Tải bản đầy đủ (.docx) (23 trang)

NHỮNG LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT VÀ THANH TOÁN BÙ TRỪ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (130.47 KB, 23 trang )

NHỮNG LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT VÀ
THANH TOÁN BÙ TRỪ
I . SỰ CÂN THIẾT VÀ VAI TRÒ CỦA THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT
1. Sự cần thiết:
Quá trình ra đời của sản xuất và lưu thông hàng hoá kéo theo sự ra đời của
tiền tệ và lưu thông tiền tệ hay nói cách khác tiền tệ là sản phẩm tất yếu và tự
phát của nền kinh tế hàng hoá. Nền kinh tế càng phát triển thì việc chu chuyển
hàng hoá càng mở rộng và phát triển. ở đâu có sự tồn tại của tiền tệ thì ở đó
tiên tệ cùng với sự lưu thông đã giúp cho quá trình đổi hàng hoá được thực
hiện dễ dàng. Sở dĩ được như vậy là vì tiền tệ không chỉ làm trung gian cho quá
trình trao đổi, đo lường và biểu hiện giá trị của các hàng hoá khác mà còn là
một phương tiện để thanh toán trong nền kinh tế.
Thanh toán là khâu đầu tiên cũng là khâu cuối cùng để kết thúc chu kì sản
xuất kinh doanh vì vậy có thể khẳng định rằng thanh toán là điều kiện quan
trọng để đảm bảo sự tuần hoàn bình thường của quá trình chu chuyển vốn
trong từng doanh nghiệp, từng đơn vị kinh tế thậm chí từng thành viên của xã
hội cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Trong quan hệ thanh toán bao gồm thanh toán bằng tiền mặt và thanh
toán không dùng tiền mặt.
Thanh toán bằng tiền mặt là thanh toán được biểu hiện trực tiếp bằng tiền
mặt trong quan hệ chi trả về hàng hoá và cung ứng dịch
Thanh toán không dùng tiền mặt là sự biểu hiện của các quan hệ thanh
toán. Nó được thực hiện trên cơ sở trích chuyển vốn từ tài khoản người phải
trả sang tài khoản cho người được hưởng hoặc bằng cách bù trừ lẫn nhau
thông qua vai trò trung gian của ngân hàng, kho bạc hoặc các tổ chức tín dụng
khác. Như vậy trong quan hệ thanh toán nó có sự tách biệt tương đối giữa sự
vận động của hàng hoá và tiền tệ về thời gian cũng như không gian.
Nên kinh tế ngày càng phát triển thì các mối quan hệ thanh toán ngày
càng phức tạp. Để đáp ứng nhu cầu thanh toán nhanh gọn, chính xác đòi hỏi
phải tổ chức tốt khâu thanh toán. Thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân
hàng đã sử dụng hàng loạt các công cụ tuỳ thuộc vào trình độ phát triển, kỹ


thuật nghiệp vụ thanh toán của từng thời kì. Mặc dù thanh toán bằng hình
thức nào thì quan hệ thanh toán được coi là kết thúc khi người trả trích tài
khoản (ghi nợ ) để trả cho người thụ hưởng (ghi có).
2. vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt
Thanh toán tiền tệ trong nền kinh tế thị trường bao gồm : Thanh toán bằng
tiền mặt và thanh toán không dùng tiền mặt. Mỗi loại hình thanh toán có vị trí
vai trò riêng, phù hợp với đối tượng thanh toán nhất định. Trong đó thanh
toán không dùng tiền mặt ngày càng chiếm tỉ trọng lớn và được coi là cách
thức thanh toán mang lại hiệu quả kinh tế nhất .
- Thanh toán không dùng tiền mặt góp phần đẩy nhanh tốc độ luân chuyển
vốn: Từ đó làm tăng vòng quay sử dụng đồng tiền trong nền kinh tế. Bất kỳ
một đơn vị sản xuất kinh doanh nào cũng phải có vốn phục vụ trong quá trình
sản xuất kinh doanh. Để đảm bảo quá trình đó diễn ra bình thường và liên tục
thì công tấc thanh toán nói chung và thanh toán không dùng tiền mặt nói riêng
phải được thực hiện nhanh chóng, chính xác, kịp thời và an toàn. Từ đó giúp
cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, cá nhân tăng nhanh tốc độ luân
chuyển vốn trên cơ sở đó góp phần sử dụng hiệu quả vốn trong nền kinh tế .
- Thanh toán không dùng tiền mặt góp phần tiết kiệm chi phí lưu thông
tiền mặt: như chi phí in ấn, vận chuyển, bảo quản tiền mặt. Vì đặc điểm của
thanh toán không dùng tiền mặt là quá trình thanh toán bằng cách trích
chuyển vốn trên các tài khoản để hoàn thành việc thanh toán cho nhau hoặc
thanh toán bù trừ lẫn nhau. Nó sẽ góp phần giảm tương đối khối lượng tiền
mặt trong lưu thông từ đó góp phần tiết kiệm được các chi phí cho lưu thông .
- Tạo được nguồn vốn cho ngân hàng với chi phí đầu vào thấp: Thanh toán
không dùng tiền mặt được thực hiện thông qua việc khách hàng gửi tiền vào
tài khoản tại ngân hàng và tài khoản của khách hàng luôn có số dư thì mới có
hiệu lực thanh toán. Từ đó với ngân hàng đã tạo được nguồn vốn từ số dư
trên tài khoản tiền gửi thanh toán để tiến hành cho vay khi các khoản tiền gửi
của khách hàng chưa được sử dụng đến, làm cho đồng vốn tham gia nhiều lần
cho chu kỳ sản xuất đem lại hiệu quả cho cá nhân và toàn xã hội .

+ Thanh toán không dùng tiền mặt cùng với hoạt động tín dụng tạo ra
tiền gửi: Thông qua các khoản tiền mà khách hàng chuyển vào tài khoản của
mình tại ngân hàng, lại chính là xuất phát từ ngân hàng đó là ngân hàng đã
cấp tín dụng, Như vậy trong phần lớn trường hợp chính tín dụng tạo ra tiền
gửi. Từ đó rút ra rằng trong một số chừng mực nào đó các ngân hàng tuỳ
thuộc vào vịêc cấp tín dụng nhiều hay ít mà làm tăng nhiều hay ít các tài
khoản của khách hàng. Từ đó làm tăng lượng khách hàng giao dịch với ngân
hàng. Giúp ngân hàng tăng thêm thu nhập đông thời đẩy mạnh vòng quay vốn
.
+ Thanh toán không dùng tiền mặt đã hạn chế rủi ro, an toàn cao trong
lưu thông và mang lại thuận lợi trong việc trao đổi hàng hoá. Chẳng hạn
người bán hàng chỉ cần cầm tờ séc mà người mua phát hành đến ngân hàng
phục vụ mình hoặc ngân hàng phục vụ người phát hành thì ngân hàng sẽ trích
nợ tài khoản người phát hành séc (nếu tờ séc hợp lệ, hợp pháp và trên tài
khoản người mua có đủ điều kiện ) và có tài khoản người bán (người thụ
hưởng). Không may trong thời gian chưa nộp séc
(séc vẫn còn thời hạn) mà bị mất thì tài sản của họ vẫn được đảm bảo không
bị mất, nếu khách hàng thông báo việc mất séc với Ngân hàng phục vụ mình
kịp thời.
- Thanh toán không dùng tiền mặt tạo điều kiện cho ngân hàng thực hiện chức
năng kiểm soát bằng đồng tiền đối với hoạt động của nền kinh tế: Mặt khác
nó giúp cho Nhà nước có kế hoạch điều hoà lưu thông tiền tệ, ổn định giá trị
đồng tiền, giữ vững sức mua của đồng tiền.
+ Thông qua quá trình kiểm soát mà ngân hàng có thể can thiệp vào cách
sử dụng vốn, kiểm soát được quá trình luân chuyển vốn, tác động chi phối đến
phương pháp cách thức sử dụng vốn của các đơn vị kinh tế sao cho có hiệu
quả.
+ Thông qua qúa trình kiểm soát đối với các hoạt động của nền kinh tế
ngân hàng có những thông tin để phản ánh lên chính phủ, thông tin để thực
hiện các dịch vụ của ngân hàng. Đồng thời cùng với Nhà nước, ngân hàng có

biện pháp bảo đảm cho việc đầu tư và nâng cao hiệu quả vốn đầu tư. Chính
qua viêc thanh toán không dùng tiền mặt sẽ tăng thêm tín nhiệm của khách
hàng đối với ngân hàng và đây cũng là chiến lược khách hàng của ngân hàng
nếu ta thực hiện tốt.
Thanh toán không dùng tiền mặt cho giữ vai trò rất quan trọng trong nền
kinh tế. Vì vậy ngân hàng không ngừng tìm mọi biện pháp cải tiến thể thức
thanh toán nhằm đáp ứng và phục vụ tốt nhu cầu phát triển của nền kinh tế .
3. Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt
3.1. Séc thanh toán:
Séc là lệnh trả tiền của chủ tài khoản, được lập trên mẩu do Ngân hàng
Nhà nước quy định, yêu cầu đơn vị thanh toán trích một số tiền từ tài khoản
tiền gửi thanh toán của mình để trả cho người thụ hưởng có tên ghi trên séc
hoặc người cầm séc.
Như vậy chủ thể tham gia thanh toán séc bao gồm: Người phát hành,
người thụ hưởng và Ngân hàng, mỗi bên có quyền lợi và nghĩa vụ nhất định
trong thanh toán séc.
∗ Phạm vi áp dụng
Séc thanh toán giữa các khách hàng mở tài khoản tiền gửi thanh toán ở
cùng một đơn vị hoặc khác đơn vị nhưng trong cùng hệ thống tổ chức tín dụng,
Kho bạc Nhà nước ;
Séc thanh toán giữa các khách hàng mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại
các đơn vị khác hệ thống tổ chức tín dụng, Kho bạc Nhà nước chỉ áp dụng
trong trường hợp các đơn vị này có tham gia thanh toán bù trừ trên địa bàn
tỉnh, thành phố.
Bắt đầu từ ngày 1/4/1997 chế độ thanh toán séc mới quy định theo nghị định
30/CP của Chính phủ và thông tư hướng dẫn số 07/TT- NH1 của Ngân hàng
Nhà nước Việt
Nam, thanh toán séc gồm các loại sau.
3.1.1 Séc chuyển khoản
Là lệnh trả của người phát hành séc đối với ngân hàng phục vụ mình về

việc trích trả tiền từ tài khoản của mình trả tiền cho người thụ hưởng có tên
trên tờ séc.
Séc chuyển khoản cũng như các loại séc nói chung đơn vị phát hành séc
phải có đủ số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán ở Ngân hàng để đảm bảo
thanh toán kịp thời các tờ séc đã phát hành ra sau khi bên bán đã nộp séc vào
Ngân hàng. Đây là một điều kiện mà đơn vị phát hành séc phải chấp hành. Việc
thanh toán séc sẽ không thực hiện khi tài khoản của đơn vị phát hành không
đủ số tiền để thanh toán cho số tiền ghi trên tờ séc đã phát hành.
Nói chung, séc chuyển khoản thường áp dụng với những khách hàng có tín
nhiệm lẫn nhau, có quan hệ làm ăn lâu dài, thường xuyên. Chính vì vậy séc
chuyển khoản bao giờ cũng được hạch toán theo nguyên tắc “ nợ trước có sau

3.1.2 Séc bảo chi :
Là tờ séc thông thường được ngân hàng phục vụ đơn vị phát hành, đảm
bảo khả năng chi trả bằng cách trích từ tài khoản tiền gửi đưa vào một tài
khoản riêng (tài khoản đảm bảo thanh toán séc bảo chi ) và đánh dấu bảo chi
lên tờ séc trước khi giao tờ séc cho khách hàng .
Đối tượng áp dụng là thanh toán tiền hàng, dịch vụ do yêu cầu của đơn
vị bán hoặc theo quyết định của ngân hàng đối với chủ tài khoản vi phạm quy
định phát hành séc .
Phạm vi sử dụng như các loại séc bình thường khác như đã nói trên .
- Thời hạn thanh toán 15 ngày kể từ ngày bảo chi séc. Tờ séc nộp vào nếu khách
hàng mở tài khoản tại cùng một ngân hàng nhưng cùng một hệ thống thì
ngân hàng phục vụ người thụ hưởng kiểm tra nếu hợp lệ thì có quyền ghi có
ngay vào tài khoản của người thụ hưởng. Sau đó báo nợ cho ngân hàng phát
hành séc để ghi nợ vào tài khoản đảm bảo thanh toán séc bảo chi . Trường
hợp hai ngân hàng
khác hệ thống thì không được phép ghi có ngay mà phải giao nhận chứng từ
đồng thời tại phiên giao dịch để thực hiện ghi “ nợ trước có sau “
Như vậy séc được ngân hàng bảo chi đảm bảo độ tin cậy về khả năng thanh

toán của tờ séc. Số tiền phát hành séc đã được ký quỹ để đảm bảo khả năng
thanh toán. Khách hàng cũng có thể yêu cầu bảo chi cho cả séc thanh toán
bằng chuyển khoản và séc thanh toán bằng tiền mặt ..
3.2 Uỷ nhiệm chi – chuyển tiền :
Uỷ nhiệm chi là lệnh chi tiền của chủ tài khoản được lập theo mẫu in sẵn
của ngân hàng, yêu cầu ngân hàng phục vụ mình trích tài khoản của mình để
trả cho người thụ hưởng.
Uỷ nhiệm chi được dùng để thanh toán các khoản trả tiền hàng, dịch vụ
hoặc chuyển tiền trong cùng hệ thống hoặc khác hệ thống ngân hàng cùng địa
phương hoặc khác điạ phương. Ngân hàng phải có trách nhiệm xử lí, giải
quyết Uỷ nhiệm chi của khách hàng nộp trong ngày làm việc (hoàn tất lệnh chi
đó hoặc từ chối thực hiện nếu tài khoản của khách hàng không đủ tiền hay
lệnh chi đó không hợp lệ). Ngân hàng phục vụ bên thụ hưởng khi nhận được
chứng từ hợp lệ ghi “Có” ngay vào tài khoản và báo cho khách hàng biết
Uỷ nhiệm chi còn được sử dụng như một công cụ trung gian để xin ngân
hàng cấp séc bảo chi.
* Séc chuyển tiền cầm tay : là một loại chuyển tiên được sử dụng theo yêu cầu
của khách hàng. Séc này được áp dụng trong cùng một hệ thống ngân hàng,
Kho bạc Nhà nước do Ngân hàng, Kho bạc lập và trao cho khách hàng sau khi
dã lưu ký tiền vào tài khoản.
Thời hạn hiệu lực tối đa của tờ séc chuyển tiền cầm tay là 30 ngày kể từ
ngày phát hành ghi trên tờ séc .
Chuyển tiền mặt giữa các tỉnh, thành phố qua Ngân hàng áp dụng đối với
các đơn vị và cá nhân có yêu cầu.
Các Ngân hàng sẽ thực hiện bằng thể thức chuyển tiền nhanh bằng điện
đến địa chỉ người lĩnh tiền hoặc cấp séc chuyển tiền cầm tay cho khách hàng .
Khi nhận được tờ séc chuyển tiền từ khách hàng, ngân hàng phải kiểm tra các
yếu tố đặc biệt là ký hiệu mật.
3.3 Uỷ nhiệm thu :
Uỷ nhiệm thu (UNT) được áp dụng thanh toán giữa các khách hàng mở tài

khoản trong một chi nhánh ngân hàng hoặc các chi nhánh ngân hàng cùng
hoặc khác hệ thống.
Uỷ nhiệm thu do người thụ hưởng lập gửi ngân hàng phục vụ mình để thu
tiền đã giao hoặc dịch vụ đã cung ứng. Khách hàng mua và bán phải thống
nhất dùng hình thức thanh toán UNT, với những điều kiện cụ thể ghi trong hợp
đồng kinh tế, đồng thời phải thông báo bằng văn bản cho khách hàng, Kho bạc
Nhà nước phục vụ người thụ hưởng biết để làm căn cứ cho việc thực hiện các
UNT.
Uỷ nhiệm thu được lập theo mẫu của Ngân hàng Nhà nước Việt nam, trong
đó bên thụ hưởng phải ghi đầy đủ các yếu tố và ký tên, đóng dấu của đơn vị
trên tất cả các UNT. Sau khi hoàn tất việc giao hàng cung ứng dịch vụ người
bán chủ động gửi Uỷ nhiệm thu tới ngân hàng phục vụ mình để uỷ nhiệm cho
ngân hàng thu hộ số tiền từ người mua theo các chứng từ thanh toán hợp lệ.
Khi nhận được UNT trong vòng một ngày làm việc, ngân hàng phục vụ bên trả
tiền ngay cho người thụ hưởng để hoàn tất việc thanh toán. Nếu bên tài khoản
của bên trả tiền không đủ số tiền thanh toán sẽ bị phạt chậm trả. Mức phạt tuỳ
theo quy định giữa bên mua và bên bán trong hợp đồng, thường được áp dụng
như sau :
Số tiền phạt Số tiền ghi Số ngày Tỷ lệ phạt
chậm trả = trên UNT × trả chậm × (Lãi suất nợ quá hạn)
Uỷ nhiệm thu chủ yếu sử dụng thanh toán các dịch vụ cung ứng mang tính chất
định kì như tiền điện nước, tiền điện thoại, tiền thuê nhà …
3.4 Thư tín dụng :
Hình thức thanh toán thư tín dụng là hình thức thanh toán được ngân
hàng bên đơn vị mua cam kết trả tiền cho đơn vị bên bán, khi đơn vị bên bán
thực hiện đúng theo các điều khoản của thư tín dụng.
Người mua được ngân hàng mở thư tín dụng để đi mua hàng thì phải dùng
tiền của mình hoặc vay ngân hàng lưu ký riêng để đảm bảo thanh toán cho thư
tín dụng. áp dụng hình thức thanh toán này quyền lợi của bên bán sẽ được
đảm bảo vì bên mua phải chuẩn bị trước phương tiện thanh toán mới nhận

được hàng.
Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng chỉ thanh toán cho người thụ hưởng
khi họ xuất trình các hoá đơn, chứng từ giao hàng phù hợp với thư tín dụng đã
mở và trong thời hạn hiệu lực. Mọi tranh chấp về hàng hoá đã giao, tiền hàng
đã trả đều do 2 bên mua bán tự giải quyết. Trong phạm vi mua bán trên một
quốc gia, loại hình này ít được sử dụng vì thủ tục phiền hà, hơn nữa phải lưu
ký một khoản tiền lớn trên tài khoản mà không có lãi.
Tuy nhiên hình thức thanh toán này có đặc điểm an toàn và chuẩn xác cao,
nên được dùng khá phổ biến trong quan hệ thanh toán quốc tế.
3.5. Thẻ thanh toán :
Thẻ thanh toán là một sản phẩm của ngân hàng thông qua thiết bị từ tính .
Ngân hàng bán cho khách hàng sử dụng để trả tiền hàng hoá, dịch vụ các
khoản thanh toán khác hoặc rút tiền tại các ngân hàng đại lý thanh toán hay
các quầy trả tiền mặt tự động. Mục đích thẻ thanh toán dùng để đơn giản hoá
các thủ tục giao dịch với khách hàng về rút tiền và thanh toán qua ngân hàng .
Thẻ thanh toán được sử dụng lần đầu tiên tại Việt nam vào năm 1990 tại
ngân hàng Ngoại thương Việt nam. Về thực chất thẻ thanh toán là một loại
tiền điện tử được chấp nhận thanh toán tại ngân hàng và các điểm thu đổi
ngoại tệ. Thẻ thanh toán ở nước ta vẫn ở giai đoạn thử nghiệm cần hoàn thiện.
Đây là một dịch vụ hoàn toàn tự động và dựa trên cơ sở công nghệ tiên tiến
nên phải có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại. Hiện nay do vốn đầu tư hạn chế,
chưa trang bị máy đọc thẻ ở nhiều nơi vì vậy chưa được sử dụng rộng rãi.
3.6. Ngân phiếu thanh toán:
Ngân phiếu thanh toán được coi như một công cụ thanh toán không dùng
tiền mặt theo quy chế không dùng tiền mặt ngày 21/12/94. Tuy nhiên về bản
chất ngân phiếu thanh toán là tiền có kỳ hạn .
Ngân phiếu thanh toán do Ngân hàng Nhà nước phát hành có mệnh giá và
thời hạn thanh toán in sẵn trên từng tờ không ghi tên. Mệnh giá do thống đốc
Ngân hàng Nhà nước Việt nam quy định trong từng thời kỳ .
Khi có nhu cầu sử dụng ngân phiếu thanh toán chủ tài khoản lập chứng từ

lĩnh ngân phiếu thanh toán (có thể sử dụng séc lĩnh tiền mặt có đóng dấu hoặc
ghi “ lĩnh ngân phiếu thanh toán “) nộp trực tiếp vào ngân hàng nơi mình mở
tài khoản để trích tài khoản tiền gửi (hoặc vay ngân hàng ) để nhận ngân
phiếu thanh toán.
Đối với những khách hàng không có tiền gửi tại ngân hàng thì lập giấy tờ
nộp tiền và nộp tiền mặt vào ngân hàng. Nội dung giấy nộp tiền ghi rõ: Nộp
tiền mặt để nhận ngân phiếu thanh toán .
Ngưòi gửi ngân phiếu thanh toán phải có trách nhiệm bảo quản ngân
phiếu thanh toán như tiền mặt. Mất ngân phiếu thanh toán cũng như mất tiền.
Ngân phiếu thanh toán không có hiệu lực thanh toán là ngân phiếu đã hết hạn
hoặc bị tẩy xoá, dây bẩn, rách nát .
II. QUÁ TRÌNH TỔ CHỨC VÀ PHÁT TRIỂN CÁC PHƯƠNG THỨC THANH
TOÁN QUA LẠI GIỮA CÁC NGÂN HÀNG:
1 .Thời kỳ Ngân hàng tổ chức theo một cấp :
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung với hệ thống Ngân hàng 1 cấp,
Ngân hàng luôn là trung tâm thanh toán của nền kinh tế nhưng trong thanh
toán chưa phát sinh thanh toán qua lại giữa các Ngân hàng khác nhau mà chỉ

×