Tải bản đầy đủ (.doc) (86 trang)

Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại thành phố Đà Nẵng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (359.76 KB, 86 trang )

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ KIM ÁNH

HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ KIM ÁNH

HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Ngành
tế Mã số

: Quản lý kinh
: 8.34.04.10

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. HUỲNH HUY HÒA



HÀ NỘI, năm 2019


LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và
chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Kim Ánh


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU..........................................................................................................1
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI.................................................................................................8
1.1. Những vấn đề chung về doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 8
1.2. Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài ở cấp địa phương...................................................................................14
1.3. Kinh nghiệm quản lý các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài của một số địa phương trong nước và quốc tế.......................................22
Chương 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH
NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI THÀNH
PHỐ ĐÀ NẴNG.............................................................................................30
2.1. Tình hình doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại thành phố
Đà Nẵng...........................................................................................................30
2.2. Thực trạng quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài trên địa bàn thành phố Đà Nẵng............................................43

Chương 3. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC
TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG...............................57
3.1. Bối cảnh trong nước và quốc tế tác động đến QLNN đối với DNFDI tại
Đà Nẵng...........................................................................................................57
3.2. Những giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với DN
FDI tại Đà Nẵng..............................................................................................64
KẾT LUẬN....................................................................................................75
TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
CNTT
CNH – HĐH
DN

Nghĩa đầy đủ
Công nghệ thông tin
Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá
Doanh nghiệp

DNFDI

Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

ĐTNN

Đầu tư nước ngoài


FDI

Foreign Direct Investment (Đầu tư trực tiếp nước ngoài)

GDP

Gross Domestic Product (Tổng sản phẩm trong nước)

IMF

International Monetary Fund (Quỹ tiền tệ Quốc tế)

KCN

Khu công nghiệp

KCX

Khu chế xuất

KCNC

Khu công nghệ cao

OECD

Organization for Economic Co-operation and Development
(Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế)

EFA


Exploratory factor analysis (Phân tích nhân tố)

ODA

Official Development Assistance
(Hỗ trợ phát triển chính thức)

QLNN

Quản lý nhà nước

SXKD

Sản xuất kinh doanh

UBND

Ủy ban nhân dân


DANH MỤC CÁC BẢNG
Số

Tên bảng

hiệu

Trang


2.1

Kết quả thu hút vốn FDI vào Đà Nẵng tính đến 3/2019

32

2.2

Quy mô vốn đầu tư giai đoạn 2011-2018

33

2.3

2.4

2.5

2.6

Một số dự án đầu tư FDI tiêu biểu vào Đà Nẵng
tính đến 2018
Số doanh nghiệp đang hoạt động tại thời điểm 31/12/2018
hàng năm phân theo qui mô vốn và loại hình doanh nghiệp
Tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư trên địa bàn TP Đà Nẵng
Tổng hợp kết quả kiểm tra, rà soát doanh nghiệp/dự án tại 05
KCN trên địa bàn Thành phố

35


40

42

49


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời kì mở cửa, hội nhập hiện nay, Đảng ta chủ trương phát triển
nền kinh tế nhiều thành phần nhằm huy động các nguồn lực trong và ngoài
nước cho sự phát triển nền kinh tế quốc dân, trong đó có vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài (FDI). Nguồn vốn này không chỉ là cung cấp nguồn vốn đầu tư
cho nước sở tại để mở rộng sản xuất kinh doanh, tạo công ăn việc làm cho lao
động trong nước, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị và chất lượng tốt phục vụ
cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Thông qua các doanh nghiệp có vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài (DNFDI) nước nhận đầu tư có cơ hội và điều kiện
phát triển kinh tế cả chiều rộng và chiều sâu, chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu
nền kinh tế, khai thác có hiệu quả các tiềm năng, lợi thế, nguồn lực của đất
nước, góp phần đáng kể vào tăng trưởng kinh tế, tăng nguồn thu cho ngân
sách nhà nước và tăng thu nhập cho người lao động. Chính vì vậy, Đảng và
Nhà nước ta chủ trương thu hút FDI nhằm tranh thủ nguồn vốn này cho phát
triển kinh tế. Mặt khác, tạo những điều kiện thuận lợi về cơ chế, chính sách đề
mời gọi các nhà đầu tư nước ngoài, các DNFDI đầu tư vào Việt Nam.
Đà Nẵng là thành phố trực thuộc trung ương, có vị trí chiến lược quan
trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng và an ninh. Điều đó càng đòi hỏi Đà
Nẵng phải có những bước phát triển vượt bậc trên tất cả các lĩnh vực kinh tế xã hội. Từ đó, việc khai thác và sử dụng tiềm năng của nguồn vốn FDI cũng
như DNFDI có ý nghĩa rất quan trọng trong giai đoạn này. Bất kì một tỉnh,
thành phố nào muốn thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá (CNH -HĐH)
đều cần phải có vốn, vốn là chìa khóa, là điều kiện hàng đầu để thực hiện

CNH - HĐH và góp phần vào mục tiêu CNH - HĐH chung của cả nước. Song
vốn được tạo từ đâu và bằng cách nào là phụ thuộc rất lớn vào chính sách của

1


mỗi tỉnh, mỗi thành phố nói riêng và cả nước nói chung. Thông thường vốn
được huy động từ hai nguồn: vốn trong nước và ngoài nước. FDI có vai trò to
lớn trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng xã hội, phát triển kinh tế, thúc đẩy
chuyển dịch cơ cấu, giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động, nâng cao
mức sống cho người dân.
Hiện nay, trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đã có nhiều khu công nghiệp
được lấp đầy bởi các doanh nghiệp trong nước và DNFDI với nhiều lĩnh vực,
ngành nghề sản xuất kinh doanh khác nhau. Điều đó đòi hỏi công tác quản lý
nhà nước đối với các DNFDI phải được quan tâm, nhằm tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp phát triển bền vững cả trước mắt và lâu dài.
Do đó để tiếp tục phát triển kinh tế của thành phố Đà Nẵng chúng ta
cần thu hút nhiều hơn nữa các nguồn vốn, đặc biệt là nguồn vốn FDI . Đây
cũng là lý do chủ yếu để tôi lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện quản lý nhà nước đối
với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại thành phố Đà Nẵng”
làm Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Quản lý kinh tế.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đầu tư nước ngoài có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế nên
được nhiều học giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Cùng với sự
phát triển mạnh mẽ của thương mại quốc tế, dòng lưu chuyển vốn FDI cũng
không những tăng lên, đóng góp đáng kể vào tăng trưởng và phát triển kinh tế
toàn cầu. Với mục đích khác nhau đã có nhiều tổ chức, cá nhân trong và ngoài
nước nghiên cứu về kinh tế có vốn FDI.
- Nguyễn Ngọc Anh (2014) Luận án tiến sỹ “Nghiên cứu các nhân tố
ảnh hưởng đến thu hút FDI vào Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung” [1]

Nghiên cứu đã đề xuất mô hình phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút
FDI của vùng kinh tế và ứng dụng phương pháp phân tích hệ số Cronbach
Alpha, phân tích EFA, phân tích CFA, phân tích SEM để xác định các nhân tố

2


ảnh hưởng quan trọng thúc đẩydòng chảy FDI vào Vùng, làm tăng thêm cơ sở
khoa học cho các nhận định và đóng góp hữu ích về phương pháp cho các nhà
nghiên cứu. Trên cơ sở nguồn số liệu cập nhật và chọn lọc, luận án đã khái
quát được đặc thù FDI, luận án cũng khái quát được thực trạng về nhân tố
thuộc Vùng có ảnh hưởng đến dòng chảy FDI trong thời gian qua, qua đó,
giúp chính quyền các địa phương trong Vùng quan tâm hơn đến các nhân tố
này khi hoạch định chính sách thu hút FDI ở địa phương mình. Ngoài ra, trên
cơ sở định hướng phát triển Vùng, kết quả phân tích định lượng về tầm quan
trọng của các nhân tố ảnh hưởng đến dòng chảy FDI cũng như những nhận
định về thực trạng các nhân tố này, luận án đã gợi ý chính sách nhằm cải thiện
một số nhân tố ảnh hưởng để tăng cường thu hút FDI vào Vùng. Chính sách
này có giá trị tham khảo nhất định trong hoạch định và thực thi chính sách thu
hút FDI ở các địa phương trong Vùng. Tuy nhiên đây là luận án tác giả
nghiên cứu trên địa bàn cả khu vực rộng lớn cả khu vực miền Trung Việt
Nam. Các giải pháp tác giả đưa ra để giải quyết cho toàn vùng kinh tế ở khu
vực miền Trung Việt Nam.[1].
- Luận văn Thạc sỹ kinh tế với đề tài “Quản lý nhà nước đối với các
doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Bắc Ninh” của tác
giả Nguyễn Thị Vui (2013) bảo vệ tại Hội đồng khoa học Đại học Kinh tế,
Đại Học Quốc gia Hà Nội. Nghiên cứu của tác giả đã phần nào nêu được cơ
sở lý luận về QLNN đối với các DNFDI trên địa bàn cấp tỉnh. Tuy nhiên,
chưa nêu lên được cơ sở lý luận về sự cần thiết phải QLNN đối với DNFDI.
Phần 2, phần thực trạng QLNN đối với DNFDI tại tỉnh Bắc Ninh lại chỉ nêu

lên tình hình hoạt động của DNFDI, chưa đánh giá được thực trạng DNFDI
trên địa bàn, đa phần thiêng về thu hút FDI vào địa bàn, phần hoàn thiện
QLNN đối với DNFDI tại tỉnh Bắc Ninh đến năm 2020 đã nêu lên một số

3


biện pháp hoàn thiện nhưng còn chung chung do thiếu các căn cứ để hoàn
thiện [19].
- Đặng Thành Cương (2016), luận án tiến sĩ, “Tăng cường thu hút FDI
vào tỉnh Nghệ An” . Đây là công trình nghiên cứu hết sức công phu và toàn
diện về đẩy mạnh thu hút nguồn vốn FDI thuộc một địa phương cụ thể. Ở
luận án này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu thu hút vốn FDI vào một tỉnh, cụ
thể là tỉnh Nghệ An, trong đó phân tích thực trạng thu hút vốn, hiệu quả sử
dụng vốn FDI, đặc biệt tác giả sử dụng mô hình kinh tế lượng để đánh giá
hiệu quả sử dụng vốn FDI tại tỉnh Nghệ An. Trên cơ sở đánh giá thực trạng,
luận án đưa ra các giải pháp cụ thể cho tỉnh Nghệ An trong thu hút vốn FDI
thời gian tới [2].
Các công trình nghiên cứu khoa học trên đã phần nào tổng hợp, hệ
thống hóa lý luận cơ bản về FDI và về QLNN đối với DNFDI cũng như đưa
ra thực trạng QLNN đối với DNFDI tại một số địa phương, từ đó đưa ra các
giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN đối với DNFDI tại địa phương đó. Tuy
nhiên, thấy được những hạn chế trong các công trình nghiên cứu khoa học,
luận văn, bài viết nêu trên và thực tế chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách
có hệ thống, toàn diện và đầy đủ về hệ thống DNFDI, quản lý nhà nước đối
với các DNFDI trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Tác giả đã định hướng, tập
trung nghiên cứu vấn đề này trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong luận văn.
Luận văn sẽ khái quát, hệ thống được cơ sở lý luận về FDI, DNFDI cũng như
QLNN đối với DNFDI trên địa bàn cấp tỉnh và có được những phân tích,
đánh giá thực trạng DNFDI, QLNN đối với DNFDI tại thành phố Đà Nẵng.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Trình bày cơ sở lý luận, khoa học và thực tiễn về doanh nghiệp có vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài, khẳng định vai trò của loại hình doanh nghiệp có
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện nay.

4


- Phân tích thực trạng thu hút vốn FDI của thành phố Đà Nẵng; xác
định kết quả tích cực, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp để quản lý và tăng cường thu hút
vốn FDI vào thành phố Đà Nẵng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu đặt ra, luận văn tập trung giải quyết
những nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Có được những nhận định, đánh giá có căn cứ lý luận và thực tế về sự
QLNN của các ngành, các cấp ở Đà Nẵng đối với các DNFDI trên địa bàn.
- Có được những căn cứ lý luận và thực tiễn để từ đó đưa ra giải pháp
hoàn thiện QLNN của các ngành, các cấp ở Đà Nẵng đối với các DNFDI trên
địa bàn thành phố.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Công tác QLNN của thành phố Đà Nẵng với các doanh nghiệp vốn đầu
tư nước ngoài.
- Đối tượng quản lý: Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
đang hoạt động trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
- Chủ thể quản lý: Nhà nước địa phương cấp tỉnh (Thành phố Đà Nẵng)
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian nghiên cứu: trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

- Phạm vi thời gian nghiên cứu chủ yếu vào giai đoạn 2014 - 2018 và
giải pháp định hướng đến năm 2025 và tầm nhìn 2030.

5


5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chính Minh, đường lối, chính sách
của Đảng và Nhà nước, của thành phố Đà Nẵng về phát triển kinh tế trong
thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp hồi cứu: sưu tầm, tra cứu thu thập và chọn lọc thông tin từ
các sách, báo chuyên ngành; công trình nghiên cứu và tài liệu có liên quan.
- Phương pháp tổng hợp so sánh và phân tích thống kê: khai thác tư
liệu, số liệu của các cơ quan quản lý địa phương, tham khảo thông tin từ
internet. Tổng hợp phân tích sử dụng kết quả đã công bố.
- Phương pháp chuyên gia: tham vấn ý kiến của các chuyên gia, ban,
ngành liên quan đến hoạt động xúc tiến đầu tư trực tiếp nước ngoài.
- Nguồn dữ liệu: Đề tài thực hiện phân tích đánh giá dựa trên dữ liệu
được lấy từ các báo cáo lưu trữ, tài liệu của Ban Xúc tiến Đầu tư, Ban quản lý
các Khu công nghiệp và chế xuất, Ban quản lý khu công nghệ cao thành phố
Đà Nẵng, sách, tạp chí khoa học, internet...
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
- Góp phần hệ thống hoá, bổ sung một phần lý luận về FDI và QLNN
đối với DNFDI.
- Góp phần tổng kết công tác QLNN đối với DNFDI tại Đà Nẵng, từ
đó, chúng ta thấy được thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của thực trạng
- Có được những căn cứ, từ đó đề ra các giải pháp có giá trị tham khảo

trong việc hoàn thiện QLNN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới.
6.2. Đóng góp thực tiễn
- Luận văn đã tổng hợp hệ thống hóa và làm rõ các vấn đề lý luận và
thực tiễn về thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, luận văn đã xây
6


dựng khung nghiên cứu và nêu bật được nội dung chính của các chính sách
thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và từ đó đề xuất các chính sách
thu hút phù hợp hơn.
- Luận văn đã đi sâu phân tích, đánh giá những thuận lợi; khó khăn của
doanh nghiệp FDI. Dựa trên cơ sở thực tế tại địa phương, luận văn cũng đưa
ra các giải pháp để tăng cường thu hút vốn FDI vào địa bàn thành phố.
- Kết quả nghiên cứu cũng góp phần khẳng định việc tăng cường thu hút
FDI tại thành phố Đà Nẵng cần gắn quy mô với chất lượng và hiệu quả sử
dụng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
chính của luận văn được kết cấu thành 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với
doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở địa bàn cấp Thành phố Đà
Nẵng.
Chương 2: Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với các doanh
nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại thành phố Đà Nẵng.
Chương 3: Phương hướng và các giải pháp nâng cao hoàn thiện quản lý
nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại thành
phố Đà Nẵng.

7



Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC
TIẾP NƯỚC NGOÀI
1.1. Những vấn đề chung về doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài
1.1.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài và doanh nghiệp có vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.1.1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài
Hiện nay, khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài chúng ta thấy có nhiều
quan điểm khác nhau. Tất cả đều khai thác một hoặc một vài khía cạnh của vấn
đề nhằm khái quát hoá bản chất, nội dung, hình thức của hoạt động này. Có thể
thấy rõ qua một số khái niệm sau:
Theo Ủy ban Liên hợp Quốc về Thương mại và phát triển (UNCTAD)
định nghĩa đầu tư trực tiếp nước ngoài là: “Một khoản đầu tư bao gồm mối
quan hệ trong dài hạn, phản ánh lợi ích và quyền kiểm soát lâu dài của một
thực thể thường trú ở một nền kinh tế (nhà đầu tư nước ngoài hoặc công ty
mẹ nước ngoài) trong một doanh nghiệp thường trú ở một nền kinh tế khác
với nền kinh tế của nhà đầu tư nước ngoài (doanh nghiệp đầu tư nước ngoài
trực tiếp, doanh nghiệp liên doanh hoặc chi nhánh nước ngoài)”
Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đưa ra khái niệm về FDI như sau:
“Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một
nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút
đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để
phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả
nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh
8



doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là "công
ty mẹ" và các tài sản được gọi là công ty con hay chi nhánh công ty”.
FDI được thực hiện dưới hình thức đầu tư mới bằng cách thiết lập công
ty con từ đầu hoặc sáp nhập, mua lại công ty hiện có ở nước sở tại và chủ yếu
được thực hiện bởi MNE. Đây là công ty có sự tham gia FDI, sở hữu, kiểm
soát giá trị gia tăng hoạt động ở nhiều quốc gia [4], phải có đáng kể FDI chứ
không chỉ là công ty xuất khẩu [13]. Hơn nữa, công ty phải tham gia quản lý
hoạt động của công ty con chứ không đơn thuần là giữ chúng trong danh mục
đầu tư tài chính thụ động. Vì vậy, công ty có nguồn nguyên vật liệu ở nước
ngoài, cấp giấy phép công nghệ, xuất khẩu sản phẩm ra nước ngoài, hoặc chỉ
nắm giữ cổ phần thiểu số trong liên doanh ở nước ngoài mà không có bất kỳ
sự tham gia quản lý nào thì chỉ được coi là tập đoàn quốc tế. Họ không phải là
MNE nếu không có đáng kể hoạt động FDI, chủ động quản lý và coi những
hoạt động về chiến lược, tổ chức của công ty mà họ đầu tư như là bộ phận
không thể tách rời của công ty. Vì vậy, giữa FDI và MNE thường có mối quan
hệ mật thiết nhau. Đây là đối tượng chủ yếu, được nước chủ nhà quan tâm thu
hút bởi tiềm lực tài chính, công nghệ, kỹ năng tổ chức quản lý và thị trường
toàn cầu của MNE sẽ có tác động lan tỏa đối với nền kinh tế nước chủ nhà.
1.1.1.2. Khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Theo các tổ chức kinh tế, “doanh nghiệp FDI là doanh nghiệp có tư
cách pháp nhân hoặc không có tư cách pháp nhân, trong đó nhà đầu tư nước
ngoài sở hữu từ 10% trở lên số cổ phần thường hay quyền bỏ phiếu (đối với
doanh nghiệp có tư cách pháp nhân) hoặc tương đương (đối với doanh
nghiệp không có tư cách pháp nhân)” [13].
“Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (DNFDI) là doanh nghiệp
được thành lập theo luật pháp nước sở tại. Trong doanh nghiệp đó có phần
vốn của nhà đầu tư nước ngoài. Nhà đầu tư nước ngoài là chủ sở hữu phần

9



vốn họ góp vào doanh nghiệp và chịu trách nhiệm về rủi ro của doanh nghiệp
trên số vốn góp đồng thời có quyền tổ chức, quản lý doanh nghiệp theo vốn
góp” [15].
Do đặc thù của mỗi quốc gia mà có các quy định khác nhau về mô hình
doanh nghiệp cho hoạt động đầu tư nước ngoài nhưng có thể hiểu một cách
chung nhất là: DNFDI là doanh nghiệp trong đó nhà đầu tư nước ngoài bỏ
vốn đầu tư toàn bộ hoặc một phần; trực tiếp quản lý hoặc tham gia quản lý,
điều hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh vì mục tiêu sinh lời.
Qua phân tích ở trên, có thể hiểu: “Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài (hay còn gọi là DNFDI) là một hình thức tổ chức kinh doanh,
trong đó có một bên hoặc các bên mang quốc tịch khác nhau cùng góp vốn,
cùng quản lý cơ sở kinh tế đó vì mục tiêu sinh lời, phù hợp với các quy định
luật pháp của nước sở tại và thông lệ quốc tế”.
1.1.2. Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Nhà ĐTNN phải góp tỷ lệ vốn tối thiểu trong tổng vốn đầu tư để giành
quyền kiểm soát, tham gia kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tư. Tỷ lệ này
được quy định theo luật lệ mỗi quốc gia. Tài liệu hướng dẫn cán cân thanh
toán của IMF 1993 quy định tỷ lệ vốn cổ phần nắm giữ tối thiểu 10%; theo
chuẩn mực của OECD, tỷ lệ nắm giữ tối thiểu 10% cổ phần phổ thông hay
15% quyền biểu quyết. Thu nhập của nhà ĐTNN phụ thuộc kết quả kinh
doanh của doanh nghiệp mà họ đầu tư, nó mang tính chất là khoản thu nhập
kinh doanh, không phải là khoản lợi tức. FDI liên quan đến việc chuyển giao
một gói tài sản gồm: vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý, tổ chức từ nước này
sang nước khác. Do đó, nước chủ nhà có thể tiếp nhận công nghệ, kỹ thuật
tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý. Đây là mục tiêu mà các hình thức đầu
tư khác không giải quyết

được. Nguồn vốn đầu tư có thể vốn đầu tư ban đầu


10


của nhà ĐTNN dưới hình thức vốn pháp định, vốn tái đầu tư từ lợi nhuận, vốn
vay của doanh nghiệp để mở rộng dự án trong quá trình hoạt động.
Hoạt động FDI không chỉ đưa vốn vào nước tiếp nhận đầu tư mà cũng
có cả công nghệ, kỹ thuật, bí quyết kinh doanh, sản xuất, năng lực Marketing,
trình độ quản lý... Hình thức đầu tư này mang tính hoàn chỉnh bởi khi vốn đưa
vào đầu tư thì hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành và sản phẩm
được tiêu thụ trên thị trường nước chủ nhà hoặc xuất khẩu [15]. Do vậy, đầu
tư kỹ thuật để nâng cao chất lượng sản phẩm là một trong những nhân tố làm
tăng sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường. Đây là đặc điểm để phân
biệt với các hình thức đầu tư khác, đặc biệt là với hình thức ODA (hình thức
này chỉ cung cấp vốn đầu tư cho nước sở tại mà không kèm theo kỹ thuật và
công nghệ).
Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một lượng vốn tối thiểu vào
vốn pháp định tuỳ theo quy định của Luật đầu tư nước ngoài ở từng nước, để
họ có quyền trực tiếp tham gia điều hành, quản lý đối tượng mà họ bỏ vốn đầu
tư. Quyền quản lý, điều hành doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
phụ thuộc vào vốn góp. Tỷ lệ góp vốn của bên nước ngoài càng cao thì quyền
quản lý, ra quyết định càng lớn. Đặc điểm này giúp ta phân định được các
hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài. Nếu nhà đầu tư nước ngoài góp 100%
vốn thì doanh nghiệp đó hoàn toàn do chủ đầu tư nước ngoài điều hành.
Quyền lợi của các nhà đầu tư nước ngoài gắn chặt với dự án đầu tư: Kết
quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp quyết định mức lợi
nhuận của nhà đầu tư. Sau khi trừ đi thuế lợi tức và các khoản đúng góp cho
nước chủ nhà, nhà đầu tư nước ngoài nhận được phần lợi nhuận theo tỷ lệ vốn
góp trong vốn pháp định.
Chủ thể của đầu tư trực tiếp nước ngoài thường là các công ty xuyên
quốc gia và đa quốc gia (chiếm 90% nguồn vốn FDI đang vận động trên thế


11


giới). Thông thường các chủ đầu tư này trực tiếp kiểm soát hoạt động của
doanh nghiệp (vì họ có mức vốn góp cao) và đưa ra những quyết định có lợi
nhất cho họ.
Nguồn vốn FDI được sử dụng theo mục đích của chủ thể đầu tư nước
ngoài trong khuôn khổ luật Đầu tư nước ngoài của nước sở tại. Nước tiếp
nhận đầu tư chỉ có thể định hướng một cách gián tiếp việc sử dụng vốn đó vào
những mục đích mong muốn thông qua các công cụ như: thuế, giá thuê đất,
các quy định để khuyến khích hay hạn chế đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
một lĩnh vực, một ngành nào đó.
Mặc dù FDI vẫn chịu sự chi phối của Chính phủ song có phần ít lệ
thuộc vào quan hệ chính trị giữa các bên tham gia hơn so với ODA.
Việc tiếp nhận FDI không gây nên tình trạng nợ nước ngoài cho nước
chủ nhà, bởi nhà đầu tư nước ngoài chịu trách nhiệm trực tiếp trước hoạt động
sản xuất kinh doanh của họ. Trong khi đó, hoạt động ODA và ODF (Official
Development Foreign) thường dẫn đến tình trạng nợ nước ngoài do hiệu quả
sử dụng vốn thấp.
1.1.3. Tác động kinh tế - xã hội của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài đến địa bàn tiếp nhận đầu tư cấp địa phương
1.1.3.1. Tác động tích cực
- Thúc đẩy chuyển giao công nghệ, nhất là ở những nước đang phát
triển. Khi đầu tư vào một quốc gia, chủ đầu tư không chỉ đầu tư vốn mà còn
đầu tư bằng vật tư hàng hóa như: máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, kinh
nghiệm, tri thức khoa học, bí quyết... hoặc là đưa chuyên gia vào hỗ trợ về các
lĩnh vực cần thiết phục vụ hoạt động của dự án. Trong quá trình sử dụng công
nghệ, máy móc tiên tiến của nước ngoài, con người có thể cải tiến các công
nghệ cho phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương và biến chúng

thành công nghệ của mình. Nhờ các tác động tích cực trên mà khả năng công

12


nghệ của nước chủ nhà được tăng cường, nâng cao năng suất từ đó thúc đẩy
tăng tưởng kinh tế.
- Tạo việc làm và phát triển nguồn nhân lực cho địa phương. Thông
qua vốn FDI sẽ có nhiều doanh nghiệp mới hoặc các doanh nghiệp sẽ mở
rộng quy mô từ đó sẽ tạo ra việc làm cho nhiều lao động, đặc biệt là ở các
nước đang phát triển có nguồn lao động dồi dào. Nguồn nhân lực quản lý này
sẽ nhanh chóng tiếp thu được nhiều kỹ năng chuyên môn và kinh nghiệm như
cách quản lý, quản trị nhân lực, đàm phán …còn người lao động sẽ nhanh
chóng học hỏi, tiếp thu được kỷ luật lao động, tác phong làm việc, cách làm
việc để hoàn thành công việc tốt.
- Góp phần tác động lan tỏa đến các thành phần kinh tế khác trong nền
kinh tế. Hiệu quả của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài có tác động lan tỏa
đến các thành phần kinh tế khác của nền kinh tế thông qua các doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp trong nước, công nghệ, năng
lực quản lý, kinh doanh... Mặt khác các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài cũng
tạo động lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong nước nhằm thích ứng với
bối cảnh toàn cầu hóa.
1.1.3.2. Tác động tiêu cực
- Hiện tượng “chuyển giá” khá phổ biến trong đầu tư trực tiếp nước
ngoài. Các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện hành vi chuyển giá khi hoạt động
kinh doanh tại nước sở tại. Những hành vi chuyển giá đã tác động xấu đến
nền kinh tế, gây thất thu lớn cho nhà nước, bóp méo môi trường kinh doanh,
tạo sức ép bình đẳng, gây phương hại đối với những nhà đầu tư chấp hành
đúng cam kết, làm giảm hiệu lực quản lý nhà nước trong việc kêu gọi các dự
án đầu tư.

- Mất cân đối trong đầu tư. Các nhà đầu tư nước ngoài thường hay
chạy theo mục tiêu, nhiều tham vọng nên thường đầu tư vào các ngành, các

13


lĩnh vực nhiều khi không hợp với nguyện vọng của nước nhận đầu tư dẫn tới
việc thu hút bị ảnh hưởng. Chính vì vậy, nếu không có cơ chế và những quy
hoạch hữu hiệu sẽ dẫn tới tình trạng đầu tư tràn lan kém hiệu quả, tài nguyên
thiên nhiên bị khai thác quá mức, các nhà đầu tư nước ngoài còn làm cho cơ
cấu kinh tế bị méo mó, chậm cải thiện và tích tụ nguy cơ mất ổn định chung
của đời sống kinh tế xã hội quốc gia.
- Gây những tiêu cực về lao động, tài chính cho nước nhận đầu tư.
Trong kinh doanh, có nhiều nhà đầu tư quốc tế rất khôn khéo, giàu kinh
nghiệm nên cũng có nhiều trường hợp là các nước nhận đầu tư chịu cảnh thu
thiệt như “chảy máu chất xám” do các nhà đầu tư thường có những chính
chính sách thu hút các nhà quản lý giỏi . Ngoài ra, sau khi hoạt động các nhà
đầu tư nước ngoài sẽ chuyển lãi về nước từ đầu tư, ưu đãi thuế và từ các hoạt
động khác. Nhiều nhà đầu tư còn nợ thuế, vay ngân hàng tại các nước sở tại
với khối lượng lớn.
- Xuất hiện nguy cơ rửa tiền. Theo cảnh báo của Ngân hàng Thế giới
(WB) thì Việt Nam sẽ bị các tổ chức rửa tiền quốc tế chọn làm mục tiêu vì hệ
thống thanh tra, giám sát, hệ thống kế toán và tìm hiểu khách hàng ở nước ta
còn kém phát triển, sử dụng tiền mặt và các luồng chuyển tiền không chính
thức còn cao. Nguồn vốn FDI có thể là một kênh thuận lợi cho hoạt động rửa
tiền. Các tổ chức phi pháp có thể tiến hành đầu tư vào nước ta với hình thức
doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài nhưng thực chất không phải để hoạt động
mà nhằm hợp thức hóa các khoản tiền bất hợp pháp.
1.2. Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài ở cấp địa phương

1.2.1. Khái niệm quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài ở cấp địa phương
“Quản lý là một chức năng bắt nguồn từ tính xã hội của lao động

14


trong điều kiện phát triển kinh tế quản lý được xem là thước đo của hầu hết
các hoạt động xã hội” [7].
“Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp là một bộ phận, đồng thời là
nội dung cơ bản của quản lý nhà nước về kinh tế, nên Nhà nước có chức năng
và nhiệm vụ quản lý đối với tất cả các doanh nghiệp thuộc các thành phần
kinh tế, nhưng không được can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế nói
chung, doanh nghiệp FDI nói riêng hoàn toàn có quyền tự chủ khi tiến hành
hoạt động kinh doanh những gì mà pháp luật không cấm” [7].
Quan hệ giữa Nhà nước và DNFDI trong nền kinh tế thị trường chủ yếu
là quan hệ quản lý bằng pháp luật, cơ chế chính sách, kế hoạch, định hướng,
hỗ trợ, điều chỉnh và khống chế trong phạm vi cần thiết để đảm bảo lợi ích
chung của quốc gia.
Như vậy, “trong quá trình hợp tác kinh doanh có sự phối hợp chặt chẽ
giữa Nhà nước với các doanh nghiệp FDI. Một mặt, Nhà nước với vai trò
quản lý của mình sẽ đảm bảo cho lợi ích doanh nghiệp, cạnh tranh lành
mạnh, phát triển ổn định mà vẫn theo đúng định hướng phát triển của đất
nước, của địa phương. Mặt khác, các doanh nhân tham gia nhiều mối quan
hệ lợi ích, các quan hệ này có khả năng dẫn tới xung đột mà chỉ Nhà nước
mới có khả năng xử lý, điều hòa các xung đột đó” [9].
1.2.2. Vai trò quản lý nhà nước đối với DNFDI:
Trong quản lý vốn FDI thì hiệu quả sử dụng vốn là một vấn đề hết sức
quan trọng. Xét trên góc độ kinh tế, hiệu quả của vốn FDI được phản ánh

thông qua tác động hay đóng góp đến sự phát triển thị trường trong nước,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đóng góp vào ngân sách nhà nước, sử dụng có
hiệu quả nguồn lực xã hội, mức tăng kim ngạch xuất khẩu, cải thiện cán cân
thanh toán… Xét trên góc độ xã hội, hiệu quả FDI thể hiện ở việc tạo ra nhiều

15


việc làm đối với người lao động, không làm ảnh hưởng đến môi trường sinh
thái, giảm thiểu buôn lậu, chuyển giá và rửa tiền, bảo đảm đạo đức kinh
doanh… Trên cơ sở đó, quản lý nhà nước đối với các DNFDI nhằm đạt các
mục tiêu sau:
“Thứ nhất, thông qua quản lý nhà nước với các doanh nghiệp FDI sẽ
phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài và
chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững,
thực hiện CNH - HĐH, tạo sự năng động cho nền kinh tế nhiều thành phần
trong nước. Đảng ta đã khẳng định: Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một
bộ phận quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
nước ta, được khuyến khích phát triển. Thu hút đầu tư nước ngoài là chủ
trương quan trọng, góp phần khai thác các nguồn lực trong nước, mở rộng
hợp tác kinh tế quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp phục vụ sự nghiệp CNHHĐH phát triển của đất nước” [11, tr. 23].
Thứ hai, quản lý nhà nước đối với các DNFDI giúp nhà nước dần dần
hoàn thiện hệ thống pháp luật về đầu tư, cơ chế chính sách thu hút, quản lý
các doanh nghiệp FDI.
Thứ ba, nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt
động các doanh nghiệp FDI trước biến động của thị trường.
“Thứ tư, quản lý nhà nước đối với các DNFDI còn nhằm thực hiện các
mục tiêu trước mắt và mục tiêu lâu dài, trong đó việc thu hút vốn, công nghệ
hiện đại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến của nước ngoài phải đặt lên hàng đầu
như: ưu tiên thu hút các dự án FDI có công nghệ hiện đại, tiết kiệm nguyên

liệu, năng lượng, thân thiện với môi trường” [11, tr. 23].
“Thứ năm, quản lý nhà nước đối với các DNFDI nhằm thúc đẩy tái cơ
cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, chú trọng chất
lượng tăng trưởng, hiệu quả và tính bền vững” [11, tr.35].

16


“Thứ sáu, quản lý nhà nước đối với các DNFDI nhằm tạo môi trường
pháp lý, môi trường chính trị, kinh tế - xã hội ổn định, những điều kiện cần
thiết và thuận lợi cho sự ra đời và hoạt động kinh doanh có hiệu quả của
DNFDI” [11, tr.51].
1.2.3. Nội dung quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài
1.2.3.1. Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch
Quản lý nhà nước đối với DNFDI được thông qua các công cụ, chiến
lược, chương trình, kế hoạch, quy hoạch để định hướng các doanh nghiệp này
theo đúng mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước, của tỉnh.
“Để các DNFDI tác động tích cực đến địa bàn tiếp nhận đầu tư, giữa
các ngành kinh tế và giữa các vùng thì việc xây dựng chiến lược, quy hoạch
và kế hoạch thu hút FDI đóng một vai trò rất quan trọng trong quản lý nhà
nước. Nâng cao hiệu năng của quản lý nhà nước đối với FDI đòi hỏi phải
thống nhất quan điểm, nhận thức, từ những mô hình thành công trong thực
tiễn của các ngành, địa phương để hình thành thể chế, quy định chung của cả
nước, tiếp cận với thể chế tốt nhất của những quốc gia đã thành công trong
việc xử lý quan hệ nhà nước với thị trường, tạo lập môi trường đầu tư và kinh
doanh hấp dẫn, hình thành cơ cấu bộ máy và đội ngũ công chức làm việc có
hiệu quả. Xây dựng chiến lược, kế hoạch thu hút FDI cần phải có tính động,
không được khép kín mà phải có sự liên kết giữa các vùng và các địa phương,
đảm bảo lợi ích của cả hai bên. Để thực hiện tốt chức năng này phải xây dựng

thống nhất tổ chức bộ máy quản lý thích hợp trên cơ sở phối hợp nhịp nhàng,
ăn khớp và tối ưu các chức năng quản lý của các bộ phận trong bộ máy quản
lý hoạt động FDI. Bên cạnh đó, quy hoạch không thể chạy theo số lượng mà
cần quan tâm đến chất lượng dự án, theo quy luật cung - cầu, quy luật cạnh
tranh của thị trường. Nhà nước phải xây dựng kế hoạch hiệu quả, sát với tình

17


hình thực tế hiện nay, cần chú trọng công tác dự báo, định hướng, cập nhật
thông tin trong nước và quốc tế, cơ chế linh hoạt trước biến động của thị
trường trong nước và quốc tế” [3].
Các quy định về lĩnh vực quy hoạch đầu tư, bao gồm được khuyến
khích đầu tư, hạn chế đầu tư và cấm đầu tư. Chẳng hạn như lĩnh vực đầu tư
công nghệ cao, giải quyết việc làm đáng kể, đào tạo nguồn nhân lực chất
lượng cao… được khuyến khích đầu tư, trong khi các lĩnh vực liên quan tới
quốc phòng, an ninh, đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc bị cấm đầu tư
Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã đề ra nhiệm: “Tăng
cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài, phấn đấu đạt trên 1/3 tổng nguồn vốn
đầu tư phát triển toàn xã hội trong 5 năm. Mở rộng lĩnh vực, địa bàn và hình
thức thu hút FDI, hướng vào những thị trường giàu tiềm năng và các tập
đoàn kinh tế hàng đầu thế giới, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về số lượng và
chất lượng, hiệu quả nguồn FDI” [3, tr.205].
Để thu hút được các nhà đầu tư nước ngoài các địa phương phải không
ngừng đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính theo hướng “một cửa, một đầu
mối”. Việc cải tiến phải theo hướng tiếp tục đơn giản hoá và giảm bớt các thủ
tục không cần thiết, kiên quyết xử lý nghiêm khắc các trường hợp nhũng
nhiễu,cửa quyền, tiêu cực của cán bộ công chức. Tăng cường phối hợp chặt
chẽ với các cơ quan quản lý nhà nước của Trung ương trong các hoạt động
liên quan đến đầu tư nước ngoài, phân rõ quyền hạn và trách nhiệm của từng

cơ quan trong việc giải quyết các vấn đề phát sinh.
1.2.3.2. Ban hành chính sách và pháp luật
“Chính sách đầu tư nước ngoài là một bộ phận trong các chính sách
phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia. Chính sách phát triển kinh tế - xã
hội của một quốc gia được chia thành chính sách đối nội và chính sách đối
ngoại. Theo lĩnh vực áp dụng, chính sách đối ngoại của một quốc gia được

18


chia thành chính sách ngoại giao (lĩnh vực chính trị) và chính sách kinh tế
đối ngoại (lĩnh vực kinh tế). Theo nội dung, chính sách kinh tế đối ngoại lại
được chia thành chính sách ngoại thương, chính sách đầu tư nước ngoài,
chính sách tỷ giá hối đoái và quản lý ngoại hối… Trong mỗi chính sách bộ
phận trên lại có hàng loạt các chính sách khác. Chẳng hạn, chính sách đầu tư
bao gồm chính sách thu hút đầu tư nước ngoài và chính sách đầu tư ra nước
ngoài” [4].
“Chính sách và pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng trong quản lý
nhà nước đối với DNFDI. Bởi vì, chính sách mang tính định hướng và nền
tảng để xây dựng pháp luật; còn pháp luật là phương tiện để cụ thể hoá và
thực thi chính sách. Vậy, chính sách và pháp luật là hai phạm trù song hành và
gắn kết chắt chẽ với nhau; giải quyết đúng đắn mối quan hệ này sẽ góp phần
nâng cao hiệu lực, hiệu quản quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp FDI.
Trong mối quan hệ giữa chính sách và pháp luật đối với doanh nghiệp FDI,
thì chính sách bao giờ cũng đi trước một bước. Chính sách phải phản ánh một
cách trung thực, khách quan về khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và
dự báo khả năng, khuynh hướng phát triển của loại hình kinh tế này trong
tương lai. Nếu chính sách không đảm nhận được vai trò của mình, thì tất yếu
sẽ dẫn đến tình trạng khi luật hoá các chính sách thành các văn bản pháp luật,
pháp luật hoặc sẽ không có tính khả thi, hoặc sẽ kìm hãm sự phát triển của

khu vực DNFDI. Do đó, khi xây dựng chính sách và pháp luật đối với
DNFDI, đòi hỏi phải được đúc kết từ thực tiễn và dự báo được tương lai” [8].
Các quy định về thủ tục xử lý tranh chấp và cơ quan xử lý tranh

chấp,

tính công khai của việc xử lý tranh chấp, khả năng dẫn chiếu đến quy định
pháp lý quốc tế khi xử lý tranh chấp trong những trường hợp nhất định.Các
quy định không tiến hành quốc hữu hóa, trưng dụng hoặc tịch thu vốn, tài sản,
thu nhập hợp pháp của nhà ĐTNN bằng biện pháp hành chính, vấn đề bồi

19


×