ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------***------
HÀ QUANG TRƯỜNG
VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONG CẢI CÁCH
HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SỸ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------***------
HÀ QUANG TRƯỜNG
VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONG CẢI CÁCH
HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Mã số: 62 22 80 05
LUẬN ÁN TIẾN SỸ TRIẾT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. GS. TS. Hoàng Chí Bảo
2. PGS.TS. Dương Văn Thịnh
HÀ NỘI - 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học
của riêng tôi. Những kết quả và nội dung của luận án là trung
thực, chưa được công bố ở những công trình nghiên cứu của
những tác giả khác.
Tác giả
Hà Quang Trường
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1.Tính cấp thiết của đề tài .............................................................................. 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài ....................................................................... 2
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận án ............................................................ 2
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................... 12
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu .............................................. 12
6. Đóng góp mới của luận án ....................................................................... 12
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án ................................................. 13
8. Kết cấu của luận án .................................................................................. 13
CHƢƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CON NGƢỜI VÀ
HOẠT ĐỘNG CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC ........................ 14
1.1. Khái lược quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin về vị trí và vai trò
của con người trong đời sống xã hội ........................................................... 14
1.1.1. Con người - chủ thể của các quá trình xã hội ................................ 14
1.1.2. Con người - khách thể trong đời sống xã hội ................................. 16
1.1.3. Con người trong hệ thống quản lý, tổ chức xã hội – chính trị ....... 19
1.2. Khái niệm cải cách hành chính và cải cách hành chính nhà nước ở
Việt Nam hiện nay ....................................................................................... 21
1.2.1. Khái niệm cải cách hành chính ...................................................... 21
1.2.2. Cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay ..................... 25
1.3. Sự thể hiện của con người trong hoạt động cải cách hành chính
nhà nước....................................................................................................... 45
1.3.1. Con người – chủ thể trong hoạt động cải cách hành chính nhà nước
.................................................................................................................. 45
1.3.2. Con người – khách thể của hoạt động cải cách hành chính nhà nước
.................................................................................................................. 47
i
1.3.3. Đặc trưng của mối quan hệ chủ - khách thể của con người trong
cải cách hành chính nhà nước .................................................................. 50
Kết luận chương 1........................................................................................ 57
CHƢƠNG 2. CON NGƢỜI – CHỦ THỂ CỦA QUÁ TRÌNH
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ... 59
2.1. Con người với việc hình thành chương trình cải cách hành chính
nhà nước....................................................................................................... 59
2.2. Con người trong vai trò tổ chức thực hiện chương trình cải cách
hành chính nhà nước .................................................................................... 62
2.2.1. Vai trò chủ thể của đội ngũ cán bộ, công chức .............................. 62
2.2.2. Vai trò chủ thể của người dân ........................................................ 73
2.3. Các nhân tố tác động tiêu cực tới vai trò chủ thể của con người trong
quá trình cải cách hành chính nhà nước ...................................................... 77
2.3.1. Tác động của cơ chế tổ chức quyền lực nhà nước trong xây dựng
nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam ............................................... 78
2.3.2. Tác động từ trình độ, kỹ năng hành chính, phong cách làm việc,
ý thức đạo đức của môi trường hành chính cũ ......................................... 86
2.3.3. Tác động của văn hóa và tâm lý dân tộc ........................................ 92
2.4. Những giải pháp phát huy vai trò chủ thể của con người trong quá trình
cải cách hành chính nhà nước ...................................................................... 97
2.4.1. Khắc phục các nhân tố tác động tiêu cực đến vai trò chủ thể của
con người trong quá trình CCHC nhà nước ............................................. 97
2.4.2. Thực hiện dân chủ hoá xã hội ...................................................... 109
2.4.3. Đổi mới nhận thức về công tác cán bộ ......................................... 114
2.4.4. Nâng cao nhận thức về tinh th n trách nhiệm .............................. 119
Kết luận Chương 2 ..................................................................................... 122
ii
CHƢƠNG 3. CON NGƢỜI – KHÁCH THỂ CỦA QUÁ TRÌNH
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY . 125
3.1. Bản chất của sự tác động của cải cách hành chính nhà nước đối với con
người .......................................................................................................... 125
3.2. Sự tác động của cải cách hành chính nhà nước đối với các quan hệ xã
hội của con người....................................................................................... 132
3.2.1. Quan hệ của cán bộ, công chức với người dân trong tiến trình
cải cách hành chính nhà nước ................................................................ 132
3.2.2. Quan hệ trong nội bộ đội ngũ cán bộ công chức trong tiến trình
cải cách hành chính nhà nước ............................................................... 139
3.3. Những giải pháp nâng cao vai trò của con người - khách thể trong
quá trình cải cách hành chính nhà nước .................................................... 146
3.3.1. Tuân thủ những quy tắc, chỉ dẫn và khuyến khích thực hiện
chương trình cải cách ............................................................................. 146
3.3.2. Nắm vững và ủng hộ những giá trị của cải cách .......................... 150
3.3.3. Nâng cao nhận thức về sự tham gia của người dân trong hoạt động
quản lý nhà nước .................................................................................... 153
Kết luận Chương 3 ..................................................................................... 171
KẾT LUẬN .................................................................................................. 172
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN ........................................................................................... 175
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 176
iii
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Đứng trước các yêu c u về phát triển con người để phát triển kinh tế xã hội, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhiều nghiên cứu
về con người ở Việt Nam đã tham gia hoàn thiện cơ sở lý luận chung về vị
trí và vai trò của con người trong các quá trình xã hội. Tuy nhiên, đối với
hoạt động CCHC nhà nước ở Việt Nam, do tính chất mới mẻ của vấn đề
trong quá trình hội nhập toàn c u hóa cùng với đặc thù về điều kiện chính
trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của Việt Nam nên một nghiên cứu tổng hợp về
con người trong CCHC nhà nước ở Việt Nam chưa được thực hiện. Thực tế,
nghiên cứu về con người để phát huy nguồn lực con người và hoạt động
CCHC nhà nước trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam có
mối liên hệ gắn kết chặt chẽ với nhau. Đó là yêu c u tất yếu cho sự phát
triển bền vững con người để phát triển bền vững về kinh tế - xã hội, đồng
thời cũng là mục đích, là cơ sở và tiêu chuẩn của hoạt động CCHC nhà nước
trước sức ép của hội nhập kinh tế quốc tế và toàn c u hoá. Có thể nói con
người đóng vai trò quyết định ở “đ u vào”, trong toàn bộ quá trình phát triển
và ở cả “đ u ra”. Đặt trong hoạt động CCHC nhà nước, ở “đ u vào” - con
người là nhân tố tác động hình thành nên nhu c u phải CCHC, là người trực
tiếp xây dựng nên các chương trình kế hoạch cho việc CCHC; trong quá
trình - con người, mà cụ thể ở đây là đội ngũ cán bộ, công chức quản lý,
lãnh đạo, điều hành, vận hành bộ máy hành chính là người trực tiếp tổ chức
thực hiện thành công chương trình, kế hoạch cải cách; ở “đ u ra”, chất lượng
sống, sự phát triển hạnh phúc của con người phải là mục tiêu hướng tới của
chương trình, kế hoạch CCHC nhà nước. Con người luôn là nhân tố quyết
định là động lực của toàn bộ quá trình CCHC.
1
Như vậy, việc xác định vấn đề con người trong CCHC nhà nước, xây
dựng và hoàn thiện NNPQ XHCN Việt Nam thật sự trong sạch, vững mạnh,
của dân, do dân, vì dân là một nhiệm vụ do thực tiễn đặt ra. Đây là một vấn
đề bức thiết nhưng còn để ngỏ vì về mặt lý luận, vấn đề con người, con
người cho phát triển bền vững vì tương lai loài người mới được nhận thức
lại trong một vài thập kỷ g n đây, còn hoạt động CCHC nhà nước ở Việt
Nam mới thực sự chịu những sức ép lớn từ yêu c u đảm bảo cho việc thực
hiện dân chủ hoá đời sống chính trị của xã hội, nhằm phát huy hơn nữa
quyền làm chủ của nhân dân và yêu c u phát triển kinh tế, ổn định chính trị
trong quá trình hội nhập toàn c u hoá mới có hơn chục năm trở lại đây. Do
đó, việc nghiên cứu lý luận về con người trong hoạt động CCHC nhà nước ở
Việt Nam, làm rõ bản chất, đặc thù của mối quan hệ biện chứng của con
người và CCHC nhà nước, tham gia giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt
ra, đồng thời góp ph n làm rõ những vấn đề lý luận chung về con người một vấn đề c n được nghiên cứu ở Việt Nam hiện nay. Đó chính là những lý
do để tác giả chọn nghiên cứu “Vấn đề con người trong cải cách hành chính
nhà nước ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài cho luận án tiến sỹ triết học của
mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay, một trong những lĩnh vực khoa học và thực tiễn quan tâm
nhiều nhất đến con người là tổ chức và hành chính – quản lý nhà nước.
Ngoài việc coi con người là nguồn lực lao động đóng góp và tạo ra sự tăng
trưởng, khoa học về hành chính rất coi trọng triết lý về con người và những
giá trị nhân văn do hoạt động này liên quan trực tiếp tới các mối quan hệ
giữa con người với con người và sự phát triển của mỗi con người nhằm nâng
cao hiệu quả hoạt động của toàn bộ hệ thống tổ chức, quản lý. Tuy nhiên,
vấn đề con người trong hoạt động cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam,
2
xuất phát từ con người, xem xét vai trò và sự liên đới của con người trong môi
trường CCHC cho đến nay chưa có một đề tài nào nghiên cứu.
Ở Việt Nam, trong các quyết sách chính trị quan trọng của Đảng về
CCHC nhà nước từ Nghị quyết TƯ l n thứ 8 Khóa VII (1/1995) [Xem 23, tr.
169 -175], trong CTTT CCHC nhà nước do Chính phủ ban hành từ giai đoạn
2001 - 2010 đều đề cập tới các vấn đề về con người cùng các yếu tố có liên
quan của nền hành chính và CCHC nhà nước. Do đó, các nghiên cứu ở Việt
Nam lấy CCHC nhà nước là mục tiêu trọng tâm và con người Việt Nam ở
nhiều vị trí, vai trò khác nhau trong tương quan với CCHC nhà nước đã
được nhiều học giả quan tâm làm rõ.
Trước hết là các nghiên cứu đi tìm nguyên nhân của các CCHC chậm
chạp, khu vực công hoạt động kém hiệu quả ở các góc độ. Có thể kể đến các
nghiên cứu về dân chủ, về cải cách thể chế của Hoàng Chí Bảo; năm 2008
ông đã công bố nghiên cứu Cải cách thể chế ở Việt Nam trước thách thức
của toàn cầu hóa [7], nghiên cứu đã nêu bật lên những hạn chế và yếu kém
trong cải cách thể chế ở Việt Nam hiện nay như: Nhận thức không đầy đủ,
thậm chí không đúng về dân chủ: tách rời quyền và nghĩa vụ, lợi ích và trách
nhiệm; luật pháp không đồng bộ và thực thi pháp luật không nghiêm minh. Sự
yếu kém về ý thức pháp luật cả trong đội ngũ công chức và trong dân. Thiếu
vắng chế độ trách nhiệm và các chế tài trong xử lý. Bệnh quan liêu, nạn hội
họp, giấy tờ, bệnh hình thức, phô trương, nói nhiều làm ít, lời nói không đi
đôi với việc làm còn phổ biến và nghiêm trọng.v.v..
Tìm nguyên nhân từ vấn đề tổ chức quyền lực nhà nước, có nhiều
công trình được công bố trên Tạp chí nhà nước và pháp luật nhưng nổi bật là
hệ thống các nghiên cứu của Nguyễn Đăng Dung. Năm 2009, tác giả
Nguyễn Đăng Dung công bố nghiên cứu Cải cách tư pháp trong tổ chức
quyền lực nhà nước [16] gián tiếp nhưng rất cụ thể chỉ ra vấn đề thiếu năng
3
lực giám sát đối với bộ máy hành chính, khiến cải cách kém hiệu quả do:
“Phạm vi xét xử của Tòa án Việt Nam hiện chưa phủ hết mọi hoạt động của
xã hội, có những lĩnh vực hoạt động của nhà nước vẫn chưa thuộc phạm vi
xét xử của Tòa án. Ví dụ như hoạt động lập pháp, hành pháp của các quan
chức cao cấp nhà nước”. Các quy định tòa án chỉ thụ lý vụ án hành chính nếu
trước đó khiếu nại đã được tiến hành một l n tại cơ quan hành chính; ngoài ra
không phải mọi vụ việc hành chính đều có thể khởi kiện ra tòa hạn chế khả
năng tiếp cận tòa án để giải quyết tranh chấp hành chính, làm cho cơ chế giải
quyết tranh chấp hành chính trở nên thiếu vô tư, không khách quan.v.v.
Nhìn nhận giải quyết các vấn đề hành chính xuất phát từ tổ chức bộ
máy của nền hành chính, Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2010 của các nhà
tài trợ tại Hội nghị tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam tổ chức vào 34/12/2009 cung cấp các nghiên cứu về tổ chức chính quyền địa phương - vai
trò và trách nhiệm của chính quyền địa phương đặt riêng ra những yêu c u
và đòi hỏi đối với đội ngũ cán bộ công chức địa phương, các vấn đề về phân
cấp và quản trị nhà nước ở cấp địa phương, tính khác biệt trong quản lý ở đô
thị và nông thôn, mức độ phân cấp và giải trình; về các dịch vụ trực tiếp và
hành chính cùng những yêu c u trong tự chủ, phân cấp phân quyền, tập
trung thu thập các quan điểm của người dân, doanh nghiệp đối với các dịch
vụ mà nhà nước cung cấp, hay trao quyền phân cấp cho các nhà cung ứng
khác. Hoạt động của con người trong các tổ chức xã hội dân sự, vai trò của
các tổ chức xã hội dân sự trong hoạt động CCHC, phát huy dân chủ ở Việt
Nam cũng được nghiên cứu quan tâm làm rõ.
Các vấn đề nghiên cứu cải cách tổ chức bộ máy hành chính, chính
quyền địa phương được đặt ra trong chuỗi các hoạt động của cải cách, có thể
tham khảo các tài liệu đăng tải trên các tạp chí khoa học lớn trong nước của
Hà Quang Ngọc, đặc biệt là nghiên cứu Cải cách cơ cấu tổ chức và hoạt
4
động của chính quyền địa phương (2007) [76] và Điều chỉnh một số hoạt
động của chính quyền địa phương đáp ứng yêu cầu của CCHC (2010) [77].
Các nghiên cứu này đưa ra nhiều nhận định về vai trò và yêu c u chức năng
của tổ chức chính quyền ở địa phương trong thực hiện CCHC như: chính
quyền địa phương các cấp không thể làm tất cả mọi việc giống như một nhà
nước thu nhỏ trên địa bàn; trong việc tổ chức quyền lực nhà nước, chính
quyền địa phương các cấp hiện nay có vai trò lớn hơn, thiết thực hơn và chủ
động hơn việc tổ chức quản lý các mặt đời sống kinh tế - xã hội trên địa bàn..
đặc biệt các nghiên cứu này cũng đều quan tâm đến vấn đề phân bổ nguồn
lực, các nguồn vốn xã hội và đội ngũ cán bộ, công chức ở địa phương.
Nghiên cứu từ phương diện đạo đức trong quản lý hành chính, nhiều
nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước tập trung đề cập đến các vấn
đề về đạo đức trong hoạt động quản lý hành chính, giải quyết các vấn đề về
động cơ nhà quản lý, các quan hệ trách nhiệm của nhà quản lý trong quản lý
hành chính, các giá trị đạo đức hành chính quốc gia; định hướng các giá trị
đạo đức trong hành chính và các giá trị đạo đức được coi là quan trọng nhất
đối với nền hành chính. Nổi bật là tác phẩm Đạo đức trong quản lý hành
chính công của hai tác giả Vũ Gia Hiền và Nguyễn Hữu Khoát (2007) [34]
Từ mục tiêu đưa ra các biện pháp tăng cường vai trò của người dân
tham gia quản lý nhà nước hình thành các nghiên cứu dưới góc độ là các tác
nhân, người dân, công chức, chính khách; bộ máy hoạch định chính sách,
xuất phát từ những khác biệt về niềm tin, giá trị kì vọng, năng lực hưởng
thụ, tính phức tạp về mặt trách nhiệm từ công dân tới chính khách, đội ngũ
cán bộ công chức. Năm 2006 UNDP và Viện Khoa học Xã hội Việt Nam
thực hiện nghiên cứu: Đẩy mạnh chiều sâu dân chủ và tăng cường sự tham
gia của người dân ở Việt Nam; năm 2007 bài viết Tăng cường sự tham gia
của nhân dân trong hoạt động quản lý nhà nước (Hà Quang Ngọc-Hà
5
Quang Trường)[78] đã trình bày một số vấn đề về nhận thức của xã hội, của
các nhà quản lý đối với sự tham gia của người dân trong hoạt động quản lý
nhà nước. Thực tế là ở Việt Nam hiện nay, các nhà quản lý vẫn thiếu tin
tưởng ở người dân, vẫn coi việc quản lý nhà nước là công việc riêng vốn có
của Nhà nước mà không phải là nhiệm vụ của chính nhân dân trong việc quản
lý xã hội. Ngược lại, chính người dân cũng coi đó chỉ là nhiệm vụ của các cơ
quan nhà nước, mà không phải là của mình. Vì lẽ đó, đã làm hạn chế sự tham
gia rộng rãi của nhân dân vào hoạt động quản lý nhà nước. Bên cạnh đó, ảnh
hưởng của văn hóa hành chính cũ còn khá nặng nề. Tâm lý và văn hóa hành
chính mà theo đó, các cơ quan, công chức coi việc xây dựng luật pháp, chính
sách như là đặc quyền riêng của mình và vì thế các công việc của Nhà nước
luôn khép kín, còn nhân dân ỷ lại, coi đó là công việc của Nhà nước, ít có
quan tâm chung tới hoạt động của Nhà nước và các chính sách, nếu không có
ảnh hưởng trực tiếp tới lợi ích cá nhân.v.v.
Các nghiên cứu về hiệu quả làm việc trong các cơ quan nhà nước, xác
định hiệu quả công tác, sự đóng góp thực tế của công chức và người đứng
đ u được thực hiện ở nhiều Viện nghiên cứu của Bộ Nội vụ, của Bộ Lao
động, Thương binh và Xã hội, nổi bật g n đây nhất là nghiên cứu chuyên
sâu của tác giả Nguyễn Hoàng Nguyên về Đề xuất giải pháp góp phần xác
định hiệu quả công tác sự đóng góp thực tế của cán bộ, công chức
(2007)[80]; ngoài việc xác định vai trò, t m quan trọng, tiêu chuẩn của công
chức trong hoạt động công vụ của bộ máy công quyền, nghiên cứu còn xây
dựng các phương thức xác định hiệu quả công tác, sự đóng góp thực tế của
công chức, đưa ra các chuẩn mực với công tác cán bộ và với việc xác định
hiệu quả công tác, sự đóng góp thực tế của công chức.
Dưới góc độ tâm l í và các vấn đề về lợi ích các nghiên cứu nổi bật
như Bệnh quan liêu trong công tác cán bộ của hai tác giả Trương Thị Thông,
6
Lê Kim Việt (2008) [109]; Phát huy tính tích cực xã hội của đội ngũ cán bộ
nước ta hiện nay của Nguyễn Văn Tài (2010) [97]; nghiên cứu Các biện
pháp tâm lí nâng cao tính tích cực lao động của cán bộ, công chức trong
các cơ quan hành chính nhà nước hiện nay của tác giả Tr n Thanh Hương
[49].v.v. Các nghiên cứu theo hướng này đều chủ động tập trung làm rõ các
vấn đề về lợi ích, động lực để nâng cao tinh th n trách nhiệm, tăng cường
tình tích cực xã hội của đội ngũ cán bộ công chức, loại bỏ cách làm việc
quan liêu theo nghĩa là cách chỉ đạo xa rời thực tế, xa rời nhân dân, chỉ thiên
về mệnh lệnh, công văn giấy tờ, chủ nghĩa hình thức, coi thường thực chất
công việc, lạm dụng quyền lực, cá nhân chủ nghĩa v.v.
Từ sau Đại hội IX, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân và dân chủ, về công
chức, công dân, đội ngũ cán bộ, về tổ chức cán bộ được chú ý nhiều. Có thể
liệt kê ra đây cuốn Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng con người
Việt Nam phát triển toàn diện của Thành Duy, (2002) [18]; Tìm hiểu phương
pháp Hồ Chí Minh của Hoàng Chí Bảo [8]; Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ
và công tác cán bộ của Bùi Đình Phong, (2006) [81]; Hồ Chí Minh với công
tác tổ chức, cán bộ của tác giả Bùi Kim Hồng (2009) [45]; Cơ sở lý luận và
thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức của tác giả Thang Văn Phúc,
Nguyễn Minh Phương, (2005)[85] …. Các nghiên cứu này đều góp ph n vào
việc nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện tư tưởng Hồ Chí Minh về
công tác tổ chức, cán bộ và đào tạo cán bộ nhằm đáp ứng yêu c u của cách
mạng, đặc biệt là vấn đề về trau dồi đạo đức, phẩm chất của người cán bộ.v.v.
Nghiên cứu hướng tới vận dụng kinh nghiệm quản lý và cải cách của
ông cha ta, cuốn "Mười cuộc cải cách, đổi mới lớn trong lịch sử Việt Nam"
của Văn Tạo (2009)[98] đã cung cấp cái nhìn tổng quát và hệ thống về các
cuộc cải cách, đổi mới trong lịch sử Việt Nam, đặc biệt là những cuộc cải
7
cách, đổi mới lớn trong hoà bình, nhằm rút ra những bài học lịch sử sát hợp
với công cuộc cải cách, đổi mới đất nước hiện nay.
Một loạt các tác phẩm sách tham khảo được biên dịch và xuất bản đã
chủ động nêu ra những kinh nghiệm quản lý, xu hướng cải cách góp ph n
cung cấp các dự báo về cải cách của Việt Nam và những kinh nghiệm cải
cách quản lý của nhiều nước trên thế giới nổi bật là các cuốn: Hệ thống công
vụ và xu hướng cải cách của một số nước trên thế giới, (2004) [84]; Hệ
thống công vụ một số nước Asean và Việt Nam (1997) [3]; Kinh nghiệm công
tác nhân sự của một số nước (Lê Minh Thông - Nguyễn Danh Châu,
2009)[108]
Bên cạnh đó cũng phải kể đến những công trình nghiên cứu có tính
tổng hợp và một số giáo trình tập trung vào mục tiêu của cuộc cải cách nhằm
xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên
nghiệp, hiện đại hóa, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, một đội ngũ công chức
có đủ phẩm chất, năng lực hoàn thành nhiệm vụ được giao. Xin được nêu một
số công trình đáng chú ý: CCHC nhà nước; thực trạng, nguyên nhân và giải
pháp do Thang Văn Phúc chủ biên (2001)[82]. Giáo trình Tổ chức nhân sự
hành chính nhà nước của Học viện hành chính quốc gia (2002) [40]. Tài liệu
Quản lý hành chính nhà nước – Hành chính nhà nước và công nghệ hành
chính (2004)[41]; Cải cách nền hành chính nhà nước; thực trạng, nguyên
nhân và giải pháp do UNDP tài trợ (2009) [10].
Trên các tạp chí đặc biệt là Tạp chí Cộng sản, đề tài CCHC và các giải
pháp cho con người của quá trình đó liên tục được đề cập. Xin được nêu ra
một số bài viết có những quan điểm đáng chú ý như Nâng cao chất lượng
công tác giáo dục đạo đức công chức trong điều kiện cải cách hành chính
nhà nước của Thang Văn Phúc (2003) [83], Bàn về lãnh đạo và quản lý
trong công cuộc quản lý hành chính (2007) [94], Lại bàn về cải cách hành
8
chính (2008)[95] của Đỗ Quốc Sam; Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng
cao hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước của Đinh Duy Hòa (2007)[37],
Nguyên nhân trì trệ, kém hiệu quả của cải cách hành chính của Nguyễn Đức
Mạnh (2007)[70], Cải cách hành chinh – những vấn đề cần quan tâm của
Tr n Quang Nhiếp, (2007)[72].v.v.
Đối với thế giới, việc nghiên cứu CCHC trước hết được tập trung vào
các nước đang phát triển, nơi sức ép của CCHC xuất phát từ bên trong, lẫn
bên ngoài lên chính phủ các quốc gia. Nghiên cứu “CCHC các nước đang
phát triển” (Ali Fazarmand, Greenwood 2001) [124] đã cung cấp thông tin
về CCHC ở nhiều quốc gia ở châu Á, Trung cận Đông, châu Phi, cùng
những so sánh đối chiếu làm sáng tỏ các giá trị về CCHC ở các nước đang
phát triển và cung cấp các bài học về chính sách hoạt động trong tương lai.
Đặc biệt nghiên cứu này đã nêu bật các vấn đề về phân cấp trong quản lý
hành chính, cải cách nền hành chính trong chuyển đổi chế độ chính trị; chỉ
ra các động lực cũng như vai trò của các nguồn lực trong thực hiện CCHC.
Xuất bản từ năm 1977, công trình nghiên cứu “Tại sao bộ máy chính
phủ lại lớn lên” của Buchannan, JM [126] đã trình bày những thực tế về vấn
đề sau mỗi l n thực hiện CCHC nhà nước thì bộ máy hành chính lại nhanh
chóng quay trở lại tình trạng cồng kềnh, chồng chéo, chức trách không rõ
ràng, nhiều người không xứng với chức danh, không chịu trách nhiệm .v.v.
trong khi mục tiêu cải cách là tinh giản bộ máy hành chính, tăng phân cấp và
trao quyền. Và g n đây là tác phẩm “Cải cách chính phủ, cơn lốc chính trị
cuối thế kỷ XX của Tinh Tinh (2002) [103], trong đó đã nêu lên những thực
tế đồng thời trình bày các giải pháp tối hậu để thoát khỏi tình trạng nêu trên
ở Trung quốc – quốc gia có những điều kiện chính trị, xã hội tương đồng với
Việt Nam.
9
Để xây dựng một khuôn khổ phân tích và thực tiễn cho những nền
hành chính ở các quốc gia chậm và đang phát triển, Báo cáo phát triển thế
giới 2004 của Ngân hàng thế giới đã đặt ra các câu hỏi và giải đáp cho vấn
đề nền hành chính đó vì mọi người hay vì “khách quen”, (ở đây khái niệm
“khách quen” được hiểu đó là những người giàu, những người chi tiền để
vượt qua sự phức tạp của các vấn đề hành chính, thủ tục hành chính, tạo sự
tách biệt với người nghèo). Và có “khách quen”, hệ thống công chức hành
chính tranh thủ kiếm lời từ khách quen, tuy nhiên xét trên lợi ích tổng thể
của quốc gia, việc làm này khiến các quốc gia tự đào sâu hố ngăn cách giữa
nhà nước với xã hội văn minh và phát triển con người v.v.. Nghiên cứu này
cũng đã chỉ ra khuôn khổ cho sự hợp tác giữa người dân – khách hàng với
nhà hoạch định chính sách - chính khách, với công chức trong cung cấp các
dịch vụ hành chính công, các cách thức để cải cách và tạo ra các khế ước
chặt chẽ hơn giữa nền hành chính và khách hàng của nó. Báo cáo này cũng
mô tả những động cơ khuyến khích để một thể chế thích hợp có thể lớn
mạnh trong một bối cảnh nhất định.
Bên cạnh đó, những nghiên cứu như: Vai trò của chính phủ trong sự
phát triển kinh tế của đông Á: phân tích và so sánh về thể chế (Masahiko
Aoki, Hyung-ki Kim and Masahiro Okuno-Fujiwara. 1997) [131], “Năng lực
của nhà nước và sự cai trị có hiệu quả” (Brautigam, Deborah. 1996 trong
cuốn Chương trình nghị sự cho sự phục hồi kinh tế châu Phi tr.81 -108 do
Benno Nduulu và Nicolas van de Walle biên tập, Washington, D.C: Hội đồng
phát triển hải ngoại); nhiều nghiên cứu trong các báo cáo phát triển hàng năm
khác của Ngân hàng thế giới trong những năm g n đây.v.v đều hướng sự tập
trung đến hoạt động cải cách qua việc làm rõ các vấn đề về con người, hoạt
động của con người quản trị nguồn nhân lực cụ thể trong những tổ chức nhà
10
nước và các vấn đề về năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước, làm sống lại
các năng lực thể chế cũng như xóa bỏ các trở ngại để phát triển.v.v.
Như vậy, những công trình khoa học nêu trên đã nghiên cứu hoạt động
CCHC nhà nước từ đó có nêu lên các vấn đề về con người trên nhiều phương
diện trong quan hệ với nhà nước, với bộ máy hành chính và thực hiện CCHC
nhà nước. Tuy nhiên, một công trình gắn với thực tiễn, khái quát lý luận về vị
trí và vai trò của con người trong CCHC nhà nước ở Việt Nam hiện nay chưa
được thực hiện. Đó cũng là những căn cứ đ y đủ cho sự hình thành luận án
này. Những nghiên cứu trên cũng là tài liệu tốt để tác giả tiếp thu phát triển
trong luận án của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
- Mục đích của luận án:
Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về con người với vai trò là
chủ thể và khách thể của quá trình CCHC nhà nước ở Việt Nam; từ đó đề
xuất các giải pháp nhằm phát huy nhân tố con người cho công cuộc cải cách
nền hành chính nhà nước hiện nay.
- Nhiệm vụ của luận án
+ Khát quát lại một số vấn đề lý luận về con người, về hoạt động
CCHC nhà nước ở Việt Nam hiện nay.
+ Phân tích làm rõ vị trí và vai trò của con người với tư cách là chủ
thể quá trình CCHC nhà nước ở Việt Nam. Đề xuất những giải pháp phát huy
vai trò chủ thể của con người trong công cuộc CCHC nhà nước hiện nay.
+ Phân tích làm rõ vị trí và vai trò của con người với tư cách là khách
thể của quá trình CCHC nhà nước ở Việt Nam, từ đó đề xuất những giải
pháp nâng cao vai trò của con người - khách thể trong quá trình CCHC nhà
nước
11
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Dưới góc nhìn của triết học, luận án tập trung
nghiên cứu vai trò con người - cán bộ, công chức và người dân thể hiện trên
hai phương diện: chủ thể và khách thể của quá trình CCHC nhà nước ở Việt
Nam hiện nay.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận án không giải quyết những vấn đề lý luận
chung về con người cũng như những vấn đề chính trị, pháp luật, hành chính
cụ thể mà tập trung nghiên cứu, xem xét vai trò và sự liên đới của con người
trong môi trường CCHC, làm rõ mối quan hệ giữa con người trong vai trò
chủ thể, khách thể đối với việc thực hiện CCHC nhà nước từ sau Nghị quyết
TƯ l n thứ 8 Khóa VII (1/1995) về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà
nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, trọng tâm là cải cách một buớc nền hành
chính.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ
nghĩa Mác – Lênin, quan điểm của Đảng về con người, về nhà nước và
CCHC nhà nước.
- Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở phương pháp luận biện chứng
duy vật, bằng việc xem xét các vấn đề về con người trong tính lịch sử - cụ
thể, trong tính hệ thống với cấu trúc nhiều thành tố và sử dụng các biện pháp
phân tích, tổng hợp, đối chiếu…, luận án đặt con người trong bối cảnh hoạt
động CCHC nhà nước ở Việt Nam hiện nay để nhận diện các chiều hướng
tác động từ con người và ảnh hưởng tới con người trong hoạt động này.
6. Đóng góp mới của luận án
- Luận án phân tích làm rõ sự tác động của con người và sự biến đổi
của con người trong quá trình cải cách hành chính nhà nước – một môi
trường cụ thể nhưng có tính chất tất yếu và phổ biến hiện nay; góp ph n phát
12
triển con người và chiến lược con người cho công cuộc cải cách hành chính
nhà nước ở Việt Nam;
- Bổ sung thêm các nhận thức cho chiến lược phát triển con người
Việt Nam trong quá trình đổi mới đất nước.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Về lý luận, luận án góp ph n phát triển lý luận về con người cho
công cuộc CCHC nhà nước ở Việt Nam
- Về thực tiễn, luận án góp ph n vào việc nhận thức và thúc đẩy quá
trình CCHC nhà nước ở Việt Nam.
Luận án có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu
có liên quan.
8. Kết cấu của luận án
Ngoài ph n mở đ u, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo luận án
được kết cấu làm 3 chương, 10 tiết.
13
CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CON NGƢỜI VÀ
HOẠT ĐỘNG CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC
1.1. Khái lƣợc quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin về vị trí và
vai trò của con ngƣời trong đời sống xã hội
1.1.1. Con người - chủ thể của các quá trình xã hội
Xã hội của con người dù ở trình độ phát triển cao hay thấp, dù được
thừa nhận hay không được thừa nhận thì trong mỗi sự kiện, mỗi quá trình xã
hội luôn có sự hiện diện của con người. Con người luôn là hạt nhân, là mắt
xích trong bất cứ mối quan hệ, cơ cấu xã hội nào. Sự tham gia của con người
vào các mối quan hệ, các sự kiện xã hội có thể không giống nhau. Trong
những mối quan hệ, những quá trình xã hội cụ thể, sự tham gia của con
người có thể là một nhóm nhỏ, một t ng lớp, giai cấp nhưng cũng có thể là
cả một dân tộc, thậm chí là của toàn nhân loại. Tính chất, mức độ tham gia
của con người vào các mối quan hệ, các quá trình xã hội cũng không hoàn
toàn giống nhau. Mỗi con người trong sự tồn tại thực tế của mình không chỉ
tham gia, tác động vào một quan hệ, vào một cơ cấu (hay quá trình) xã hội
nhất định mà bằng cách này hay cách khác, trực tiếp hay gián tiếp, bằng
phương tiện vật chất hay tinh th n, quân sự hay chính trị tham gia tác động
vào những mối quan hệ, quá trình xã hội khác và tạo nên những quan hệ xã
hội, những quá trình xã hội, những cơ cấu xã hội đa dạng, phức tạp. Nói
khác đi, bất cứ cơ cấu nào trong xã hội cũng đều hình thành từ những hoạt
động của con người, trong mối quan hệ với con người cho dù con người có ý
thức được điều đó hay không. Do vậy, không thể tách các cơ cấu, các quá
trình xã hội khỏi con người và xem nó như là một cái gì đó hết sức trừu
tượng và tự thân. Mọi vật, mọi quá trình, mọi tư tưởng xã hội đều nằm trong
14
sự liên hệ của con người, với con người và những mối quan hệ giữa con
người với con người, tạo nên quan hệ xã hội.
Con người là hạt nhân để tạo nên quan hệ, cơ cấu xã hội. Nhưng trong
các quan hệ xã hội, cơ cấu xã hội con người không thụ động. Trong mỗi thời
đại, mỗi điều kiện, hoàn cảnh, ở địa vị xã hội cụ thể với trình độ, sự liên kết
cụ thể… con người tham gia vào các mối quan hệ, các cơ cấu xã hội theo
một mức độ và cách thức riêng của mình. Sự tham gia của con người không
chỉ tạo ra những mối quan hệ, những cơ cấu xã hội hiện thực mà còn điều
chỉnh, hướng sự biến đổi, phát triển của những mối quan hệ, những quá trình
(cơ cấu xã hội) theo những lợi ích, ý muốn của mình. Với ý nghĩa như vậy,
có thể nói con người sáng tạo ra đời sống xã hội.
Tuy nhiên quan niệm của con người sáng tạo ra đời sống xã hội theo
quan niệm của chủ nghĩa duy vật lịch sử hoàn toàn xa lạ với quan niệm tuyệt
đối hoá con người - cái quan niệm coi con người là “tâm điểm của sự sáng
tạo, con người là sinh vật đồng nhất với tạo hoá, nghĩa là cũng có thể sáng
tạo và trở thành trung tâm của vũ trụ”và “phương thức giải quyết các vấn đề
triết học xuất phát không phải từ thế giới đến con người, mà ngược lại từ
con người đến thế giới”. Con người là sáng tạo, nhưng là sự sáng tạo trên cơ
sở của sự tồn tại của thế giới khách quan. Con người là “trung tâm” của hệ
thống xã hội đơn giản vì con người gắn kết hữu cơ với hệ thống ấy. Thông
qua xã hội con người mới có được bản chất xã hội của mình. “… Con người
bẩm sinh đã là một động vật xã hội…Nếu như con người bẩm sinh đã là một
sinh vật có tính xã hội thì do đó con người chỉ có thể phát triển bản tính chân
chính của mình trong xã hội và c n phải phán đoán lực lượng của bản tính,
của anh ta không phải căn cứ vào lực lượng của cá nhân riêng lẻ mà căn cứ
vào lực lượng của toàn xã hội” [60, tr. 199 - 200].
Như vậy, con người không chỉ là nhân tố, một mắt khâu của mọi quan
15
hệ, quá trình, cơ cấu xã hội mà còn là một nhân tố chủ động, tác động tích
cực, theo lợi ích vào sự hình thành, vận động, biến đổi của các quan hệ xã
hội, các quá trình xã hội mà nó tham gia. Với tính chất đó, con người khẳng
định được vị trí chủ thể của mình trong mọi quá trình xã hội. Việc nghiên
cứu xem xét một quá trình nào đó mà tách riêng hoặc hạ thấp vị trí, vai trò
của con người sẽ không chỉ làm mất đi tính tích cực của con người mà còn
làm cho hệ thống trở nên méo mó, không hoàn chỉnh.
1.1.2. Con người - khách thể trong đời sống xã hội
Nếu xét con người trong quan hệ với thế giới một cách tự nhiên, thì
mọi sự vật hiện tượng bao quanh con người là nhân tố quyết định sự hình
thành con người cùng các phẩm chất và khả năng của nó, cùng với thông tin
là nội dung của thế giới bên ngoài, được thể hiện trong sự nhận thức của con
người. Tuy nhiên, con người lại không hoạt động tự nó một cách đơn độc
trong cái thế giới ấy. Quan hệ của con người với thế giới bao giờ cũng được
thực hiện thông qua quan hệ với những người khác. Thực tế cho thấy, quan hệ
của con người với thế giới xung quanh, với những người khác càng đa chiều,
thì các phẩm chất tâm lý của con người càng phong phú và biểu hiện cuộc
sống của con người càng phức tạp và đa dạng. Tất cả những điều này kh ng
định nhân tố quyết định sự hình thành phẩm chất xã hội của mỗi cá nhân là
các quan hệ xã hội mà trước hết là những quan hệ kinh tế, sự giao tiếp với
người khác mà trực tiếp với những người đương đại, cũng như gián tiếp là
thông qua kinh nghiệm sản xuất, xã hội - chính trị, tinh th n được lưu trữ
trong thông tin xã hội. C. Mác và F.
ngghen đã nhiều l n nhấn mạnh: Cá
nhân là một thực thể xã hội… cá nhân bao giờ cũng là một con người nhất
định, cụ thể, một con người hiện thực đang sống kết hợp ở mình sự phong
phú của cái chung, cái riêng và cái đơn nhất.
Song bất cứ một xã hội người nào cũng là một hệ thống hết sức đa dạng
16
và phức tạp. Trong đó, phương thức sản xuất của cải cùng với tổ chức chính
trị đặc thù của xã hội, đặc biệt là thể chế nhà nước, các hình thái ý thức xã hội
như chính trị, pháp quyền, tôn giáo, đạo đức, thẩm mỹ… được kết hợp lại
thành một thể thống nhất. Do vậy, những phẩm chất của cá nhân cũng được
hình thành một cách đa dạng tương ứng. Trong một nền sản xuất cụ thể, hoạt
động vật chất, hoạt động sản xuất của một xã hội cụ thể, các quan hệ kinh tế
hình thành trong quá trình sản xuất và ở những trình độ lịch sử khác nhau của
sự phát triển của chúng đã sản sinh ra những kiểu cá nhân xã hội khác nhau
như: nông lệ hoặc chủ nô, nông nô hoặc lãnh chúa phong kiến, công nhân
hoặc nhà tư bản.v.v.. Nói một cách khác, đời sống kinh tế - xã hội của một xã
hội cụ thể trong lịch sử sản sinh ra những biểu hiện của đời sống xã hội của
con người cụ thể, quy định vị trí của người đó trong một hệ thống sản xuất xã
hội.
Các quan hệ xã hội vốn có của một xã hội như quan hệ giai cấp, quan
hệ dân tộc cùng những quan hệ khác thông qua những cá nhân mang những
quan hệ ấy tất yếu sản sinh ra những đặc điểm giai cấp, dân tộc và những đặc
điểm cá nhân khác. Tất cả những cái đó là những biểu hiện của đời sống xã
hội của con người. Trong một giai cấp nhất định, con người trong giai cấp đó
có những phẩm chất riêng, đặc thù. Mỗi con người cụ thể nào cũng đều có
những biểu hiện nhất định của đời sống tinh th n của cá nhân – những tư
tưởng và tình cảm, những quyền lợi, những ý định và mục đích.v.v. hình
thành do tác động trực tiếp của đời sống kinh tế - xã hội, đời sống tinh th n xã
hội hay của tập thể mà cá nhân này sống và phát triển, hay từ những tư tưởng
của các giá trị tinh th n đang thống trị trong xã hội đó.
Trong bất kỳ một chỉnh thể xã hội nào mà một cá nhân thuộc vào và tất
yếu phải có quan hệ với nó một cách trực tiếp hoặc gián tiếp sẽ làm nảy sinh ở
cá nhân những biểu hiện nhất định của đời sống của người đó. Những biểu
17
hiện đó là tổ hợp những đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân, biểu hiện
bản sắc và giá trị xã hội của con người kết hợp với các phẩm chất sinh học
hợp thành cá nhân như là một hệ thống hoàn chỉnh. Trong sự thống nhất, tác
động qua lại và hoạt động, trong sự phối hợp và lệ thuộc của nó, các yếu tố
hợp thành đã hoàn thiện cá nhân như một chỉnh thể, như một hệ thống hoàn
chỉnh.
Như vậy, bản thân con người cũng là khách thể theo nghĩa nó được
đối tượng hóa, là hình thái có tổ chức cao nhất của vật chất. Bản chất của
con người là tổng hòa các quan hệ xã hội cũng là khách quan. C. Mác đã
viết:
Nếu con người là một cá nhân đặc thù nào đó và chính là tính
đặc thù của nó làm cho nó thành ra một cá nhân và một thực thể
xã hội cá thể hiện thực, thì trong mức độ như thế, nó cũng là một
tổng thể trong ý niệm, một tồn tại cho mình - chủ quan của xã
hội đang được tư duy và đang được cảm giác, cũng giống như
trong hiện thực nó tồn tại một mặt như là sự trực quan tồn tại xã
hội và sự hưởng dụng tồn tại ấy một cách hiện thực và mặt khác,
như tổng thể của sự biểu hiện sinh hoạt của con người [68, tr.
171-172].
Tính toàn vẹn, tính tổng thể của cá nhân là cơ sở cho tính thống nhất,
tính chỉnh thể của những biểu hiện đa dạng trong đời sống xã hội ở mỗi con
người. Mỗi biểu hiện này đều là sự phản ánh cụ thể, đặc thù của một quan hệ
xã hội nhất định, là sản phẩm của hoạt động xã hội. Và ngược lại, trong tính
tổng thể, trong sự thống nhất của biểu hiện của đời sống cá nhân lại là sản
phẩm và sự biểu hiện của tổng thể, của tất cả tính đa dạng của các quan hệ xã
hội, của chính những quan hệ mà thông qua chúng một cá nhân được gắn bó
với những người khác. Bất kỳ cá nhân nào cũng là toàn vẹn theo nghĩa là
18
những biểu hiện của đời sống vốn có ở họ không tách rời nhau, nằm trong
mối liên hệ qua lại với nhau và tạo thành nhân cách trong tính tổng hòa của
chúng. Tuy nhiên, mức độ hoàn chỉnh, tính vững chắc của những liên hệ qua
lại giữa các biểu hiện của cá nhân trong điều kiện lịch sử đều phụ thuộc vào
tính chất của cái chỉnh thể xã hội (hình thái kinh tế và giai cấp) mà cá nhân đó
thuộc vào. Nói khác đi, nó bị biến đổi tùy theo sự thay đổi và phát triển của xã
hội, môi trường xã hội. Dưới góc độ này, con người là khách thể bởi nó là kết
quả của những quá trình xã hội, của đời sống xã hội.
1.1.3. Con người trong hệ thống quản lý, tổ chức xã hội – chính trị
Hệ thống quản lý, tổ chức xã hội nói chung và hệ thống quản lý xã hội
- chính trị là một tiểu hệ của hệ thống xã hội. Hệ thống tổ chức, quản lý xã
hội mang tính chất chính trị, được pháp luật quy định còn được gọi với một
tên khác là hệ thống hành chính. Trong những hệ thống này, con người tất
yếu vẫn giữ vai trò vừa là khách thể vừa là chủ thể hoạt động của hệ thống.
Với tính độc lập tương đối, hệ thống quản lý, tổ chức xã hội có những đặc
thù của nó. Chức năng cơ bản của hệ thống này là hợp nhất sự hoạt động và
phát triển của các hệ thống khác, đảm bảo sự tác động qua lại và sự trao đổi
lẫn nhau các sản phẩm hoạt động của chúng trong một trật tự hợp lý. Khác
với các loại hệ thống tự động, bản thân đã sẵn có những chương trình tác
động qua lại giữa các thành tố hữu cơ của nó, các hệ thống tổ chức, quản lý
được tiêu biểu bởi kiểu tác động qua lại thông qua thông tin xã hội tạo sự
liên kết với các thành tố.
Các hệ thống tổ chức, quản lý có một mạng lưới riêng những kênh
liên hệ cho phép nhiều khâu khác nhau trao đổi thông tin với nhau để đảm
bảo sự hoạt động và phát triển ăn khớp với rất nhiều hệ thống khác.
Các hệ thống tổ chức xã hội – chính trị chịu tác động lớn từ những lợi
ích, nhu c u của con người, của tập thể, của các tập đoàn xã hội. Toàn bộ
19