Tải bản đầy đủ (.doc) (14 trang)

KỸ THUẬT CẤP CỨU CHUYỂN THƯƠNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (151.08 KB, 14 trang )

BIÊN SOẠN:TRẦN MỸ DƯƠNG TRƯỜNG THPT TRƯỜNG CHINH
Bài 3
KĨ THUẬT CẤP CỨU
VÀ CHUYỂN THƯƠNG
I. ĐĂC ĐIỂM VẾT THƯƠNG CHIẾN TRANH :
Trong chiến tranh vũ khí ngày càng hiện đại, thì cơ cấu vết thương càng phức tạp, gồm
những loại vũ khí sau :
1. Vũ khí lạnh : Gươm giáo, lê, dao găm, chông. Các tổn thương do vũ khí lạnh gây ra
nói chung đơn giản, ít để lại di chứng.
2. Vũ khí nổ : (còn gọi là vũ khí thông thường).
- Vũ khí nổ bao gồm : Súng bộ binh hỏa lực pháo binh, bom mìn lựu đạn.
- Vũ khí nổ sát thương bằng tác động trực tiếp của đầu đạn mảnh pháo, bom bi (trong
bom bi gây nên vết thương chột, vết thương xuyên, vết thương dập nát, nhiều nõ ngách,
vết gãy xương, vết thương mạch máu, vết thương thần kinh v.v…)
- Các loại vũ khí sát thương bằng tác động trực tiếp của mảnh đối với người ở gần tầm nổ
tạo các vết thương kín ở các phủ tạng rất nặng.
3. Vũ khí hạt nhân : (thuộc loại vũ khí sát thương hàng loạt).
Vũ khí hạt nhân gồm : vũ khí nguyên tử (bom đầu đạn, nguyên tử, vũ khí khinh khí,
bom đầu đạn khinh khí, vũ khí Nơ-trôn)
Vũ khí hạt nhân nổ tạo ra các nhân tố sát thương như : sóng chấn động, bức xạ quang,
bức xạ xuyên, chất phóng xạ.
Vũ khí hạt nhân gây nên tổn thương hỗn hợp làm cho vết thương (bệnh) nặng và phức
tạp. Một người có thể bò tổn thương như :
- Bỏng và bệnh phóng xạ.
- Chấn thương và bệnh phóng xạ.
- Bỏng chấn thương và bệnh phóng xạ.
- Bỏng và chấn thương.
4. Vũ khí hóa học : (thuộc loại vũ khí sát thương hàng loạt)
Vũ khí hóa học là loại vũ khí sử dụng chất độc hóa học chứa đựng trong tên lửa đầu
đạn hóa học, bom, đạn pháo. Vũ khí hóa học gây ô nhiễm bầu khí quyển và mặt đất, các
chất độc hóa học có thể gây tổn thương hàng loạt đối với người và động vật. Gây ô


nhiễm nguồn nước, lương thực thực phẩm, phá hoại cây cối mùa màng.
Đặc điểm của những tổn thương do vũ khí hóa học gây ra :
- Nhiễm độc toàn thân.
- Nhiễm độc thần kinh.
- Gây loét mắt.
- Gây ngạt thở.
- Bỏng nặng do các chất gây cháy.
5. Vũ khí sinh học : (thuộc loại vũ khí sát thương hàng loại)
Vũ khí sinh học là loại vũ khí chứa các loại vi khuẩn, vi trùng… gây bệnh, như vi rút
Rích-ketsia, nấm, độc tố do vi khuẩn tiết ra… Đòch có thể dùng gián điệp biệt kích trực
tiếp làm ô nhiễm các nguồn thức ăn, nước uống, chúng có thể dùng đạn pháo, bom chứa
côn trùng, vi sinh vật gây bệnh bằng phóng các đầu đạn hoặc bom. Khi bom đạn nổ, vi
Trang 1
BIÊN SOẠN:TRẦN MỸ DƯƠNG TRƯỜNG THPT TRƯỜNG CHINH
sinh vật côn trùng tung ra xung quanh làm cho ô nhiễm vùng đó hoặc chúng dùng máy
bay phun thành các dàn mây vi sinh vật dạng sương làm nhiễm một vùng rộng lớn.
Vũ khí sinh học thường gây bùng nổ các vụ dòch hàng loạt, mãnh liệt nhiều người mắc
trong một thời gian, triệu chứng có thể đa dạng không thể chuẩn đoán.
Tuy nhiên sau khi mầm bệnh vào cơ thể người, gây được bệnh hay không còn phụ
thuộc vào sức miễn dòch của từng người.
II. CẦM MÁU TẠM THỜI
1. Mục đích
- Hạn chế mức thấp nhất sự mất máu.
- Góp phần cứu sống tính mạnh người bò thương.
- Tránh các tai biến nguy hiểm về sau.
2. Nguyên tắc
- Khẩn trương, nhanh chóng làm ngừng chảy máu.
- Phải xử trí đúng chỉ đònh theo tính chất của vết thương.
- Phải đúng quy trình kó thuật.
3. Phân biệt các loại chảy máu

- Chảy máu mao mạch: Máu đỏ thẫm, lượng máu chảy ít, có thể tự cầm sau ít phút.
- Chảy máu tỉnh mạch vừa và nhỏ: Máu đỏ thẫm, chảy ri rỉ, lượng máu vừa phải, không
nguy hiểm. Tuy nhiên tổn thương các tỉnh mạch lớn vẫn gây chảy máu ồ ạt, nguy hiểm.
- Chảy máu động mạch: Máu đỏ tươi, chảy vọt thành tia (theo nhòp tim), lượng máu có
thể nhiều hoặc rất nhiều tùy theo động mạch bò tổn thương.
4. Các biện pháp cầm máu tạm thời
4.1 n động mạch:
Trang 2
BIÊN SOẠN:TRẦN MỸ DƯƠNG TRƯỜNG THPT TRƯỜNG CHINH
- Động mạch trụ và quay ở cổ tay.
- Động mạch trong cánh tay ở mặt trong cánh tay.
- Động mạch dưới đòn ở hõm xương đòn.
- Động mạch đùi ở giữa nếp bẹn.
- Động mạch cảnh ở cổ tay.
4.2 Gấp chi tối đa:
- Gấp cẳng tay vào cánh tay.
- Gấp cánh tay vào thân người.
- Gấp cẳng chân vào thân đùi.
- Gấp đùi vào thân người.
4.3 Băng ép chặt:
- Đặt 1 lớp gạt và bông hút phủ kín vết thương.
- Đặt 1 lớp bông mỡ dầy phủ trên lớp bông gạt.
- Băng theo kiểu xoắn vòng hoặc số 8 (nên dùng băng thun).
4.4 Băng chèn:
Con chèn đặt vào vò trí trên đường đi của động mạch, càng sát vết thướng càng
tốt, sau đó cố đònh con chèn bằng nhiều vòng băng tương đối chặt.
4.5 Băng nút:
Trang 3
BIÊN SOẠN:TRẦN MỸ DƯƠNG TRƯỜNG THPT TRƯỜNG CHINH
Là cách băng ép, có dùng thêm bấc gạc đã triệt khuẩn, nhét chặt vào miệng vết

thương tạo thành cái nút để cầm máu.
4.6 Ga – rô:
Là biện pháp dùng sợi dây cao su cột chặt làm ngừng sự lưu thông máu, máu sẽ
không chảy ra ở miệng vết thương.
Ga – rô được phép làm trong các trường hợp sau:
- Vết thương ở chi chảy máu ồ ạt, phân thành tia hoặc trào ra vết thương.
- Vết thương bò cắt cụt tự nhiên.
- Vết thương phần mềm hoặc gảy xương có kèm theo tổn thương động mạch.
- Bò rắn cắn.
• Nguyên tắc ga – rô:
- Phải đặt ga – rô ngay sát trên vết thương và để lộ ra ngoài. Không bò vật gì che lấp.
- Nhanh chóng chuyển người bò thương đến bệnh viện gần nhất, trên đường vận chuyển
cứ 1 giờ nới ga – rô 1 lần.
- Phải chấp hành triệt để những qui đònh về ga – rô:
+ Ghi họ tên, đòa chỉ người bò thương, thời gian đặt ga – rô, thời gian nới ga- rô lần 1, lần
2, họ tên đòa chỉ người ga – rô … để giúp các tuyến trên theo dỏi và xử trí.
+ Có kí hiệu bằng vải đỏ cài vào túi áo bên trái.
• Cách đặt ga – rô:
- n động mạch phía trên vết thương.
- Lót vải gạc chổ đònh ga – rô.
- Đặt dây ga – rô rồi từ từ xoắn, vừa xoắn vừa bỏ tay ấn động mạch ra thấy máu ngừng
chảy là được.
• Cách nới ga – rô:
- Một người ấn động mạch phía trên ga – rô.
- Một người nới dây ga – rô, vừa nới từ từ vừa theo dỏi sắc mặt người bò thương,tình hình
chảy máu,màu sắc đoạn chi dưới ga – rô. Khoảng 4-5 phút sau đặt lại ga – rô và không
đặt lại ngay chổ củ.
- Vết thương bò cụt tự nhiên, đoạn chi có dấu hiệu hoại tử thì không được nới ga – rô để
tránh xảy ra tai biến nguy hiểm.
Trang 4

BIÊN SOẠN:TRẦN MỸ DƯƠNG TRƯỜNG THPT TRƯỜNG CHINH
III. CỐ ĐỊNH TẠM THỜI GẢY XƯƠNG
1. Mục đích
- Giảm đau đớn.
- Bảo đảm an toàn trong quá trình vận chuyển về các tuyến cứu chữa.
2. Nguyên tắc
- Phải cố đònh cả khớp trên và khớp dưới ổ gãy.
- Không đặt nẹp cứng sát vào chi, phải đệm, lót bằng bông mỡ, gạt hoặc vải mềm.
- Không co kéo, nắn chỉnh ổ gãy. Nếu có điều kiện chỉ có thể nhẹ nhàng kéo, chỉnh lại
trục chi bớt biến dạng khi đã được giảm đau thật tốt.
- Nẹp cố đònh phải tương đối chắc, không xộc xệch, nhưng không quá chặt dể gây cản
trở sự lưu thông máu.
3. Kó thuật cố đònh tạm thời
3.1 Các loại nẹp thường dùng:
* Nẹp tre: rất phổ biến, dể làm, phải đúng qui cách, rộng 5-6cm, dày 0,5-0,58cm, dài tùy
thuộc từng chi gãy.
- Nẹp cẳng tay: 2 nẹp, một nẹp 30cm, một nẹp 35cm.
- Nẹp cánh tay: 2 nẹp, một nẹp 20cm, một nẹp 35cm.
- Nẹp cẳng chân: 2 nẹp mỗi nẹp dài 60cm.
- Nẹp đùi: 3 nẹp, nẹp ngoài 120cm, nẹp sau 100cm, nẹp trong 80cm.
* Nẹp sắt cờ-ra-me: làm bằng dây thép có hình bậc thang, có thể uốn theo các tư thế cần
cố đònh. Ít được sử dụng.
3.2 Kó thuật cố đònh một số trường hợp gãy xương:
3.2.1 Gãy xương bàn tay, cổ tay:
- Đặt miếng băng hoặc bông vào lòng bàn tay, bàn tay ở tư thế nửa sấp, các ngón tay
nửa gấp.
- Đặt nẹp thẳng từ bàn tay đến khuỷu tay.
Trang 5

×