu tư đổi mới kỹ thuật,
công nghệ tiên tiến. Đơn giản hoá các thủ tục NH trong việc cho vay, đặc biệt là
các khoản cho vay trung và dài hạn bị quy định bởi các thủ tục rườm rà, phức
tạp làm cho chi phí giao dịch tăng cao.
Hỗ trợ SGDI trong việc lắp đặt thêm trang thiết bị hiện đại cho quá trình
hoạt động như hệ thống máy tính, máy ATM, nối mạng trong tồn bộ hệ thống
NH... Đặc biệt là trợ giúp về kinh phí và kỹ thuật trong việc đào tạo, bồi dưỡng
kiến thức nghiệp vụ NH cho cán bộ nhân viên trong SGDI. Phải có chiến lược
đầu tư thích đáng cho cơng tác đào tạo lại cán bộ về chun mơn, chính trị,
trình độ ngoại ngữ và tin học, ý thức trách nhiệm để xây dựng đội ngũ cán bộ
tín dụng đủ đức đủ tài, tinh thông nghề nghiệp.
Thường xuyên hỗ trợ SGDI tổ chức các buổi thảo luận, hội nghị, nghiên
cứu khoa học để vừa nắm bắt được các thơng tin về tình hình hoạt động của
NH, vừa cung cấp thêm các kinh nghiệm, kiến thức q báu trong q trình
hoạt động.
Cần có chính sách khen thưởng hợp lý đối với những chi nhánh làm ăn có
hiệu quả, huy động được nguồn vốn lớn và hoạt động tín dụng khơng làm thiệt
hại đến lợi nhuận của NH. Đồng thời cần sớm nghiên cứu ban hành cơ chế
chính sách, chế độ, thể lệ làm việc, nghĩa vụ quyền lợi của đội ngũ cán bộ TD, có
chính sách ưu đãi cán bộ về thu nhập, đi lại. Thường xuyên quan tâm đến việc
động viên khen thưởng cho đội ngũ cán bộ TD giỏi để có cơ sở đề nghị xét chọn,
khen thưởng hàng năm. Rõ ràng là quyền lợi vật chất cũng là một vấn đề cần
phải quan tâm xem xét, nhất là trong điều kiện săn lùng chất xám hiện nay, để
có thể khuyến khích động viên kịp thời những cán bộ có trình độ, kinh nghiệm,
gắn bó thuỷ chung với NH.
Phối hợp chặt chẽ với NHNN để tổ chức có hiệu quả chương trình thơng
tin rủi ro, thông tin TD nhằm ngày càng nâng cao chất lượng TD, giúp SGDI
phòng ngừa rủi ro.
NHCTVN cần nâng cao hơn nữa hiệu suất sử dụng các phần mềm tin học
trong cơng tác kế tốn, đào tạo cán bộ kế tốn có trình độ, khai thác các phần
mềm ứng dụng nghiệp vụ và đáp ứng yêu cầu thông tin báo cáo đảm bảo
nhanh chóng chính xác, hiệu quả cao.
Thực hiện tốt công tác chỉ đạo điều hành từ Trung ương xuống các NH cơ
sở; tuân thủ đúng từ việc thẩm định các dự án, tổ chức kiểm tra đến việc quy
định cụ thể về chế độ thông tin kiểm tra, chế độ thông tin thống kê, tổng kết,
kiểm tra.
Tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm soát nội bộ trong toàn hệ thống NH
nhằm phát hiện, chấn chỉnh kịp thời các các sai sót, phịng ngừa rủi ro.
Hiện nay, xu thế hội nhập và hợp tác trong tất cả các lĩnh vực của nền kinh
tế ngày càng trở nên rõ nét và cần thiết. Cùng với các ngành kinh tế khác,
ngành NH đang đứng trước những cơ hội mới của q trình hội nhập, nhưng
bên cạnh đó, cũng đứng trước nhiều thách thức gay gắt từ bên ngoài.
Trong quá trình hội nhập quốc tế, các NHTM của Việt Nam sẽ đối mặt với
sự cạnh tranh rất lớn của các NH nước ngoài với rất nhiều thế mạnh vượt trội
so với hệ thống NHTM trong nước. Cụ thể nhất là tiềm lực về tài chính với số
vốn điều lệ lên tới hàng trăm triệu USD thậm chí lên tới hàng tỷ USD. Chúng ta
cũng sẽ phải cạnh tranh gay gắt với các NH nước ngồi có kinh nghiệm hoạt
động lâu năm, có trình độ quản lý rất chặt chẽ và khoa học với nhiều dịch vụ
NH đa dạng, phong phú và hiện đại. Do vậy, việc nâng cao năng lực về tài chính
và trình độ cơng nghệ, quản lý... là cơng việc cấp bách mang tính sống cịn của
các NHTM trong nước, đặc biệt là hệ thống NHTM Nhà nước. Nếu các NHTM
trong nước không kịp đổi mới để phát triển thì chúng ta sẽ đánh mất khả năng
cạnh tranh trên chính thị trường trong nước, vai trị là “bà đỡ” của nền kinh tế
của các NHTM trong nước nói chung và các NHTM nói riêng sẽ trở nên mờ nhạt
và khơng phát huy tác dụng, thậm chí sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong hoạt
động kinh doanh của mình.
Hi vọng với chính sách thơng thống của Nhà nước, cùng với sự phối hợp
của các Bộ ngành, NHNN ban hành chính sách tín dụng, tiền tệ riêng cho khu
vực KTNQD và các NHTM chủ động tiếp cận, khai thác, mở rộng hoạt động
trong khu vực này sẽ góp phần đáng kể trong việc thúc đẩy phát triển KTNQD...
và các hoạt động trong lĩnh vực NH cũng ngày càng đa dạng, chiếm lĩnh thị
phần ngày càng cao với mục tiêu cuối cùng là đảm bảo được khả năng cạnh
tranh trong xu thế hội nhập hiện nay.
Trên đây là những giải pháp và kiến nghị nhằm thúc đẩy và phát triển
KTNQD. Tuỳ từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế mà có
những giải pháp và kiến nghị hữu hiệu với thực tiễn hoạt động NH. Hy vọng
rằng với gì đã đề cập ở trên tuy không phải là tuyệt đối nhưng cũng phần nào
giúp thêm cho SGDI - NHCTVN trong việc thúc đẩy phát triển KTNQD nhằm
không ngừng đưa khu vực KTNQD ngày càng đi lên theo đúng định hướng của
Đảng và Nhà nước.
KẾT LUẬN
Thực tế đã chứng minh vai trò của KTNQD là không thể phủ nhận, đặc biệt
trong công cuộc CNH, HĐH đất nước. Sự phát triển của khu vực kinh tế này góp
phần vào việc thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế nói chung và của hệ thống
NHTM nói riêng. Đồng thời các NHTM cũng đóng góp một vai trò rất lớn vào sự
phát triển của khu vực kinh tế này. Trong tương lai khu vực KTNQD sẽ là thị
trường đầy tiềm năng mà NH cần phải khai thác. Mở rộng hoạt động tín dụng
ngồi quốc doanh vừa là nhiệm vụ vừa là quyền lợi của NH cũng như là xu thế
tất yếu của kinh tế thị trường. Trong những năm gần đây, SGDI với vai trò
trung gian dẫn vốn đã mặn mà hơn đối với cho vay ngồi quốc doanh song dư
nợ vẫn cịn hạn chế, một phần do các văn bản chính sách pháp luật của Nhà
nước và của ngành NH còn nhiều bất cập, bản thân SGDI vẫn còn rất e dè khi
cho vay.
Từ việc phân tích tình hình thực tế hoạt động cho vay KTNQD tại SGDI NHCTVN, Khoá luận đã tập trung giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn
sau:
1. Khoá luận đã tổng hợp những cơ sở luận về TD NH và mở rộng TD NH
đối với việc phát triển khu vực KTNQD từ đó làm sáng tỏ sự cần thiết khách
quan của vấn đề mở rộng TD của SGDI đối với khu vực KTNQD. Khoá luận đã
tổng kết những kinh nghiệm của một số nước trên thế giới để từ đó rút ra
mhững bài học kinh nghiệm có thể vận dụng trong q trình mở rộng TD đối
với khu vực KTNQD ở Việt Nam.
2. Khoá luận đã phân tích thực trạng về KTNQD ở Việt Nam cũng như thực
trạng tín dụng đối với khu vực KTNQD tại SGDI - NHCTVN, chỉ ra những kết
quả, tồn tại cùng nguyên nhân của tồn tại. Việc khắc phục những nguyên nhân
đó sẽ cho phép SGDI hạn chế những tồn tại để tiếp tục mở rộng tín dụng nói
chung cũng như đối với khu vực KTNQD nói riêng.
3. Trên cơ sở phân tích thực trạng để khắc phục những tồn tại, bản Khoá
luận đã đưa ra được các giải pháp và kiến nghị nhằm mở rộng TD của SGDI đối
với sự phát triển KTNQD.
Với kết quả của bản Khoá luận này bản thân em hi vọng sẽ đóng góp một
phần nhỏ bé kiến thức của mình vào việc giải quyết những khó khăn của thực
tiễn đặt ra. Tuy nhiên, đây là một vấn đề rất phức tạp và rộng lớn, trong khi đó
thời gian thực tập cũng như khả năng nhận thức, khả năng tìm hiểu thực tế
của bản thân cịn có những hạn chế nhất định vì vậy bản Khố luận này sẽ
không tránh khỏi những khiếm khuyết. Bản thân em rất mong nhận được
những ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, các thầy cô và cơ quan thực tế
cùng với bất cứ ai quan tâm đến lĩnh vực này.
Em xin chân thành cảm ơn NCS. Nguyễn Thị Thanh Sơn, người hướng dẫn
thực hiện cùng các cán bộ của SGDI - NHCTVN đã tận tình giúp đỡ và tạo mọi
điều kiện trong thời gian thực tập để hoàn thành bản Khoá luận này.