Tải bản đầy đủ (.doc) (21 trang)

Tiểu luận triết học - Mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (273.5 KB, 21 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Tiểu luận triết học - Mối quan hệ giữa cá
nhân và xã hội
1
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU .................................................................................................2
KẾT LUẬN....................................................................................................20
Em xin chân th nh c m n!à ả ơ ..........................................................................20
TÀI LI U THAM KH OỆ Ả ................................................................................21
LỜI MỞ ĐẦU
Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên của kinh tế tri thức, đòi hỏi mỗi
con người phải được đào tạo trình độ học vấn, năng lực ; tu dưỡng rèn luyện
phẩm chất đạo đức, ý thức lao động tốt hơn để có thể đáp ứng những yêu cầu
của sự biến đổi khoa học công nghệ hết sức nhanh chóng.
Trong sự nghiệp đổi mới đất nước với những mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, hiện nay, con người và nguồn
nhân lực được coi là nhân tố quan trọng hàng đầu, quyết định sự phát triển
nhanh, hiệu quả và bền vững nền kinh tế nước ta. Đó là yếu tố hết sức bức
thiết và cần có tính cập nhật, đáp ứng được yêu cầu về con người và nguồn
nhân lực xét trong nước ta nói riêng và quốc tế nói chung. Chúng ta khẳng
định con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của phát triển kinh tế xã hội
đồng thời phải là những con người có tri thức và đạo đức. Từ đây mỗi con
người dần dần về đúng vị trí là một chủ thể sáng tạo ra các giá trị, bao gồm
các giá trị tinh thần và giá trị vật chất, cho bản thân và cho xã hội. Vì vậy, vấn
đề cốt lõi là, ta phải thực hiện chiến lược GDĐT nguồn nhân lực, phát triển
con người một cách toàn diện cả thể lực lẫn trí lực. Nhiệm vụ của GDĐT là
đưa con người đạt đến những giá trị phù hợp với đặc điểm văn hoá và những
yêu cầu mới đặt ra đối với con người Việt Nam để thực hiện quá trình đổi mới
của nước ta cũng như xu hướng phát triển kinh tế nói chung trên thế giới. Em
xin chọn đề tài: Mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội
2


3
NỘI DUNG
Triết học nào cũng phải trả lời bằng cách này hay cách khác câu hỏi:
Con người là gì? Con người sinh ra từ đâu, hoạt động và phát triển ra sao?
Trước khi có học thuyết Mác, những cố gắng của tư duy triết học nhằm
đạt tới sự hiểu biết về con người "cụ thể" hiện thực đều không đem lại kết
quả, rốt cuộc là chủ nghĩa duy tâm vẫn ngự trị trong nhận thức về con người
và về đời sống xã hội.
Chỉ đến triết học Mác, vấn đề con người mới được xem xét một cách
nhất quán, đầy đủ và sâu sắc hơn, trên cơ sở lập trường của duy vật triệt để.
I. CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN
1. Bản chất con người
Bất cứ một học thuyết nào về con người đều không thể lẩn tránh một
vấn đề đã được đặt ra trong lịch sử; Con người là gì? Bản chất của con người
là gì? Quan điểm duy tâm quy đặc trưng, bản chất con người vào lĩnh vực ý
thức tư tưởng, tình cảm, đạo đức, hoặc xem bản chất con người là cái gì đó
được quy định sẵn từ những lực lượng siêu tự nhiên.
Một số trào lưu triết học khác lại giải thích bản chất con người từ góc
độ những điểm chung của mọi sinh vật trên trái đất. Bản chất đó là bản tính tự
nhiên, là những nhu cầu thuộc về sự duy trì thể xác và dục vọng để phát triển
giống nòi; hoặc tìm kiếm bản chất con người trong khuôn khổ cá nhân riêng
lẻ, nghĩa là con người bị tách khỏi mối quan hệ xã hội hiện thực của nó. Tính
chất siêu hình của các quan điểm này về bản chất của con người biểu hiện ở
chỗ, con bản chất là cái vốn có trừu tượng và quy nó về bản tính tự nhiên,
tách khỏi xã hội và trở nên bất biến.
Với quan điểm duy vật triệt để và phương pháp biện chứng, C.Mác và
Ph.Ăngghen đã tạo ra một bước ngoặt trong việc nhận thức bản chất con
người. Các ông xuất phát từ con người thực tiễn, con người hiện thực, con
người cải tạo thế giới và thông qua hoạt động vật chất con người. Đó là một
động vật có tính xã hội với tất cả những nội dung văn hoá - lịch sử của nó.

4
Như vậy, các ông không xem xét bản chất con người một cách cô lập và phiến
diện mà đặt nó trong mối quan hệ với tự nhiên, xã hội và con người. Con
người sống dựa vào tự nhiên như hết thẩy mọi sinh vật khác. Nhưng con
người sở dĩ trở thành con người chính là ở chỗ nó khonog chỉ sống dựa vào tự
nhiên, Ph.Ăngghen là người đầu tiên đã chỉ ra được bước chuyển biến từ
vượn thành người là nhờ có lao động. Quá trình con người cải tạo tự nhiên
cũng là quá trình con người trở thành con người. Ph.Ăngghen nói "lao động
sáng tạo ra con người là theo ý nghĩa ấy".
Khác với tự nhiên, xã hội không thể có trước con người mà đã ra đời
cùng với con người, xã hội cũng con người, xã hội cũng không phải là cái gì
trừu tượng, bất biến mà mỗi hình thái kinh tế - xã hội chỉ thích hợp với mỗi
phương thức sản xuất nhất định.Nhân tố quyết định phương thức sản xuất
phát triển lại là lực lượng sản xuất, bao gồm con người và công cụ lao động.
Như thế, không phải cái gì khác mà chính là con người, cùng với những công
cụ do họ chế tạo ra, đã quyết định sự thay đổi bộ mặt xã hội. Vậy xã hội đã
sản xuất ra con người với tính cách là con người như thế nào thì con người
cũng sản xuất ra xã hội như thế.
Trong khi phê phán những quan điểm của Phoiơbắc, xuất phát từ những
cá thể cô lập C.Mác đã đưa ra luận điểm nổi tiếng về bản chất con người:
"Bản chất con người không phải là cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng
biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan
hệ xã hội". Luận điểm trên thể hiện những điểm cơ bản sau:
- Khi nói bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội, cũng có
nghĩa là tất cả các quan hệ xã hội đều góp phần hình thành bản chất con
người, nhưng có ý nghĩa quyết định nhất là quan hệ sản xuất. Bởi vì, các quan
hệ khác đều trực tiếp hoặc gián tiếp chịu sự quy định của quan hệ này. Mỗi
hình thái kinh tế - xã hội có một kiểu quan hệ sản xuất nhất định giữ vai trò
chi phối, và chính kiểu quan hệ sản xuất đó là cái xét đến cùng, tạo nên bản
chất của con người trong giai đoạn lịch sử đó.

5
Ở đây, cái phổ biến (cái chung của nhân loại) tồn tại và thể hiện qua cái
đặc thù (hình thái xã hội, giai cấp) và cái đơn nhất(cá nhân từng con người).
Do đó, khi bàn đến bản chát chung của con người không thể gạt bỏ bản chất
giai cấp của các tầng lớp khác nhau; và ngược lại khi nói bản chất giai cấp
của các tầng lớp khác nhau không được quên bản chất chung của con người.
Nhưng từ đó quy bản chất con người chỉ còn là bản chất giai cấp và tất cả mọi
hoạt động của con người đều được giải thích trực tiếp từ đây lại là xuyên tạc
thực chất quan điểm macxít về bản chất con người. Đây là một quan hệ không
thể tách biệt của các thứ bậc về bản chất trong con người.
- Các quan hệ xã hội không phải chỉ xét ở quan hệ ở từng hình thái xã
hội riêng biệt mà còn khái quát những quan hệ xã hội chung thể hiện qua từng
chế độ, thời đại riêng biệt. Quan hệ xã hội vừa diễn ra theo chiều ngang
(đương đại) vừa theo chiêù dọc lịch sử. Các quan hệ xã hội quy định bản chất
con người bao gồm cả quan hệ xã hội hiện tại và quan hệ xã hội truyền thống,
bởi trong lịch sử của mình con người bắt buộc phải kế thừa di sản của những
thế hệ trước nó.
Trong lĩnh vực văn hoá tinh thần có những truyền thống thúc đẩy con
người vươn lên, nhưng cũng có những truyền thống "đè nặng lên những con
người đang sống". Do đó khi xem xét bản chất con người không được tách rời
hiện tại và quá khứ.
- Cái bản chất không phải là cái duy nhất, mà là bộ phận chi phối trong
chỉnh thể cụ thể phong phú đa dạng. Bản chất và thể hiện bản chất của con
người có khác biệt. Không hiểu bản chất chung của con người hay quy tất cả
những gì của con người để chỉ vào bản chất là sai lầm. Bản chất một con
người cụ thể là tổng hoà các quan hệ xã hội "vốn có" của con người đó và quy
định những đặc điểm cơ bản chi phối mọi hành vi của người đó. Còn tất cả
những hành vi của người đó bộc lộ ra bên ngoài là những hiện tượng biểu
hiện bản chất của họ. Sự thể hiện bản chất của con người không phải theo con
đường thẳng, trực tiếp, mà thường là gián tiếp, quanh co qua hàng loạt mâu

6
thuẫn giữa cá nhân và xã hội, giữa kinh nghiệm và nhận thức khoa học, giữa
lợi ích trước mắt và lâu dài; giữa bản năng sinh vật và hoạt động có ý thức
giữa di truyền tự nhiên và văn hoá xã hội… Trong diễn biến đầy mâu thaũan
đó, bản chất thể hiện ra như một xu hướng chung, xét đến cùng mới thấy sự
chi phối của xu hướng đó.
Con người là một thực thể sinh vật - xã hội. Thông qua hoạt động thực
tiễn, con người làm biến động đời sống xã hội đồng thời cũng biến đổi chính
bản thân mình. Điều đó cũng có nghĩa là con người tiếp nhận bản chất xã hội
của mình thông qua hoạt động thực tiễn.
Như vậy, bản chất con người không phải là trừu tượng mà là hiện thực,
không phải là tự nhiên mà là lịch sử, không phải là cái vốn có trong mỗi cá
thể riêng lẻ mà là tổng hoà của toàn bộ quan hệ xã hội. Đây là phát hiện có giá
trị to lớn của Mác về bản chất con người.
Thừa nhận ý nghĩa quyết định của mặt xã hội đối với việc hình thành
bản chất con người, song không có nghĩa là, chủ nghĩa Mác- Lênin coi nhẹ
mặt tự nhiên, phủ nhận cái sinh vật trong yếu tố cấu thành bản chất con
người. Bởi vì theo C. Mác "giới tự nhiên là thân thể của con người, thân thể
mà với nó con người phải ở lại trong quá trình thường xuyên giao tiếp để tồn
tại. Nói rằng đời sống thể xác và tinh thần của con người gắn liền với giới tự
nhiên, nói như thế chẳng qua chỉ có nghĩa là giới tự nhiên gắn liền với bản
thân giới tự nhiên, vì con người là một bộ phận của giới tự nhiên".
Con người và con vật đều có những nhu cầu như ăn uóng, tính dục…,
nhưng C. Mác đã từng vạch ra tính chất khác nhau của những nhu cầu ấy: con
người hoạt động theo bản năng, con người hành dộng theo ý thức. Và chính
mặt xã hội của con người đã làm cho mặt sinh vật trong con người phát triển
ở trình độ cao hơn những động vật khác.
Con người sống, hoạt động không phải chỉ theo những bản năng di
truyền sẵn có như các động vật thông thường mà chủ yếu theo sự phát triển
của văn hoá, của tiến bộ lịch sử - xã hội. Khác con vật, con người ngoài

7
chương trình di truyền, còn có chương trình kế thừa về mặt xã hội. Bằng con
đường giáo dục, chương trình này truyền lại kinh nghiệm của những thế hệ
trước cho các thế hệ sau. Những đặc điểm di truyền của từng người vừa bảo
đảm những thuộc tính sinh học của mình, vừa bảo đảm để con người tiếp thu
chương trình xã hội.
Ngày nay, mối tương quan giữa mặt sinh vật và mặt xã hội trong sự
phát triển của con người vẫn là đối tượng của những cuộc tranh luận khoa học
gay gắt. Nhiều nhà khoa học tư sản vẫn đem đối lập và tách mặt sinh học khỏi
mặt xã hội. Chẳng hạn, phải duy sinh vật tuyệt đối hoá yếu tố sinh vật trong
sự phát triển của con người. Họ tuyên truyền thuyết Đácuyn xã hội. Đại biểu
trường phái này là: Ph.Nítsơ, Trenherơlen, Klovenơ…
Nhiều tác giả như Liônen Tigơ và Rôbin Phốcxơ cắt nghĩa hành vi của
con người theo quan điểm di truyền học…
Chủ nghĩa Phơrớt cho rằng, toàn bộ cái xã hội trong tâm lý học người
chỉ là mặt khác nhau của giới tính, là sự biểu hiện quanh co của những đam
mê bẩm sinh.
Ngược lại quan điểm xã hội học tầm thường về con người thường quy
kết bản chất con người là một sản phẩm văn hoá của xã hội, của kinh tế và
tước bỏ tính hữu cơ, tính tự nhiên của con người.
Trường phái "Triết học nhân bản hiện đại" quan niệm về bản chất của
con người phải được xuất phát từ nguyên tắc tinh thần.
Xuất phát từ những lập luận trên, kết luận tất yếu rút ra là: con người
với tư cách là sản phẩm của giới tự nhiên, là sự phát triển tiếp tục của giới tự
nhiên, mặt khác con người là một thực thể xã hội được tách ra như một lực
lượng đối lập với tự nhiên. Sự tác động qua lại giữa mặt sinh học và mặt xã
hội trong con người tạo thành bản chất người.
2. Mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội.
8

×