Tải bản đầy đủ (.docx) (35 trang)

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY QUẢN LÝ NỢ VÀ KHAI THÁC TÀI SẢN NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (232.86 KB, 35 trang )

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY QUẢN LÝ NỢ VÀ
KHAI THÁC TÀI SẢN NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT
TRIỂN NÔNG THÔN.
1 Sự cần thiết phải thành lập công ty quản lý nợ và khai thác tài sản ở Việt
Nam
Thời gian gần đây, khi đánh giá về tình hình kinh tế và đề ra định hướng phát
triển đối với lĩnh vực ngân hàng, Đảng và Chính phủ thường nêu lên thực trạng nợ
quá hạn của các tổ chức tín dụng và định hướng khẩn trương có biện pháp xử lý thực
trạng này là phải thành lập công ty quản lý tài sản tồn đọng ngân hàng để xử lý vấn đề
nợ tồn đọng. Sự cấp thiết của việc thành lập công ty quản lý nợ và khai thác tài sản tại
Việt Nam thể hiện ở những lý do sau:
Thứ nhất, nợ xấu trong nền kinh tế cao và vẫn tiếp tục gia tăng. Hoạt động
tín dụng là một trong những nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng thương mại, là nguồn
chủ yếu đem lại lợi nhuận. Nghiệp vụ này luôn phải gắn với rủi ro tín dụng, và nước
có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn của ngân hàng. Trong hệ thống ngân hàng
thương mại Việt Nam, tỷ lệ nợ quá hạn là một vấn đề khá nghiêm trọng. Theo tính
toán của World Bank, nợ khó đòi phải xử lý theo tiêu chuẩn kế toán Việt Nam của hệ
thống ngân hàng đạt trên 1 tỷ USD. N ếu căn cứ theo tiêu chuẩn kế toán quốc tế thì số
nợ khó đòi lên tới 3-4 tỷ USD. Còn theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, tính đến
tháng 5/2000, nợ xấu trong toàn hệ thống chiếm 12,7%, tương đương 19.261 tỷ đồng.
Trong đó nợ quá hạn khó đòi, nợ khoanh, nợ chờ xử lý lên đến 17.198 tỷ và vẫn tiếp
tục gia tăng so với mức 13.000 tỷ vào thời điểm cuối tháng 2/1999, riêng khối ngân
hàng quốc doanh đã chiếm 81%. Số dư nợ chờ xử lý có tài sản xiết nợ và tài sản đang
nằm trong các vụ án của toàn hệ thống là 6.202 tỷ (các ngân hàng quốc doanh chiếm
78%), nợ được khoanh là 3.900 tỷ, nợ được xoá: 1.260 tỷ. Đó là chưa kể hiện nay việc
xếp loại nợ khó đòi của ta chủ yếu dựa vào tiêu chí thời gian quá hạn, chưa tính đến
các tiêu chí khác như nợ còn đang trong diện quá hạn thông thường nhưng thực tế
doanh nghiệp đã bị thua lỗ nặng, không còn khả năng trả nợ. Như vậy, một phần số dư
nợ được coi là nợ quá hạn thông thường trên thực tế đã là nợ quá hạn khó đòi.
Tình hình nợ quá hạn của nước ta không chỉ cao, trong khoảng 10 năm liền
luôn cao hơn mức an toàn (5%), mà nguy hiểm hơn là tình trạng nợ đọng biến động


bất thường và không có dấu hiệu suy giảm rõ ràng.
Bảng 1: Tình hình Nợ quá hạn/tài sản có của hệ thống ngân hàng thương mại
quốc doanh Việt Nam giai đoạn 1991-2001.
Đơn vị: %
Năm 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001
Ngân
hàng
quốc
doanh
19,7 13,7 11,1 6,02 7,8 9,3 12,3 13,1 13,7 12,7 8,53
(Tạp chí khoa học và đào tạo Ngân hàng số 2/2003)
Thứ hai, tình trạng nợ tồn đọng trong nền kinh tế Việt Nam đã ăn vào vốn
tự có của các ngân hàng. Theo tổng hợp của Ngân hàng Nhà nước, tính đến ngày
30/5/2000 tổng dư nợ cho vay nền kinh tế của toàn bộ hệ thống các tổ chức tín dụng là
151.962 tỷ đồng (tương đương 38% GDP năm 1999). Trong đó riêng dư nợ tín dụng
của các ngân hàng thương mại quốc doanh đạt 113.640 tỷ đồng, chiếm 75% tổng dư
nợ cho vay nền kinh tế của toàn hệ thống. Khách hàng vay của các ngân hàng quốc
doanh chủ yếu là các doanh nghiệp Nhà nước, với số dư nợ chiếm khoảng 70-80%
tổng dư nợ của các ngân hàng quốc doanh. Tình hình này cho thấy nhu cầu vốn của
nền kinh tế nước ta lệ thuộc chủ yếu vào hệ thống ngân hàng, nơi cung cấp nguồn vốn
lớn cho các doanh nghiệp. Trong điều kiện thị trường tài chính Việt Nam chưa phát
triển thì lực lượng chủ yếu cung ứng vốn cho nền kinh tế là các ngân hàng thương mại
mà chủ lực là các ngân hàng thương mại quốc doanh: Ngân hàng Công thương, Ngân
hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Ngoại thương, Ngân hàng Đầu
tư và Phát triển, Ngân hàng phục vụ người nghèo (giờ là Ngân hàng chính sách xã
hội), Ngân hàng Phát triển nhà ở và cơ sở hạ tầng đồng bằng sông Cửu Long. ở nước
ta, tỷ lệ nợ quá hạn của các ngân hàng trong toàn hệ thống nếu so với GDP chưa phải
là cao nhưng đã vượt quá vốn tự có của toàn hệ thống. Vốn tự có đã bổ sung của một
số ngân hàng quốc doanh năm 2000 là: Ngân hàng Ngoại thương 2063 tỷ đồng, Ngân
hàng Công thương 1637 tỷ đồng, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển 1892 tỷ đồng, Ngân

hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 2755 tỷ đồng. Trong khi đó, tỷ lệ nợ quá
hạn/tổng vốn tự có của các ngân hàng quốc doanh lên tới 234% thời điểm cuối 1999.
Đến 31/12/2000, nợ tồn đọng ở các ngân hàng thương mại nhà nước đã gấp 4 lần vốn
tự có. Nợ quá hạn cao trong khi vốn tự có quá thấp gây nguy cơ mất khả năng thanh
toán cho các ngân hàng vào bất cứ lúc nào. Nếu vấn đề này không được giả quyết cơ
bản và nhanh chóng sẽ gây tác động tiêu cực cho không chỉ hệ thống ngân hàng mà
còn toàn bộ nên kinh tế.
Thứ ba, nợ đọng có nguy cơ gây khủng hoảng kinh tế. Các số liệu trên cho
thấy, nền kinh tế nước ta đang bị tồn đọng một lượng vật chất lớn đóng băng, không
được khai thác, doanh nghiệp không trả được nợ cho ngân hàng, làm suy giảm sức
mạnh của các ngân hàng. Hệ thống ngân hàng không thu hồi được vốn để tiếp tục
quay vòng phục vụ các doanh nghiệp, tăng chi phí, giảm lợi nhuận, giảm uy tín và
thậm chí chứa đựng nguy cơ đổ vỡ cục bộ, trước tiên là đối với các ngân hàng yếu
kém, xa hơn có thể dẫn tới đổ vỡ hệ thống. Với vai trò cung ứng vốn, điều tiết lưu
thông tiền tệ và thực hiện chính sách của Chính phủ, sự đổ vỡ của hệ thống ngân hàng
có thể gây ra khủng hoảng kinh tế làm mất an ninh chính trị, đảo lộn trật tự xã hội.
Chúng ta đã từng chứng kiến bài học này từ cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu
Á 1997.
Nguyên nhân của tình trạng tỷ lệ nợ quá hạn ngày càng gia tăng trong hệ thống
ngân hàng Việt Nam có thể được tóm lược là:
- Một số khoản nợ từ thời bao cấp không chi trả được.
- Hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp đi vay vẫn chưa cải thiện nhiều.
- Các ngân hàng thương mại quốc doanh còn bị ảnh hưởng của cơ chế quản lý hành
chính trong hoạt động kinh doanh do vừa thực hiện chức năng kinh doanh vừa thực
thi nhiệm vụ chính sách kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước. Nhiều doanh nghiệp
nhà nước vẫn được cho vay theo chỉ đạo, chỉ thị... mà không tính toán đến rủi ro
tín dụng, đến điều kiện hoàn vốn và lãi, các doanh nghiệp này lại chiếm tỷ lệ vốn
vay rất lớn.
- Bản thân hoạt động ngân hàng còn nhiều yếu kém, bất cập. Các ngân hàng thương
mại quốc doanh có vai trò chủ đạo và chủ lực trong hệ thống ngân hàng nhưng còn

thiếu kinh nghiệm hoạt động trong nền kinh tế thị trường. Các ngân hàng thương
mại cổ phần thì còn quá non trẻ, yếu về tài chính, thiếu kinh nghiệm hoạt động.
Một số cán bộ ngân hàng trình độ chưa đáp ứng yêu cầu, một số khác bị biến chất,
gây các vụ thiệt hại lớn.
- Luật và các quy chế của ta chưa đồng bộ, còn khiếm khuyết và đặc biệt là ảnh
hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực vừa qua.
- Ngoài ra còn nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác như các nguyên
nhân bất khả kháng: thiên tai, bão lụt, hoả hoạn (nợ được khoanh, được xoá), các
doanh nghiệp nhà nước gặp khó khăn trong kinh doanh do việc mất giá của thị
trường tiêu thụ sản phẩm, biến động giá cả thị trường, do sắp xếp lại doanh nghiệp,
sát nhập, giải thể, biến động trên các thị trường nhạy cảm như bất động sản...
Thứ tư, quá trình hội nhập, tham gia các tổ chức quốc tế đòi hỏi củng cố,
lành mạnh hoá hệ thống tài chính-ngân hàng. Trong điều kiện nền kinh tế toàn cầu
hoá như hiện nay, muốn phát triển thì một nền kinh tế không thể đứng ngoài xu hướng
hội nhập đó. Việc tham gia hội nhập rõ ràng đưa lại những thuận lợi, những cơ hội về
vốn, kỹ thuật, quản lý... những đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức lớn, đặc biệt là
đối với những nền kinh tế còn chưa thực sự phát triển như nền kinh tế nước ta. Ngành
ngân hàng, xét trên góc độ cả nền kinh tế, có một vai trò hết sức quan trọng trong việc
thúc đẩy sự phát triển của các ngành, các hoạt động kinh tế xã hội khác thông qua hoạt
động cung ứng vốn và các dịch vụ liên quan, tạo điều kiện giúp các doanh nghiệp, các
sản phẩm trong nước có đủ sức cạnh tranh với các doanh nghiệp và sản phẩm nước
ngoài. Xét trên góc độ bản thân ngành, hệ thống ngân hàng, cũng giống như những
ngành, những lĩnh vực khác, phải chịu sức ép cạnh tranh rất lớn từ quá trình hội nhập
khu vực và thế giới. Để có thể gia nhập các tổ chức, các khối kinh tế, ngành ngân
hàng cũng phải đạt được những chỉ tiêu do tổ chức, khối kinh tế đề ra cũng như do
bản thân các ngân hàng tự đặt ra để củng cố sức mạnh của chính mình trước thềm hội
nhập. Lành mạnh hoá tình hình tài chính, củng cố hoạt động, giải quyết vấn đề nợ tồn
đọng, đưa tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ vào trong mức giới hạn an toàn... là những
công việc mà ngân hàng cần thực hiện một cách nghiêm túc và hiệu quả để có thể
hoàn thành được nhiệm vụ của mình trong giai đoạn phát triển mới.

Thứ năm, mọi biện pháp để xử lý nợ đọng được áp dụng đều không đạt
hiệu quả mong đợi. Như vậy, vấn đề xử lý nợ tồn đọng đã trở thành một nhu cầu bức
xúc đối với nước ta. Để giải quyết vấn đề này chúng ta đã sử dụng nhiều biện pháp từ
khuyến khích đến cưỡng chế, giao cho các ngân hàng tự xử lý. Tuy nhiên, do vướng
phải các quy định về pháp luật, do chồng chéo chức năng, do không đủ thẩm quyền
mà việc mua bán nợ không thực hiện được, hoặc chỉ thực hiện được với các tài sản
nhỏ lẻ. Nhu cầu đó đòi hỏi phải thành lập một tổ chức đặc trách các khoản nợ quá hạn
khó đòi tồn đọng trong hệ thống ngân hàng bằng các phương thức mua, quản lý, tài
trợ... nhằm tối đa hoá giá trị của nó để bán, cho thuê, góp vốn... thu hồi lại vốn.
Trước đòi hỏi của thực tế, bắt đầu từ năm 2000, ta đã tiến hành chương trình cơ
cấu lại hệ thống ngân hàng thương mại với nội dung chính là cơ cấu tài chính, trong
đó giảm tỷ lệ nợ quá hạn là một mục tiêu quan trọng của chương trình. Để giảm,
khống chế tỷ lệ nợ tồn đọng trong giới hạn cho phép, rất nhiều các biện pháp cần phải
được thực hiện một cách đồng bộ như: nâng cao chất lượng tín dụng, chú trọng đến
công tác quản lý rủi ro... và thành lập các công ty quản lý nợ và khai thác tài sản để
giải quyết dứt điểm những khoản nợ khê đọng khó đòi từ thời điểm 31/12/2000 trở về
trước. Quyết định 150/2001/QĐ - TTg do Thủ tướng Phan Văn Khải ký ngày
05/10/2001, tiếp theo là quyết định 1389/2001/QĐ - NHNN do Phó Thống đốc ngân
hàng nhà nước Trần Minh Tuấn ký ngày 07/11/2001 cùng các quyết định, thông tư
khác về ban hành điều lệ mẫu, hướng dẫn chế độ tài chính... đã tạo điều kiện về pháp
lý cho sự ra đời của nhiều công ty quản lý nợ và khai thác tài sản trực thuộc ngân
hàng thương mại ở nước ta. Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản đã được thành lập
tại không chỉ các ngân hàng thương mại quốc doanh (Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển...) mà còn ở cả các ngân hàng thương
mại cổ phẩn như Sài Gòn Thương tín (Sacombank). Mặc dù mới được thành lập, chưa
có nhiều kinh nghiệm trong quản lý, xử lý tài sản, và còn gặp phải khó khăn từ nhiều
phía, công ty quản lý nợ và khai thác tài sản trực thuộc ngân hàng thương mại đã góp
phần không nhỏ vào việc giải quyết nợ tồn đọng, cơ cấu lại hệ thống ngân hàng. Tính
đến cuối năm 2001, gần 40% số nợ tồn đọng của hệ thống ngân hàng đã được xử lý.
1. Khái quát về công ty quản lý nợ và khai thác tài sản Ngân hàng Nông

nghiệp và Phát triển nông thôn.
2.1. Lịch sử hình thành công ty quản lý nợ và khai thác tài sản Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Ở nước ta, trong điều kiện thị trường vốn còn chưa thực sự phát triển, việc huy
động vốn, cung ứng vốn cho các hoạt động kinh tế còn phụ thuộc rất nhiều vào hệ
thống ngân hàng mà đặc biệt là các ngân hàng thương mại quốc doanh với lợi thế về
quy mô vốn cũng như kinh nghiệm, chất lượng phục vụ tương đối vượt trội so với các
ngân hàng thương mại cổ phần. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, với
mạng lưới chi nhánh rộng khắp, vươn tới tận các thôn, xã và với mức vốn hoạt động
ban đầu được cấp là 2200 tỷ đồng (mức vốn được cấp từ ngân sách của các ngân hàng
thương mại quốc doanh khác chỉ là 1100 tỷ đồng), đóng một vai trò hết sức quan
trọng không chỉ đối với hoạt động của hệ thống ngân hàng nói riêng mà còn đối với sự
phát triển của cả nền kinh tế nói chung; bất kỳ biến động xấu nào trong hoạt động của
ngân hàng cũng có thể gây nên những tác động tiêu cực tới nền kinh tế. Vì vậy, cơ cấu
lại nợ, lành mạnh hoá tình hình tài chính của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn là một đòi hỏi không phải chỉ của bản thân ngân hàng mà còn là của cả hệ
thống kinh tế.
Trong hoạt động của mình, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
vừa phải thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ với hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực
nông nghiệp và phát triển nông thôn, vừa phải thực thi cả nhiệm vụ đầu tư tín dụng
chính sách theo chỉ định của Chính phủ (cho đến 04/10/2002 khi có quyết định của
Chính phủ về việc thành lập Ngân hàng Chính sách xã hội từ Ngân hàng phục vụ
người nghèo). Đặc trưng kinh doanh này khiến hoạt động tín dụng của Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn gặp không ít những khó khăn, rủi ro. Tính đến
2001, số nợ tồn đọng của ngân hàng đã chiếm xấp xỉ 14% trên tổng dư nợ; cụ thể,
tổng số nợ tồn đọng đến 31/12/2000 là khoảng 7917 tỷ đồng. Nguyên nhân của tình
trạng nợ tồn đọng trên có thể tóm tắt là do:
Các nguyên nhân khách quan, bao gồm: nguyên nhân bất khả kháng như thiên
tai, bão lụt, hạn hán, mất mùa, dịch bệnh; các doanh nghiệp gặp khó khăn trong kinh
doanh; cho vay thực hiện một số mục đích theo chỉ đạo của Chính phủ, theo kế hoạch

của Nhà nước; thay đổi cơ chế chính sách.
Các nguyên nhân chủ quan, bao gồm: Một số cán bộ ngân hàng và doanh
nghiệp làm sai trái, thậm chí lừa đảo; yếu kém trong hoạt động ngân hàng, chậm điều
chỉnh, chỉ đạo nghiệp vụ không sâu sát, kịp thời; khách hàng vay thiếu kiến thức và
kinh nghiệm hoạt động trong cơ chế thị trường, quản lý kinh doanh yếu kém...
Số nợ tồn đọng đã ảnh hưởng rất lớn đến kết quả tài chính của Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn, giảm năng lực cạnh tranh, đồng thời làm ảnh hưởng
xấu tới uy tín, vị trí, vai trò của một ngân hàng thương mại quốc doanh lớn. Nợ tồn
đọng quá lớn sẽ làm tăng gánh nặng cho ban điều hành ngân hàng, không thể tập
trung vào công tác cải cách và hướng tới nguồn lực cho các hoạt động sinh lời lành
mạnh, không đáp ứng được các chuẩn mực tài chính quốc tế. Vì vậy, yêu cầu bức xúc
đặt ra cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là: một mặt đẩy mạnh tăng
trưởng nguồn vốn và đầu tư tín dụng có chất lượng cao, đồng thời phải tích cực xử lý
nợ tồn đọng và giải toả tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh để tái tạo lại vốn bằng tiền.
Để đáp ứng yêu cầu trên, ngày 22 tháng 11 năm 2001, công ty quản lý nợ và khai
thác tài sản Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam được
thành lập theo quyết định 438/QĐ-HĐQT/TCCB.
2.3. Khái quát về Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn.
Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản – Ngân hàng nông nghiệp và phát triển
nông thôn Việt Nam là công ty trực thuộc Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông
thôn được thành lập theo Quyết định số 438/QĐ-HĐQT/TCCB ngày 22 tháng 11 năm
2001 của Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
Việt Nam. Công ty chính thức khai trương và đi vào hoạt động từ 11/4/2002. Công ty
hạch toán độc lập, có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, có con dấu riêng,
tài khoản mở tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn và các ngân hàng
thương mại khác khi được Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
chấp thuận. Công ty hoạt động trong lĩnh vực quản lý nợ và khai thác tài sản bảo đảm
nợ vay trong hệ thống Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, mua
bán nợ tồn đọng với các tổ chức tín dụng và các công ty quản lý nợ và khai thác tài

sản của các ngân hàng thương mại khác. Thực hiện các nhiệm vụ khác theo uỷ quyền
của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam theo quy định của Pháp
luật.
• Tên gọi-địa chỉ:
Tên đầy đủ bằng tiếng Việt là: Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản – Ngân
hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.
Tên giao dịch quốc tế bằng tiếng Anh là: ASSET MANAGEMENT
COMPANY OF VIETNAM BANK FOR AGRICULTURE AND RURAL
DEVELOPMENT.
Tên viết tắt bằng tiếng Anh là : AMC - AGRIBANK
Trụ sở chính của công ty là: Số 4 Phạm Ngọc Thạch – Quận Đống Đa – Thành
phố Hà Nội.
• Thời hạn hoạt động:
Thời hạn hoạt động tối đa của công ty là 30 năm kể từ ngày ký quyết định
thành lập, thời hạn hoạt động thực tế tuỳ thuộc vào quyết định của Hội đồng quản trị
phù hợp với tình trạng nợ tồn đọng và tài sản đảm bảo tiền vay của Ngân hàng nông
nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.
Công ty có thể được giải thể trong các trường hợp sau:
- Khi đã hoàn thành việc quản lý nợ và khai thác tài sản bảo đảm nợ vay mà không
có nhu cầu hoạt động tiếp.
- Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền yêu cầu giải thể.
- Có nhu cầu giải thể và được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận.
- Kết thúc thời hạn hoạt động (30 năm) mà không có quyết định gia hạn của Ngân
hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.
• Vốn hoạt động của công ty gồm:
- Vốn điều lệ ban đầu của công ty là 10.000.000.000 (Mười tỷ đồng), do Ngân hàng
nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam giao và được bổ sung khi cần thiết.
- Vốn vay của tổ chức tài chính, tổ chức tín dụng trong nước và nước ngoài.
- Các quỹ theo quy định của pháp luật.
- Các nguồn vốn khác được hình thành trong quá trình hoạt động theo quy định của

pháp luật.
• Nội dung hoạt động của công ty:
- Tiếp nhận, quản lý các khoản nợ tồn đọng (bao gồm: nợ có tài sản bảo đảm và nợ
không có tài sản bảo đảm) và tài sản bảo đảm nợ vay (tài sản thế chấp, cầm cố; tài
sản gán nợ; tài sản Toà án giao ngân hàng) liên quan đến các khoản nợ để xử lý,
thu hồi vốn nhanh nhất cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt
Nam.
- Hoàn thiện hồ sơ có liên quan đến các khoản nợ theo quy định của pháp luật trình
Ban Chỉ đạo cơ cấu lại tài chính ngân hàng thương mại của Chính phủ xem xét,
trình Thủ tướng Chính phủ cho phép Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông
thôn Việt Nam được xử lý.
- Chủ động bán các tài sản bảo đảm nợ vay thuộc quyền định đoạt của Ngân hàng
nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam đã giao cho công ty quản lý và khai
thác theo giá thị trường (giá bán tài sản có thể cao hoặc thấp hơn giá trị nợ tồn
đọng) theo hình thức sau:
+) Tự bán công khai trên thị trường.
+) Bán qua Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản.
+) Bán cho công ty mua, bán nợ của Nhà nước (khi được thành lập)
- Lập và tổ chức thực hiện đề án cơ cấu lại nợ tồn đọng bằng các biện pháp: Giãn
nợ, miễn giảm lãi suất, đầu tư thêm, chuyển đổi nợ thành vốn góp theo chỉ đạo của
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.
- Sử dụng nguồn vốn của công ty để xử lý tài sản bảo đảm nợ vay được giao quản lý
và khai thác bằng các biện pháp thích hợp: cải tạo, sửa chữa, nâng cấp tài sản để
bán, cho thuê, khai thác kinh doanh. Riêng góp vốn, liên doanh bằng tài sản thực
hiện theo đề án của công ty khi được Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông
thôn Việt Nam chấp thuận.
- Mua, bán nợ tồn đọng của các Tổ chức tín dụng khác, của các Công ty quản lý nợ
và khai thác tài sản của ngân hàng thương mại khác theo quy định của pháp luật.
- Thực hiện các hoạt động khác theo uỷ quyền của Ngân hàng nông nghiệp và phát
triển nông thôn Việt Nam.

• Chế độ tài chính, hạch toán kế toán, trích lập và sử dụng quỹ
Công ty thực hiện chế độ tài chính theo quy định của Bộ tài chính và hướng
dẫn của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.
Công ty thực hiện hạch toán, kế toán, báo cáo kế toán và báo cáo thống kê theo
quy định của Bộ tài chính, Ngân hàng Nhà nước và hướng dẫn của Ngân hàng nông
nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.
Công ty được trích lập và sử dụng các quỹ theo quy định của pháp luật và
hướng dẫn của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.
• Mô hình tổ chức của công ty:
- Giám đốc: Giám đốc là người chịu trách nhiệm trước Ngân hàng nông nghiệp và
phát triển nông thôn Việt Nam và pháp luật về việc điều hành hoạt động của công
ty. Giám đốc do Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng nông nghiệp và phát triển
nông thôn Việt Nam bổ nhiệm và miễn nhiệm theo đề nghị của Tổng Giám đốc
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam. Giám đốc có những
quyền hạn và nhiệm vụ sau:
+) Tiếp nhận vốn và các nguồn lực khác được Ngân hàng nông nghiệp và phát
triển nông thôn Việt Nam giao cho công ty quản lý và sử dụng.
+) Trình Tổng Giám đốc Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt
Nam về việc:
. Sửa đổi, bổ sung Điều lệ Công ty
. Mở chi nhánh, văn phòng đại diện.
. Cơ cấu tổ chức bộ máy điều hành tại trụ sở chính của công ty, cơ cấu tổ chức
bộ máy điều hành tại chi nhánh, văn phòng đại diện của công ty
. Bổ nhiệm, miễn nhiệm Phó Giám đốc, Tổ trưởng tổ kiểm tra nội bộ, Giám đốc
chi nhánh, Trưởng văn phòng đại kiện của công ty và các chức danh tương đương
khác của công ty.
. Quy chế tổ chức và hoạt động của công ty.
. Phương án hoạt động kinh doanh, phương án sử dụng lợi nhuận sau thuế.
. Thông qua quy chế hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện của công ty
để Giám đốc ký ban hành.

. Giải thể công ty, chia, tách, sáp nhập, chấm dứt hoạt động của chi nhánh công
ty.
. Tổ chức kiểm toán độc lập thực hiện kiểm toán công ty.
. Báo cáo tài chính tổng hợp và quyết toán hàng năm của công ty
. Hướng dẫn cụ thể việc thực hiện các quy định của Nhà nước và của các cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền.
+) Bổ nhiệm, miễn nhiệm Trưởng và Phó phòng chuyên môn, nghiệp vụ của công
ty (trừ Trưởng phòng kế toán, Tổ trưởng tổ kiểm tra nội bộ); Phó Giám đốc chi
nhánh, Phó văn phòng đại diện; Trưởng và Phó phòng chuyên môn nghiệp vụ của
chi nhánh.
+) Tuyển dụng, sử dụng, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện các chế độ chính sách
cán bộ của công ty theo đúng quy định của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển
nông thôn Việt Nam và của pháp luật.
+) Thực hiện phương án hoạt động kinh doanh, phương án sử dụng lợi nhuận sau
thuế khi được Hội đồng quản trị Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
Việt Nam phê duyệt.
+) Điều hành và quyết định các vấn đề có liên quan đến các hoạt động kinh doanh
của công ty theo đúng pháp luật, Điều lệ công ty và quyết định của Hội đồng quản
trị Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam; chịu trách nhiệm về
kết quả kinh doanh của công ty.
+) Đại diện cho công ty trong quan hệ dân sự, tố tụng, tranh chấp, giải thể.
+) Được áp dụng các biện pháp vượt thẩm quyền của mình trong trường hợp khẩn
cấp (thiên tai, địch hoạ, hoả hoạn,...) và chịu trách nhiệm về những quyết định của
mình, sau đó phải báo cáo ngay với Hội đồng quản trị và Tổng Giám đốc Ngân
hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.
+) Chịu sự kiểm soát của Hội đồng quản trị, kiểm tra, kiểm toán nội bộ của Ngân
hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, các cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền đối với hoạt động của công ty.
+) Báo cáo Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, Ngân hàng
Nhà nước và các cơ quan Nhà nước theo quy định của pháp luật về kết quả hoạt

động kinh doanh của công ty.
+) Thực hiện các quyền và nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật, của Ngân
hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.
- Các phó giám đốc: là người điều hành một hoặc một số lĩnh vực hoạt động của
công ty theo sự phân công của Giám đốc và chịu trách nhiệm trước Giám đốc và
pháp luật về nhiệm vụ được Giám đốc phân công.
- Tổ kiểm tra kiểm toán nội bộ: có nhiệm vụ tổ chức thực hiện kiểm tra việc chấp
hành pháp luật và các quy định nội bộ về các hoạt động nghiệp vụ của công ty theo
chương trình kiểm tra kiểm toán nội bộ của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển
nông thôn Việt Nam.
- Các phòng nghiệp vụ, chức năng: Bộ máy chuyên môn, nghiệp vụ có chức năng
tham mưu, giúp Giám đốc trong việc điều hành hoạt động của công ty. Cơ cấu tổ
chức và hoạt động của bộ máy chuyên môn nghiệp vụ do Hội đồng quản trị quyết
định. Phòng nghiệp vụ kinh doanh sẽ là bộ phận thực hiện các hoạt động chính của
công ty: làm việc với ngân hàng, tiếp nhận nợ và tài sản bảo đảm, tiến hành nghiên
cứu, phân tích, cơ cấu lại nợ, xử lý tài sản... Phòng kế toán thực hiện công tác kế
toán, thống kê của công ty, có các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Trưởng phòng kế toán do Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng nông nghiệp và
phát triển nông thôn Việt Nam bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Tổng Giám
đốc Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.
Mô hình bộ máy tổ chức của công ty quản lý nợ và khai thác tài sản - Ngân hàng
nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
GIÁM ĐỐC

CÁC PHÓ
GIÁM ĐỐC

tổ kiểm tra
kiểm toán nội
bộ

phòng nghiệp
vụ kinh doanh
phòng tài
chính kế
toán
phòng tổng
hợp
phòng hành
chính nhân sự
- CHI NHÁNH
- VĂN PHÒNG ĐẠI
DIỆN
- Chi nhánh, văn phòng đại diện: ở những thành phố, những trung tâm lớn, tập
trung hoạt động của Ngân hàng nông nghiệpvà Phát triển nông thôn như Hải
phòng, Bắc ninh, Thanh Hoá... công ty có thành lập các chi nhánh, văn phòng đại
diện để kịp thời, sâu sát nắm bắt tình hình nợ tồn đọng và đề ra biện pháp xử lý
thích hợp cho hoạt động ngân hàng ở những địa bàn đó.
2. Thực trạng hoạt động của công ty quản lý nợ và khai thác tài sản Ngân
hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.
3.1. Tình hình hoạt động của công ty quản lý nợ và khai thác tài sản trong
năm qua.
3.1.1. Thực trạng nợ tồn đọng đến 31/12/2000 của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển
nông thôn Việt Nam.
Nợ tồn đọng luôn là một vấn đề nhức nhối và cần được giải quyết trong hoạt
động tín dụng của ngân hàng nói chung. Tuy nhiên, không phải mọi khoản nợ đều
được đưa vào chương trình giải quyết nợ đọng, cơ cấu lại tài chính cho hệ thống nhân
hàng thương mại hiện nay. Theo chỉ thị số 01/2002/CT-NHNN của Thống đốc Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam về việc xử lý nợ tồn đọng của các ngân hàng thương mại
ban hành dựa trên tinh thần Quyết định số 149/2001/QĐ-TTg ngày 5/10/2001 của Thủ
tướng Chính phủ thì phạm vi xử lý nợ tồn đọng của các ngân hàng thương mại là các

khoản nợ tồn đọng còn dư nợ đến thời điểm ngày 31/12/2000. Do vậy, hoạt động mua
bán nợ của các công ty quản lý nợ và khai thác tài sản nói chung cũng như công ty
quản lý nợ và khai thác tài sản Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt
Nam nói riêng, xét trên khía cạnh nào đó, thì chỉ liên quan đến các số liệu về nợ đọng
từ thời điểm 31/12/2000 trở về trước.
Tính đến thời điểm 31/12/2000 Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông
thôn Việt Nam có số nợ tồn đọng là khoảng 7917 tỷ đồng. Nợ tồn đọng được phân
chia theo 3 nhóm chính:
Nhóm 1: nợ tồn đọng có tài sản bảo đảm.
Đơn vị: tỷ đồng
Khoản mục Số lượng
Nợ trên tài khoản 28.1 (xiết nợ) 18,88
Nợ trên tài khoản 28.2 (vụ án) 23,52
Nợ quá hạn trên 360 ngày 91,2
TỔNG SỐ 133,6

×