Tải bản đầy đủ (.docx) (27 trang)

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (176.72 KB, 27 trang )

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU
NGÀNH KINH TẾ VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI CHUYỂN DỊCH CƠ
CẤU NGÀNH KINH TẾ
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ
1. Cơ cấu kinh tế và cơ cấu ngành kinh tế
1.1. Cơ cấu kinh tế
Trong các tài liệu kinh tế có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm
cơ cấu kinh tế. Các cách tiếp cận này thường bắt đầu từ khái niệm "cơ cấu". Là
một phạm trù triết học, khái niệm cơ cấu được sử dụng để biểu thị cấu trúc
bên trong, tỷ lệ và mối quan hệ của các bộ phận hợp thành của một hệ thống.
Cơ cấu được hiểu như là tập hợp các mối quan hệ liên kết hữu cơ, các yếu tố
khác nhau của một hệ thống nhất định. Cơ cấu là thuộc tính của hệ thống, do
đó khi nghiên cứu cơ cấu phải đứng trên quan điểm hệ thống.
Đứng trên quan điểm duy vật biện chứng và lý thuyết hệ thống có thể
hiểu: cơ cấu kinh tế là một tổng thể hợp thành bởi nhiều yếu tố kinh tế của nền
kinh tế quốc dân, giữa chúng có những mối liên hệ hữu cơ, những tương tác
qua lại cả về số lượng và chất lượng, trong những không gian và điều kiện
kinh tế xã hội cụ thể, chúng vận động hướng vào những mục tiêu nhất định. Cơ
cấu kinh tế bao gồm cơ cấu giữa các lĩnh vực sản xuất, trao đổi tiêu dùng; giữa
các ngành kinh tế công nghiệp, nông nghiệp, thương mại... Mỗi vùng, mỗi
ngành lại có cơ cấu kinh tế riêng của mình tuỳ thuộc vào điều kiện tự nhiên,
địa lý, kinh tế xã hội cụ thể.
Một cách tiếp cận khác thì cho rằng:cơ cấu kinh tế hiểu một cách đầy đủ
là một tổng thể hệ thống kinh tế bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ chặt chẽ với
nhau trong những không gian và thời gian nhất định, trong những điều kiện
kinh tế xã hội nhất định, cả về số lượng và chất lượng phù hợp với các mục
tiêu được xác định của nền kinh tế.
Trong cơ cấu kinh tế có sự thống nhất biện chứng giữa lực lượng sản
xuất và quan hệ sản xuất. Theo Mác, cơ cấu kinh tế của xã hội là toàn bộ những
quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản
xuất vật chất. Vì vậy có thể hiêủ: Cơ cấu kinh tế là tổng thể các quan hệ chủ yếu


về chất lượng và số lượng tương đỗi ổn định của các yếu tố kinh tế hoặc các bộ
phận của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong những điều kiện kinh
tế xã hội nhất định.
Từ việc tiếp cận cơ cấu kinh tế theo cách trên, có thể thấy cơ cấu kinh tế
có những đặc trưng sau:
- Cơ cấu kinh tế mang tính khách quan, luôn luôn phản ánh và chịu sự tác
động của các quy luật khách quan. Vai trò của các yếu tố chủ quan là thông
qua nhận thức ngày càng sâu sắc những quy luật đó phân tích đánh giá những
xu hướng phát triển khác nhau, thậm chí mâu thuẫn nhau để tìm ra phương
án thay đổi cơ cấu cho phù hợp với những điều kiện cụ thể của đất nước, cũng
như của từng địa phương, từng vùng, từng ngành trong quá trình phát triển
kinh tế. Đối với một quốc gia hay một ngành, một địa phương cơ cấu kinh tế
được nhận thức và phản ánh dưỡi chiến lược phát triển kinh tế xã hội, ở các
chương trình dự án, kế hoạch phát triển của nhà nước, của ngành hay của địa
phương.
- Cơ cấu kinh tế mang tính lịch sử xã hội, thực tế cho thấy nền kinh tế chỉ
phát triển được khi đã xác định được một mối quan hệ cân đối giưã các bộ
phận của quá trình tái sản xuất xã hội và phân công lao động xã hội. Cơ cấu
kinh tế luôn gắn liền với sự biến đổi không ngừng của bản thân các yếu tố, các
bộ phận trong nền kinh tế và mối quan hệ giữa chúng khì nào giải quyết tốt
mới diễn ra trôi chảy và đạt hiệu quả cao.
- Cơ cấu kinh tế luôn vận động và phát triển ngày càng hợp lý hơn, hoàn
thiện và hoàn thiện và đạt hiệu quả hơn. Đó là sự vận động và phát triển không
ngừng của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội ngày càng ở trình
độ cao hơn, phạm vi ngày mở rộng hơn. Khi tiến bộ khoa học và kỹ thuật công
nghệ tác động làm cho lực lượng sản xuất và cấu trúc của nó có sự biến đổi về
chất, khi đó sẽ tạo điều kiện cho con người ý thức để thực hiện có hiệu quả
chiến lược phát triển đồng bộ, hợp lý trong quá trình tái sản xuất xã hội ở từng
giai đoạn lịch sử cụ thể.
- Cơ cấu kinh tế vận động theo hướng ngày càng tăng cường mở rộng sự

hợp tác, phân công lao động trong nước và quốc tế. Trong nền kinh tế thị
trường, sự vận động khách quan của cơ cấu kinh tế theo hướng mở rộng sự
hợp tác và phân công lao động diễn ra không chỉ trong phạm vi mỗi ngành,
mỗi ngành, mỗi vùng, mỗi quỗc gia mà còn mở rộng ra các nước trong khu vực
và trên thế giới. Do đó, mỗi quốc gia muốn phát triển nhành cần xác định được
cơ cấu kinh tế trên cơ sở xác định được lợi thế của mình gắn với thị trường
trong nước và quốc tế, nhằm tạo ra cơ cấu kinh tế hợp lý, thúc đẩy nhanh quá
trình quốc tế hoá nền kinh tế quốc dân.
Dựa trên sự nhìn nhận dưới các khía cạnh khác nhau của quá trình phân
công lao động xã hội và tái sản xuất xã hội mà chúng ta có thể phân chia cơ
cấu kinh tế theo các loại khác nhau. Mỗi loại cơ cấu đều thể hiện tính chất cũng
như đặc trưng chủ yếu riêng có của nó, ở đây chúng ta có thể phân loại cơ cấu
kinh tế như sau:
- Xét trên sự phân công lao động theo ngành kinh tế ta có cơ cấu ngành kinh
tế
- Xét sự phân công lao động theo vùng kinh tế ta có cơ cấu vùng kinh tế.
- Xét về quan hệ sở hữu ta có cơ cấu thành phần kinh tế
- Xét về trình độ kỹ thuật ta có cơ cấu kinh tế kỹ thuật
- Cơ cấu tái sản xuất
......
Trong đó ba loại cơ cấu: cơ cấu ngành, cơ cấu vùng kinh tế, cơ cấu thành
phần kinh tế là những nội dung quan trọng nhất, phản ánh tập trung nhất
trình độ phát triển của phân công lao động xã hội. Với phạm vi nghiên cứu của
đề tài em xin đi sâu vào cơ cấu kinh tế ngành.
1.2. Cơ cấu ngành kinh tế
Colin Clark, nhà kinh tế học người Anh, đã đưa ra phương pháp phân
loại nền kinh tê theo ba ngành, ngành thứ nhất sản xuất những sản phẩm dựa
trên sự khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bao gồm nông nghiệp và
công nghiệp khai thác. Ngành thứ hai có chức năng gia công và chế biến sản
phẩm có nguồn gốc từ ngành thứ nhất, đó là ngành công nghiệp chế biến. Hai

ngành này đều là những ngành sản xuất của cải vật chất hữu hình. Còn ngành
thứ ba là ngành sản xuất các sản phẩm vô hình. Cách phân loại của Clark có
ảnh hưởng tương đối rộng rãi và đã được sử dụng phổ biến ở nhiều nước. Tuy
vậy cũng còn nhiều cách phân loại khác nhau. Để thống nhất cách phân loại
ngành. Liên Hợp Quốc đã ban hành "Hướng dẫn phân loại ngành theo tiêu
chuẩn quỗc tế đối với hoạt động kinh tế" theo tiêu chuẩn này có thể gộp các
ngành phân loaị thành ba khu vực. Khác với cách phân loại của Clark, theo tính
chất công việc Liên Hợp Quốc xếp công nghiệp khai thác vào khu vực I- là khu
vực công nghiệp. Như vậy, khu vực I là nông nghiệp và khu vực III là dịch vụ.
Trong quá trình hoạt động sản xuất, các ngành có mối quan hệ tác động
qua lại, thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển. Quan hệ giữa công nghiệp và nông
nghiệp là mối quan hệ truyền thống, xuyên suốt mọi giai đoạn phát triển xã
hội. Nông nghiệp yêu cầu cần có sự tác động của công nghiệp đối với tất cả các
yếu tố đầu vào, cũng như tiêu thụ sản phẩm đầu ra. Công nghiệp cung cấp cho
nông nghiệp phân bón hoá học, thuốc trừ sâu, các công cụ sản xuất, máy móc
thiết bị phục vụ cho việc cơ giới hoá sản xuất. Sản phẩm nông nghiệp qua chế
biến sẽ được nâng cao chất lượng và hiệu quả: Làm cho sản phẩm trở nên đa
dạng về mẫu mã, phong phú về khẩu vị, vận chuyển và dự trữ được thuận lợi.
Ngược lại, nông nghiệp cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, thực
phẩm cho công nhân lao động, cho mở rộng hoạt động sản xuất công nghiệp và
nó còn là thị trường lớn tiêu thụ sản phẩm công nghiệp.
Công nghiệp và nông nghiệp được gọi là các ngành sản xuất vật chất,
thực hiện chức năng sản xuất trong quá trình tái sản xuất. Để những sản phẩm
của hai ngành này đi vào tiêu dùng cho sản xuất hoặc tiêu dùng cho đời sống
phải trải qua phân phối và trao đổi. Những chức năng này do hoạt động dịch
vụ đảm nhận. Các hoạt động dịch vụ như thương mại, vận tải, thông tin, ngân
hàng, bảo hiểm... đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được liên tục. Không có
sản phẩm hàng hoá thì không có cơ sở cho các hoạt động dịch vụ tồn tại. Sản
xuất hàng hoá càng phát triển, đời sống nhân dân càng nâng cao thì nhu cầu
dịch vụ càng lớn. Như vậy, sự tác động qua lại giữa các ngành tạo điều kiện

thúc đẩy phát triển kinh tế.
Mối quan hệ giữa các ngành không chỉ biểu hiện về mặt định tính mà
còn được tính toán thông qua tỉ lệ giữa các ngành, thường được gọi là cơ cấu
ngành. Như vậy, cơ cấu ngành là mối quan hệ tỉ lệ giữa các ngành trong toàn
bộ nền kinh tế, mối quan hệ này bao gồm cả số lượng và chất lượng, chúng
thường xuyên biến động và hướng vào những mục tiêu nhất định. Cơ cấu
ngành là bộ phận rất quan trọng trong cơ cấu kinh tế, sự biến động của nó có ý
nghiã quyết định đến sự biến động của nền kinh tế.
2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành.
2.1. Khái niệm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành là sự thay đổi một cách có mục tiêu số
lượng ngành kinh tế quốc dân và mối quan hệ của các ngành đó với nhau trên
cơ sở phân tích đầy đủ căn cứ lý luận và thực tiễn, cùng với việc áp dụng đồng
bộ các giải pháp cần thiết để chuyển dịch cơ cấu ngành từ trạng thái này sang
trạng thái kia hợp lý và có hiệu quả hơn.
Chuyển dịch cơ cấu ngành được coi là một nội dung cơ bản lâu dài trong
quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nếu xác định phương hướng và các
giải pháp chuyển dịch đúng sẽ đảm bảo hiệu quả kinh tế xã hội cao trong sự
phát triển, ngược lại sẽ phải trả giá đắt cho sự phát triển về sau.
Trong thời đại ngày nay, trước sự thay đổi nhanh chóng của nhu cầu thị
trường và tiến bộ khoa học công nghệ, ở tất cả các nước đều đặt ra vấn đề
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu ngành kinh tế nói riêng. Riêng
đối với các nước đang phát triển, chuyển dịch cơ cấu ngành luôn gắn với công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Yêu cầu đặt ra là phải xác định được một
cơ cấu ngành kinh tế hợp lý, vùng trọng điểm, mũi nhọn cho phù hợp với mỗi
giai đoạn của công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của nền kinh tế thành công hay thất
bại đều phụ thuộc vào khâu quyết định chủ trương chuyển dịch và khâu tổ
chức thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đã xác định. Ở đây, vai trò của Nhà nước
là quyết định là quyết định trong việc hoạch định các chủ trương và chính sách

kinh tế vĩ mô, còn các doanh nghiệp lại có vai trò trong việc thực hiện các
phương hướng và nhiệm vụ chuyển dịch.
2.2. Các lý thuyết chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
Đã có rất nhiều học thuyết của các nhà kinh tế trên thế giới đã đề cập
đến vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Sau đây, đề tài chỉ xin đề cập tới
một số lý thuyết;
Học thuyết của C.Max
Vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế được C.Max đề cập chủ yếu
trong nội dung của hai học thuyết đó là học thuyết về phân công lao động xã
hội và học thuyết về tái sản xuất xã hội. C.Max cho rằng quá trình chuyển dịch
cơ cấu ngành kinh tế đạt hiệu quả khi có sưj chín muồi của các tiên đề sau:
- Theo Max, trong xã hội hình thành hai cực rõ ràng, khu vực nông thôn
và khu vực thành thị. Khu vực nông thôn chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, khu
vực thành thị gồm các hoạt động của các ngành công nghiệp, thương mại và
các ngành dịch vụ khác. Hai khu vực này có mối quan hệ khăng khít với nhau,
trong quá trình sản xuất và giao lưu buôn bán hai khu vực có mối liên hệ chặt
chẽ với nhau, cùng hỗ trợ nhau phát triển.
- Số lượng dân cư và mật độ dân cư. Các phương hướng chuyển dịch
đưa ra nhằm khắc phục tình trạng di dân từ khu vực nông thôn thành thị ngày
càng gia tăng nhưng đảm bảo sự phát triển của nền kinh tế và mối quan hệ
phát triển giữa hai khu vực.
- Năng suất lao động trong nông nghiệp được nâng cao đủ để cung cấp
những sản phẩm thiết yếu cho cả những người lao động trong nông nghiệp
cũng như người lao động thuộc các ngành nghề sản xuất khác.
Trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển kinh tế, nông nghiệp
truyền thống chi phối các hoạt động kinh tế nhưng sự phát triển của nông
nghiệp truyền thống này chưa đủ sức mạnh để thúc đẩy các ngành kinh tế khác
phát triển, trong xã hội chưa có sự chuyển biến lớn. Nhưng đến giai đoạn phát
triển tiếp theo của nền kinh tế có sự chuyển dịch từ nền nông nghiệp truyền
thống sang nền kinh tế công nghiệp- nông nghiệp- dịch vụ. Sự phát triển của

ngành công nghiệp thúc đẩy sự phát triển của ngành nông nghiệp cả chiều
rộng lẫn chiều sâu. Sự phát triển của ngành nông nghiệp và công nghiệp tất
yếu dẫn đến sự phát triển của ngành dịch vụ. Do nông nghiệp phát triển cho
nên mưc sống của người dân ở khuvực nông thôn luôn được cải thiện theo
hướng đi lên. Vì vậy, tình trạng di dân từ nông thôn ra thành thị ngày càng có
xu hướng giảm. Sự phát triển của ngành công nghiệp và ngành dịch vụ không
ngừng ảnh hưởng tới việc nâng cao năng suất lao động trong nông nghiệp, do
vậy sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là động lực thúc đẩy sự tăng trưởng
và phát triển của nền kinh tế quốc dân.
Lý thuyết về các giai đoan phát triển của Rostow
Rostow cho rằng quá trình phát triển kinh tế của bất cứ quốc gia nào
cũng trải qua năm giai đoạn phát triển:
- Xã hội truyền thống: Giai đoạn này sản xuất nông nghiệp giữ vai trò
chủ yếu, sản xuất bằng công cụ thủ công, kỹ thuật chưa phát triển. Tuy vậy nền
kinh tế không bị chững lại mà vẫn có sự tăng trưởng liên tục do áp dụng kỹ
thuật vào nông nghiệp, đặc biệt là thuỷ lợi.
- Giai đoạn chuẩn bị cất cánh: Công nghiệp bắt đầu được hình thành
thời kỳ nông nghiệp- công nghiệp có tác động thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
- Giai đoạn cất cánh: Công nghiệp ra đời và phát triển, đây là thời kỳ
công- nông nghiệp, nó cũng chính là giai đoạn trung tâm của sự phát triển.
- Giai đoạn tăng trưởng: Thời kỳ công nghiệp phát triển mạnh, giai đoạn
mà tỷ lệ đầu tư trên thu nhập quốc dân cao và xuất hiện nhiều cực tăng
trưởng mới.
- Giai đoạn mức tiêu dùng cao: Là giai đoạn kinh tế phát triển cao, sản
xuất nông nghiệp hàng hoá, thị trường linh hoạt và có hiện tượng giảm nhịp
độ tăng trưởng.
Như vậy, quan điểm của Rostow cho rằng, nền kinh tế phát triển theo xu
hướng chuyển dịch từ thời kỳ nông nghiệp truyền thống sang thời kỳ nông -
công nghiệp, thời kỳ công - nông nghiệp và dịch vụ, thời kỳ công nghiệp phát
triển mạnh.

Lý thuyết nhị nguyên (hai khu vực phát triển) của Athus Lewis.
Athus Lewis chia nền kinh tế thành hai khu vực cùng song song và tồn
tại, đó là khu vực nông nghiệp và khu vực công nghiệp. Lý thuyết này đề cập
đến mối quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp trong việc giải quyết lao
động dư thừa ở nông thôn. Giai đoạn đầu của quá trình phát triển kinh tế,
nông nghiệp phát triển chi phối các hoạt động kinh tế nhưng sau đó do sự dư
thừa lao động cho nên năng suất lao động trong nông nghiệp có chiều hướng
giảm. Bên cạnh đó do công nghiệp mới được hình thành cho nên cần nhiều lao
động dẫn đến sự di chuyển lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực
công nghiệp. Khoa học và kỹ thuật kết hợp với lao động thúc đẩy sự phát triển
của công nghiệp, công nghiệp phát triển tạo tiền đề cho nông nghiệp phát
triển. Nền kinh tế có sự chuyển dịch từ thời kỳ nông nghiệp thuần tuý sang
thời kỳ công - nông nghiệp phát triển.
Lý thuyết cân đối liên ngành
Theo lý thuyết này, tất cả các ngành kinh tế có liên quan chặt chẽ đến
nhau trong chu trình "đầu ra của ngành này là đầu vào của ngành kia". Do vậy,
muốn phát triển nền kinh tế phải phát triển cân đối các ngành.
Lý thuyết cơ cấu ngành không cân đối hay "cực tăng trưởng"
Lý thuyết này cho rằng nên duy trì một cơ cấu không cân đối vì nó phát
huy được các nguồn lực, khai thác được các ngành có khả năng làm đầu tàu
cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế và có sức lan toả rộng khắp cho các ngành
khác. Mặt khác, nó khắc phục được tình trạng khan hiếm nguồn lực khi chỉ
phải tập trung nguồn lực cho một số ngành nhất định.
2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế chịu tác động thường xuyên
của nhiều yếu tố khác nhau. Những yếu tố này được phân chia thành ba nhóm
yếu tố cơ bản: Nhóm các yếu tố tự nhiên, nhóm các yếu tố xã hội, nhóm các yêú
tố chính trị. Việc nghiên cứu tác động của các nhóm yếu tố này đến quá trình
chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế nhằm xác định đúng hướng chuyển dịch
thích hợp cho các ngành kinh tế trong quá trình tăng trưởng và phát triển.

* Nhóm các yếu tố tự nhiên
Bao gồm vị trí địa lý, khí hậu, đất đai, dân số và tài nguyên. Nhóm yếu tố
này quyết định lợi thế nguồn lực tự nhiên của từng địa phương, chúng có mối
quan hệ đan xen vào nhau, ảnh hưởng trực tiếp thường xuyên đến quá trình
phát triển kinh tế của địa phương. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trước hết
phải làm rõ các yếu tố này để từ đó nhìn nhận được các vấn đề thuận lợi cũng
như khó khăn trong suốt quá trình chuyển dịch.
- Vị trí địa lý: Tác động trực tiếp tới quá trình phát triển của tỉnh. Nếu
một tỉnh là đầu mối giao lưu kinh tế của vùng, đất nước như đầu mối giao
thông, cảng biển chính, cửa khẩu quan trọng...sẽ có điều kiện phát triển hơn
các tỉnh khác không có được những lợi thế đó. Bởi vì, vị trí địa lý tạo khả năng
giao lưu mạnh giữa các tỉnh nằm trong cùng một vùng với nhau, sự giao lưu
này thể hiện ở chỗ trao đổi hàng hoá, sản phẩm sản xuất, các nguồn lực như
lao động, vốn tài nguyên, khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý...giữa các tỉnh với
nhau, các vùng với nhau.
- Tài nguyên thiên nhiên: Bao gồm khí hậu, tài nguyên đất đai, khoáng
sản, tài nguyên biển, tài nguyên rừng. Tài nguyên thiên nhiên đóng vai trò là
nguồn nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp, là yếu tố quan trọng tác động tới
nông nghiệp.Ví dụ như khí hậu và đất đai là hai yếu tố quan trọng nhất tác
động đến sản xuất nông nghiệp. Tái nguyên khoáng sản, tài nguyên rừng, tài
nguyên biển là những yếu tố quan trọng tạo nên sự phát triển mạnh các
ngành công nghiệp sử dụng tài nguyên đó như: công nghiệp chế biến lâm, thuỷ
hải sản, công nghiệp luyện thép...
* Nhóm các yếu tố xã hội
Đây là nhóm các yếu tố làm nên thị trường, thể hiện tầm quan trọng của
các nhu cầu xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến xu hướng chuyển dịch cơ cấu
ngành kinh tế.
- Nhân tố thị trường: Là nhân tố quan trọng tạo sự phát triển của các
ngành kinh tế, nhân tố này thể hiện ở nhu cầu và tính cạnh tranh của thị
trường, hai yếu tố này luôn luôn thay đổi theo thời gian. Chính nhu cầu, cơ cấu

nhu cầu và xu thế vận động của nó cũng như tính cạnh tranh của thị trường
đặt ra những mục tiêu phát triển của các ngành kinh tế, là cơ sở đảm bảo tính
thực thi và hiệu quả của các phương án hình thành cơ cấu ngành kinh tế.
- Nhân tố khoa học- công nghệ: Tác động mạnh tới quá trình hình thành
và phát triển của cơ cấu ngảnh kinh tế. Chính sự phát triển của khoa học công
nghệ đã hình thành nên các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, không
chỉ dừng lại ở đó,khoa học công nghệ là điều kiện thúc đẩy sự phát triển các
ngành kinh tế theo chiều sâu, các hình thức đa dạng hoá và chuyên môn hoá
trong sản xuất.
- Nhân tố sức lao động: Là một trong những nhân tô tác động tới quá
trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế nói riêng và cơ cấu kinh tế nói chung.
Hiện nay, do đặc điểm của các nước cũng như của Thanh Hoá là: dân số trẻ,
đông, nguồn lao động dồi dào và sản xuất chủ yếu là nông nghiệp mang tính
thời vụ, Do đó, giai đoạn đầu của quá trình phát triển kinh tế Việt Nam nói
chung và Thanh Hoá nói riêng phải tranh thủ lợi thế về lao động, giá nhân
công rẻ để phát triển các ngành có khả năng thu hút nhiều lao động như:
ngành dệt may, da giầy... tạo tiền đề cho sự phát triển trong thời kỳ tới.
- Cơ sở hạ tầng: đây là nhân tố thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu ngành
kinh tế nếu như có được một cơ sở hạ tầng vững chắc, thuận tiện, có khả năng
thu hút được vốn đầu tư tư bên ngoài. Nhưng sẽ là ngược lại, nó sẽ kìm hãm
sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế nếu như tỉnh không có được một cơ sở hạ
tầng như vậy.
* Nhóm các yếu tố chính trị
Các yếu tố này chủ yếu như định hướng mục tiêu phát triển của đất
nước, các chính sách quản lý kinh tế- xã hội của đất nước, các chính sách, giải
pháp thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tê của tỉnh. Các nhân tố này ảnh
hưởng trực tiếp đến quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh.
Các định hướng mục tiêu phát triển cũng như các chính sách quản lý vĩ
mô nền kinh tế quốc dân của Nhà nước có vai trò quan trọng đến việc hình
thành cơ cấu ngành kinh tế. Nếu như các mục tiêu phát triển và các chính sách

quản lý đề cao vai trò của thị trường trong quá trình phát triển kinh tế thì sự
hình thành cơ cấu kinh tế như mong muốn sẽ quá chậm, nhất là các ngành, các
tổ chức kinh tế hoạt động trong lĩnh vực cung cấp hàng hoá công cộng. Ngược
lại, nếu định hướng mục tiêu, chính sách quản lý vĩ mô không sát với thực tế
khách quan, hoặc sự điều tiết của Nhà nước quá sâu vào các hoạt động kinh tế
sẽ dẫn tới việc hình thành cơ cấu ngành kinh tế kém hiệu quả, kìm hãm sự phát
triển của nền kinh tế.
Các chính sách và giải pháp thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội
của tỉnh cũng ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành
kinh tế của tỉnh. Mỗi tỉnh cần phải xây dựng cho riêng mình những chính sách
giải pháp phù hợp nhất, tạo điều kiện cho quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành
kinh tế đạt được mục tiêu đề ra của tỉnh cũng như góp phần đạt được mục tiêu
phát triển của tổng thể nền kinh tế quốc dân.
Như vậy cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh một mặt phải căn cứ vào định
hướng mục tiêu phát triển và chính sách quản lý vĩ mô của Nhà nước, mặt
khác phải tuỷ thuộc vào điều kiện cụ thể của tỉnh, các chính sách, giải pháp

×