Tải bản đầy đủ (.doc) (16 trang)

Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế- công bằng xã hội và bảo vệ môi trường.doc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (221.89 KB, 16 trang )

LỜI MỞ ĐẦU
Sau 24 năm đổi mới (1986 - 2010), Việt Nam hôm nay đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật
trong nhiều lĩnh vực: kinh tế, xã hội. Đặc biệt, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước
chuyển mình đáng kinh ngạc, trong những năm gần đây,đối mặt với suy thoái kinh tế, nhưng
tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam luôn ở mức khá cao so với các nước trong khu vực
và trên thế giới. Năm 2010, Việt Nam đã là nước thoát nghèo. Đời sống tinh thân và vật chất
của người dân được cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên, trong quá trình nỗ lực phát triển không
ngừng, chúng ta đã và đang phải gánh chịu những hậu quả nặng nề của bên kia con dốc tăng
trưởng: môi trường sống và làm việc bị ô nhiễm trầm trọng do việc xử lý chất thải công
nghiệp chưa thỏa đáng, do đô thị hóa tăng nhanh không kèm theo các quy định chặt chẽ về
bảo vệ môi trường; khoảng cách giàu nghèo ngày càng bị nới rộng,…
Từ thực tế ấy, người ta tự hỏi: chẳng lẽ muốn có tăng trưởng thì buộc phải hủy hoại môi
trưởng? Đã chấp nhận giàu nghèo phải chấp nhận cả phân hóa xã hội sâu sắc? Nếu không thì
liệu có định hướng nào để giải quyết thực trạng đáng buồn hiện nay?
1
I. Khái niệm tăng trưởng và các chỉ tiêu đo lường:
1. Khái niệm:
Tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên về số lượng, chất lượng, tốc độ, quy mô sản lượng nền
kinh tế trong một thời kì nhất định. Sự tăng trưởng được so sánh với thời gian gốc sẽ cho
biết mức độ tăng trưởng. Đó là sự gia tăng về quy mô sản lượng nhanh hay chậm so với
năm gốc.
2. Các chỉ tiêu đo lường tăng trưởng kinh tế:
Trên thế giới hiện nay người ta dựa vào mức gia tăng của tổng giá trị hàng hoá và của cải
của xã hội bằng các đại lượng: Tổng sản phẩm quốc dân hoặc tổng sản phẩm quốc nội.
Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) là tổng giá trị tính bằng tiền của hàng hoá và dịch vụ mà
một nước sản xuất ra từ các yếu tố của mình(dù la ở nước ngoài) trong một thời kì nhất định
(thường là 1 năm).
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là tổng giá trị tính bằng tiền của tổng giá trị hàng hoá và
dịch vụ sản xuất ra trong một nước (tính cả người nước ngoài) trong 1 thời kì (thường là 1
năm).
GNP và GDP là 2 thước đo tiện lợi nhất để đo lường tăng trưởng kinh tế của 1 nước biểu


hiện thông qua giá cả. Vì vậy để tính đến yếu tố lạm phát người ta nhận định GDP và GNP
danh nghĩa và GDP, GNP thực tế. GDP và GNP danh nghĩa được tính theo giá hiện hành
của năm tính còn GDP và GNP thực được tính theo giá của năm gốc mức tăng trưởng danh
nghĩa và mức tăng trưởng thực tế. Do đó ta phân biệt được chỉ số thực và chỉ số danh nghĩa
của 2 chỉ tiêu này.
3. Thực trạng:
Kinh tế việt nam trong những năm gần đây có mức tăng trưởng khá cao so với các nước
trong khu vực và trên thế giới.mặc dù vừa qua kinh tế việt nam đã đương đầu với thử thách
lớn nhưng vẩn đứng vững và tiếp tục tăng trưởng.
Bằng chứng là 6 tháng đầu năm 2010 tốc độ tăng trưởng ước đạt 6%.Chỉ số CIP tăng 4,78%
mức tăng này thấp so với năm ngoái.
Dưới đây là biểu đồ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam từ 1997-2009:
(
Số liệu GDP từ 1997 đến 2007 được lấy từ nguồn của Tổng cục Thống kê, E là con số ước
tính)
2
Và một số chỉ tiêu chủ yếu 8 tháng đầu năm 2010 (tăng/giảm) so với cùng kỳ năm ngoái (%)
Giá trị sản xuất công nghiệp +13.7
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng +26.1
Tổng kim ngạch xuất khẩu +19.7
Tổng kim ngạch nhập khẩu +24.6
Khách quốc tế tới Việt Nam +35.3
Vốn đầu tư NSNN thực hiện so với kế hoạch năm 73.7
Chỉ số giá tiêu dùng 8 tháng đầu năm 2010 so với cùng kỳ năm 2009 +8.61

(Thông tin từ Tổng Cục Thống Kê ngày 30/8/2010)
II. Mối quan hệ giữa môi trường với tăng trưởng kinh tế xã hội:
Bước vào thế kỉ XXI, với sự tăng tốc của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa,
chúng ta đang phải đương đầu với thách thức lớn trên con đường phát triển đó là vấn đề về
môi trường. Có thể nói môi trường tự nhiên mà chúng ta đang sống đã và đang bị suy thoái

trầm trọng. Môi trường đô thị và các khu công nghiệp, nhất là các vùng phát triển kinh tế
trọng điểm, đã bị ô nhiễm do chất thải các loại không được thu gom và xử lí kịp thời. Khí
thải, nước thải, bụi, tiếng ồn, cộng với cơ sở hạ tầng quá yếu kém làm cho điều kiện vệ
sinh, sức khỏe nhiều nơi bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Môi trường biển đã bắt đầu bị ô
nhiễm, hàm lượng các chất hữu cơ, chất dinh dưỡng, kim loại nặng, vi sinh, hóa chất nông
nghiệp ở một số nơi đã vượt mức cho phép. Nguồn tài nguyên nước nhiều nơi đang bị cạn
kiệt dần về lượng, suy giảm về chất. Việt Nam là nước thứ 2 trên thế giới chịu ảnh hưởng
nặng nề của biến đổi khí hậu. Khí hậu thay đổi theo chiều hướng nóng lên,các lỗ thủng của
tầng ozon ngày càng lớn, mực nước biển dâng lên, mưa axit, mưa lớn, hạn hán đang ngày
càng gia tăng, gây ra hàng loạt ảnh hưởng xấu đến sản xuất và đời sống ở nhiều vùng…
Tình trạng môi trường bị ô nhiễm và suy thoái như đã nêu trên là hậu quả của cả một thời
gian dài trước đây chúng ta chưa quan tâm đầy đủ đến nhiệm vụ bảo vệ môi trường trong
các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, trong quy hoạch phát triển đô thị và công nghiệp ,
trong quy hoạch phát triển các vùng kinh tế, trong xây dựng đầu tư các công trình cụ thể…
vậy thì chúng ta sẽ xem xét vai trò của môi trường đối với nền kinh tế để thấy được tầm
quan trọng và tại sao chúng ta lại phải đưa nhiệm vụ bảo vệ môi trường vào trong các kế
hoạch phát triển kinh tế xã hội.
1. Vai trò của môi trường đối với cuộc sống con người:
Môi trường có quan hệ trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người.
Môi trường là nơi cung cấp nguyên nhiên vật liệu cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh.
Để đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh, con người cần phải khai thác các loại tài
nguyên thiên nhiên trong môi trường. Tài nguyên có trong thạch quyển, thủy quyển, khí
quyển và trong sinh quyển. Điều không thể phủ nhận là mọi thứ trong cuộc sống hàng ngày
của chúng ta từ thức ăn, vải vóc, sách vở, đến các phương tiện vận tải (xe máy, tàu thuyền,
…) hay các phương tiện giải trí (ti vi, điện thoại,..) , hoặc đều trực tiếp lấy từ môi trường
thiên nhiên thông qua quá trình sản xuất. Ở Việt Nam, hàng trăm mỏ quặng đã được khai
thác, làm nguyên liệu cho các ngành công nghiệp trong nước cũng như để phục vụ xuất
khẩu đã giải quyết được không ít công ăn việc làm cho người lao động. Trên thế giới, những
3
Môi trường thiên nhiên

quốc gia có nguồn tài nguyên dồi dào và phong phú (nhất là các tài nguyên không được tái
sinh) là một lợi thế rất lớn cho việc chủ động để phát triển và ổn định kinh tế. Ngày nay, khi
cơ cấu đang chuyển dần từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ thì những nước giàu
tài nguyên thiên nhiên, khí hậu hiền hòa lại là điểm đến hấp dẫn thu hút đầu tư nước ngoài
(tất nhiên ngoài ra còn các yếu tố khác nữa như chính trị, văn hóa,..)
Môi trường là nơi chứa đựng phế thải của mọi quá trình sản xuất và tiêu dùng. Mọi hoạt
động của con người từ quá trình khai thác đến sản xuất và tiêu dùng đều thải chất thải ra
môi trường.
Hai chức năng quan trọng đó của môi trường tuần hoàn với áp lực tốc độ gia tăng theo nhu
cầu ngày càng cao của con người. Ta có thể tóm lược giản đơn bằng sơ đồ sau:

Nền kinh tế
Hàng hóa và dịch vụ
Vốn và lao động

Hệ thống kinh tế môi trường
Môi trường là nơi con người sinh sống do đó nó tạo ra những giá trị phúc lợi, giá trị cảnh
quan thẩm mĩ. Con người chỉ tồn tại và phát triển trong môi trường thích hợp. Nhưng càng
ngày thì môi trường sống càng bị ô nhiễm do các hoạt động của chính con người.
2. Tác động tiêu cực của tăng trưởng kinh tế đối với môi trường:
Phát triển lấy tăng trưởng kinh tế làm trọng tâm, không quan tâm tới môi trường đang đẩy
xã hội loài người vào vòng xoáy của sự luẩn quẩn, trong đó việc tăng trưởng kinh tế- suy
thoái tài nguyên môi trường - xói mòn văn hóa xã hội- tăng trưởng kinh tế… sẽ nhanh
chóng tiến đến giai đoạn khủng hoảng của xã hội loài người.
Tài
nguyên
4
Nhà sản xuất Hộ gia đình
Chất thải


Vòng luẩn quẩn - mô hình phát triển không bền vững
Môi trường ngày càng bị suy thoái nghiêm trọng, gây tổn thương cho con người đang sống
ở hiện tại và cho cả thế hệ tương lai.
Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là để làm kinh tế và đạt bằng được
các mục tiêu kinh tế, các mối liên quan về môi trường sinh thái đã bị bỏ qua, thiếu sự tôn
trọng khi ứng dụng khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật. Đối với các nước đang phát
triển, nguồn tài nguyên thiên nhiên có vai trò rất to lớn, đóng góp đáng kể vào tỉ lệ tăng
trưởng kinh tế. Song, nếu khai thác nguồn tài nguyên này một cách quá mức thì sẽ làm cho
hệ sinh thái bị mất cân đối nghiêm trọng, ô nhiễm môi trường gia tăng. Đó chính là hậu quả
lớn nhất do tăng trưởng kinh tế mà không quan tâm đến việc bảo vệ môi trường gây ra. Dẫn
đến tình trạng ngày càng nhìn thấy rõ giới hạn của sự tăng trưởng là việc chuyển đổi từ
trạng thái con người bị thiên nhiên đe dọa và phải chống lại nó trước đây, sang trạng thái
con người đang đe doạ thiên nhiên, xâm hại đến môi trường, trong khi môi trường là yếu tố
không thể thiếu cho sự tồn tại và phát triển của chính con người.
Hiện nay chúng ta đang phải đương đầu với hàng loạt các vấn đề về môi trường như sự hủy
hoại tầng ozone, biến đổi khí hậu, mưa acid, chặt phá rừng, mất đa dạng sinh học, xói mòn
đất, sa mạc hóa, lũ lụt, chất thải nguy hiểm, thiếu nước sạch, khai thác quá mức các nguồn
lực và các nguồn năng lượng không có khả năng tái tạo. Theo nhiều dự báo, nếu con người
cứ khai thác như mức hiện nay, trong số các tài nguyên khoáng vật (tài nguyên không tái tạo
được) có thể duy trì thì sắt được 173 năm, than được 150 năm, nhôm được 55 năm, đồng
được 48 năm, vàng được 29 năm; các nguồn tài nguyên sinh vật, rừng rậm trong 170 năm
nữa sẽ bị đốn hết, trong đó, mưa rừng nhiệt đới có thể hết sau 40 năm nữa. Các nhà khoa
học chỉ ra rằng, hiện nay trên trái đất đã không còn tìm thấy một vùng đất nào hoàn toàn
không bị ô nhiễm. Sự ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng không chỉ tạo ra khủng
hoảng sinh thái mà còn tạo ra khủng hoảng sinh tồn của con người.
Cũng giống như một số nước đang phát triển khác, môi trường bị hủy diệt chính là mặt trái
của tăng trưởng ở Việt Nam. Tình trạng ô nhiễm môi trường do tăng trưởng kinh tế gây ra ở
Việt Nam là điều không tránh khỏi, đang là một trong những vấn đề bức xúc đòi hỏi phải
giải quyết hiện nay. Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế quốc tế, tăng trưởng kinh tế
Việt Nam trong những năm qua rất ngoạn mục. Tuy nhiên, nhiều tổ chức quốc tế đã cảnh

5
Sản xuất
Xói mòn văn
hóa xã hội
Xung đột
môi
trường
Xả thải, ô nhiễm
môi trường
Tiêu thụ
Cạn kiệt
tài nguyên
báo Việt Nam rằng, chúng ta không thể chạy theo các chỉ số tăng trưởng kinh tế mà bất chấp
tình trạng môi trường sống đang bị hủy diệt quá nhanh.
Tăng trưởng kinh tế Việt Nam rất ngoạn mục, nhưng cái giá phải trả là môi trường bị tàn
phá nặng nề. Trong quá trình phát triển, nhất là trong thập kỷ vừa qua, các đô thị lớn như Hà
Nội, thành phố Hồ Chí Minh, đã gặp phải nhiều vấn đề môi trường ngày càng nghiêm trọng,
do các hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải và sinh hoạt gây ra.
Tại thành phố Hồ Chí Minh có 25 khu công nghiệp tập trung hoạt động với tổng số 611 nhà
máy trên diện tích 2298 ha đất. Theo kết quả tính toán, hoạt động của các khu công nghiệp
này cùng với 195 cơ sở trọng điểm bên ngoài khu công nghiệp, thì mỗi ngày thải vào hệ
thống sông Sài Gòn - Đồng Nai tổng cộng 1.740.000 m3 nước thải công nghiệp, trong đó có
khoảng 671 tấn cặn lơ lửng, 1.130 tấn BOD5 (làm giảm nhu cầu ôxy sinh hoá), 1789 tấn
COD (làm giảm nhu cầu ôxy hoá học), 104 tấn Nitơ, 15 tấn photpho và kim loại nặng.
Lượng chất thải này gây ô nhiễm cho môi trường nước của các con sông vốn là nguồn cung
cấp nước sinh hoạt cho một nội địa bàn dân cư rộng lớn, làm ảnh hưởng đến các vi sinh vật
và hệ sinh thái vốn là tác nhân thực hiện quá trình phân huỷ và làm sạch các dòng sông.Hiện
nay vấn đề vi phạm môi trường của các doanh nghiệp tại Việt Nam đang diễn ra thường
xuyên và có tính hệ thống. Việc hành xử coi nhẹ môi trường của các doanh nghiệp diễn ra
rất phổ biến, coi thường luật pháp và gây ra nhiều bức xúc trong dư luận. Điển hình như

việc công ty Huyndai Vinashin bị bắt quả tang chôn trộm 60 tấn chất thải nguy hại vào ngày
11/7/2008 tại Khánh Hòa. Đặc biệt là vụ xả chất thải chưa qua xử lý của công ty Vedan
trong thời gian kéo dài lien tục trong 14 năm với mức độ vi phạm cực kỳ nghiêm trọng, bị
cơ quan chức năng phát hiện vào ngày 13/09/2008. Hàng tháng công ty này có đến 105.600
m3 dịch thải sau lên men từ quá trình sản xuất không qua xử lý đã được xả trực tiếp ra sông
Thị Vải gây thiệt hại rất lớn cho môi trường và cho những người dân sống dọc theo sông
Thị Vải của tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, tỉnh Đồng Nai và Thành Phố Hồ Chí Minh. Ngày
14/4/2010 công ty Tung Kuang tại Hải Dương bị công an môi trường phát hiện xả nước thải
chưa qua xử lý ra môi trường với nhiều hóa chất độc hại như Chrome 6 (cao gấp 10 lần tiêu
chuẩn cho phép), mangan, sắt... có hàm lượng vượt quy định. Ngày 20/8/2010 công an môi
trường tỉnh Bình Dương bắt quả tang công ty Vinamit xả mỗi ngày 40m3 chất thải chưa qua
xử lý…
Do năng lực kiểm soát môi trường của chúng ta không theo kịp sự phát triển là một trong
những nguyên nhân khiến cho việc bảo vệ môi trường còn gặp nhiều khó khăn. Hàng rào
pháp lý lỏng lẻo, những quy định xử phạt chưa thích đáng, còn nhẹ tay dẫn đến tình trạng
các doanh nghiệp coi thường việc bảo vệ môi trường. Trên thực tế hiện nay rất nhiều doanh
nghiệp cố tình lách luật, khi không thể lách được họ mới miễn cưỡng chấp hành pháp luật.
Với những cách hành xử như vậy của các doanh nghiệp đã làm cho tình trạng ô nhiễm môi
trường ở Việt Nam hiện nay rất đáng báo động.
Môi trường Việt Nam đang xuống cấp nghiêm trọng, chi phí bảo vệ môi trường có thể sẽ
tiêu hết những thành quả có được từ tăng trưởng kinh tế nếu ta chỉ quan tâm đến phát triển
kinh tế mà quên đi yếu tố môi trường.
Bản tổng kết môi trường toàn cầu do Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) mới
công bố cho thấy Việt Nam có hai thành phố nằm trong danh sách 6 thành phố bị ô nhiễm
không khí nghiêm trọng nhất trên thế giới. Theo tiến sĩ Hoàng Dương Tùng - Giám đốc
Trung tâm Quan trắc và thông tin môi trường thuộc Cục Bảo vệ môi trường (Bộ Tài nguyên
và Môi trường), Việt Nam đối mặt với tất cả các vấn đề được nêu trong báo cáo. Về nồng
độ bụi, hai thành phố lớn nhất Việt Nam là Thành Phố Hồ Chí Minh và Hà Nội chỉ đứng sau
Bắc Kinh, Thượng Hải, New Delhi và Dhaka. Mối đe doạ tiềm tàng này chắc chắn sẽ cản
trở quá trình phát triển hơn nữa của các thành phố này.

6

×