Tải bản đầy đủ (.pdf) (93 trang)

Dạy học cụm bài ôn tập kiến thức tiếng việt lớp 9 theo hướng phát triển năng lực tư duy hệ thống cho học sinh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.58 MB, 93 trang )

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
------

DƢƠNG THỊ NIỀM

DẠY HỌC CỤM BÀI ÔN TẬP KIẾN THỨC TIẾNG VIỆT LỚP 9
THEO HƢỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƢ DUY
HỆ THỐNG HÓA CHO HỌC SINH

Chuyên ngành:
Lí luận và phƣơng pháp dạy học Văn – tiếng Việt
Mã số: 60 14 01 11

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. HOÀNG THẢO NGUYÊN

Huế, Năm 2016
i


ii


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi,
các số liệu và kết quả nghiên cứu ghi trong luận văn là trung thực,
được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố
trong bất kỳ một công trình nào khác.


Tác giả luận văn

Dƣơng Thị Niềm

iii


Lời cảm ơn
Luận văn này là kết quả của một quá trình học tập và nghiên cứu của
tôi đƣợc hoàn thành nhờ nỗ lực của bản thân và sự giúp đỡ, động viên của
quý thầy cô, gia đình và bạn bè.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo TS. Hoàng Thảo
Nguyên, ngƣời cô đã trực tiếp hƣớng dẫn, tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình
học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô giáo giảng dạy LL và PP dạy
học Văn – tiếng Việt, khóa 23 đã trực tiếp gi ảng dạy tôi trong thời gian quá.
Xin cảm ơn phòng Đào tạo Sau đại học, quý thầy cô giáo trong khoa
Ngữ văn và thƣ viện trƣờng ĐHSP Huế đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi
trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại trƣờng.
Xin cảm ơn các thầy cô giáo, các em học sinh các trƣờng THCS Phú
Hải, THCS Phú Thƣợng đã tạo điều kiện giúp đỡ cho tôi trong suốt quá trình
nghiên cứu và thực nghiệm đề tài.
Cuối cùng, tôi xin đƣợc bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới gia đình,
ngƣời thân và bạn bè đã luôn ở bên động viên, khích lệ và tạo điều kiện thuận
lợi để tôi an tâm học tập, nghiên cứu và hoàn thành tốt luận văn này.
Huế, tháng 09 năm 2016
Tác giả luận văn
Dương Thị Niềm

iv

iii


MỤC LỤC
Trang phụ bìa ..................................................................................................... i
Lời cam đoan ..................................................................................................... ii
Lời cảm ơn ....................................................................................................... iii
Danh mục các chữ viết tắt ................................................................................. 3
Danh mục các bảng biểu ................................................................................... 4
Danh mục các hình ............................................................................................ 5
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 6
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................ 6
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................ 8
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ........................................................... 11
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................... 12
5. Phương pháp nghiên cứu ......................................................................... 12
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI ............ 14
1.1. Cơ sở lí luận của đề tài .......................................................................... 14
1.1.1. Cơ sở Ngôn ngữ học ....................................................................... 14
1.1.2. Cơ sở Tâm lý học ............................................................................ 24
1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài ...................................................................... 26
1.2.1. Cụm bài ôn tập tiếng Việt trong Chương trình và sách giáo khoa
Ngữ văn lớp 9 THCS ................................................................................ 26
Tiểu kết chương 1 ........................................................................................ 33
CHƢƠNG 2. M T SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỆ
THỐNG HÓA KIẾN THỨC TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH QUA DẠY
HỌC CỤM BÀI ÔN TẬP TIẾNG VIỆT LỚP 9 ........................................ 34
2.1. Định hướng ........................................................................................... 34
2.1.1. Phát triển năng lực hệ thống hóa cho học sinh cần chú trọng nguyên
tắc củng cố lý thuyết gắn với thực hành ................................................... 34


1


2.1.2. Phát triển năng lực hệ thống hóa cho học sinh cần chú trọng quan
điểm giao tiếp trong dạy học tiếng Việt.................................................... 36
2.1.3. Phát triển năng lực hệ thống hóa cho học sinh cần quan tâm đồ
dùng dạy học ............................................................................................. 37
2.2. Tổ chức dạy học cụm bài ôn tập kiến thức tiếng Việt lớp 9 nhằm phát
triển năng lực hệ thống hóa cho học sinh .................................................... 37
2.2.1. Sử dụng biểu bảng giúp học sinh hệ thống hóa kiến thức tiếng Việt ... 37
2.2.2. Sử dụng graph giúp học sinh hệ thống hóa kiến thức tiếng Việt ... 42
2.2.3. Sử dụng sơ đồ tư duy giúp học sinh hệ thống hóa kiến thức
tiếng Việt .................................................................................................. 48
Tiểu kết chương 2 ........................................................................................ 58
CHƢƠNG 3. THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM ................................................ 59
3.1. Mục đích thực nghiệm .......................................................................... 59
3.2. Kế hoạch thực nghiệm .......................................................................... 59
3.2.1. Nội dung, cách thức thực nghiệm ................................................... 59
3.2.3. Đối tượng chọn thực nghiệm .......................................................... 77
3.3. Kết quả thực nghiệm ............................................................................. 78
Tiểu kết chương 3 ........................................................................................ 81
KẾT LUẬN .................................................................................................... 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................... 87

2


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt


Viết đầy đủ

BĐTD

Bản đồ tư duy

GV

Giáo viên

HS

Học sinh

SGK

Sách giáo khoa

THCS

Trung học cơ sở

ĐC

Đối chứng

TN

Thực nghiệm


3


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1. Nhận thức của HS về vai trò của các bài ôn tập theo hướng phát
triển năng lực tư duy hệ thống hóa.................................................................. 29
Bảng 1.2. Nhận thức của học sinh về việc học cụm bài ôn tập kiến thức tiếng
Việt lớp 9 theo hướng phát triển năng lực tư duy hệ thống hóa ..................... 33
Bảng 3.1. Đối tượng và địa bàn thực nghiệm ................................................. 78
Bảng 3.2. Bảng kết quả kiểm tra lớp thực nghiệm và đối chứng.................... 79
Bảng 3.3. Bảng kết quả thực nghiệm và đối chứng ........................................ 79
Biểu đồ 3.1. Kết quả thực nghiệm và đối chứng............................................. 80

4


DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1. Sơ đồ chưa đầy đủ ........................................................................... 31
Hình 1.2. Sơ đồ đầy đủ .................................................................................... 31
Hình 2.1. Có ẩn một số nhánh ......................................................................... 55
Hình 2.2. Các nhánh đã đầy đủ ....................................................................... 55

5


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Người xưa đã có câu “Văn ôn võ luyện”, đó là nhận định sâu sắc được

đúc rút từ thực tiễn cuộc sống vô cùng phong phú và lâu dài. Câu nói đó cho
đến ngày nay vẫn đúng đắn, nó khẳng định tầm quan trọng của việc ôn luyện
kiến thức trong học tập nói chung. Sự ghi nhớ kiến thức của con người chỉ có
thể vững bền nếu nó được ôn luyện thường xuyên trong quá trình học tập.
Nếu kiến thức chỉ được nhắc đến một lần, nó sẽ mờ nhạt dần và có nhiều điều
sẽ biến mất, quá trình quên sẽ xảy ra. Nhận thấy tầm quan trọng của việc ôn
luyện kiến thức trong học tập, từ lâu, các chương trình giáo dục và giảng dạy
cũng như sách giáo khoa biên soạn cho học sinh các cấp đều đã có loại bài ôn
tập kiến thức. Có thể ôn tập theo chương, phần, ôn theo học kỳ, theo năm học
và cả ôn tập cho cả bậc học. Cụm bài ôn tập tiếng Việt ở lớp 9 THCS hiện
nay là loại bài ôn tập cho cả bậc học về một phân môn – phân môn Tiếng
Việt. Như vậy, không riêng môn Tiếng Việt mà bất cứ môn học nào cũng cần
có loại bài ôn tập kiến thức. Đó là một yêu cầu có tính bắt buộc của khoa học
Sư phạm.
Hệ thống hóa tuy không phải là một thao tác tư duy cơ bản của con
người nhưng nó cũng là một thao tác trí tuệ vô cùng quan trọng, nhất là trong
học tập hoặc quản lý công việc, quản lý xã hội, trong nghiên cứu khoa học...
Khoa học phát triển ngày càng phong phú, đa dạng, phức tạp đòi hỏi phương
pháp nhận thức của con người phải chuyển biến theo. Hệ thống hóa kiến thức
là một trong các phương pháp giúp con người nhận thức, lưu trữ kiến thức
một cách khoa học, logic, hợp lý, thuận lợi. Nếu không có phương pháp hệ
thống hóa, nhận thức của con người về khoa học sẽ rối loạn, chồng lấn, kém
sáng tỏ... và khi cần huy động kiến thức, sẽ rất khó khăn. Có tư duy hệ thống
6


hóa, khi lưu giữ kiến thức, con người sắp xếp, cất giữ nó có lớp lang thứ tự,
trật tự, để khi cần huy động kiến thức, con người sẽ truy tìm một cách dễ
dàng, thuận tiện.
Để đáp ứng mục tiêu giáo dục học sinh có kiến thức về khoa học tiếng

Việt và có kỹ năng sử dụng tiếng Việt để học tập, giao tiếp trong môi trường
lứa tuổi, nội dung phần tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn ở THCS gồm 2
bộ phận lớn, bộ phận thứ nhất là nội dung kiến thức tiếng Việt và những quy
tắc sử dụng tiếng Việt, bộ phận thứ hai là thực hành luyện tập nhằm củng cố
kiến thức và hình thành kỹ năng cho các em. Kiến thức lý thuyết về tiếng Việt
trong nhà trường phổ thông là những khái niệm về tiếng Việt, những quy tắc
sử dụng, sự phân loại cũng như đặc điểm tính chất, khả năng hoạt động của
các đơn vị ngôn ngữ trong giao tiếp... Kiến thức tiếng Việt có vai trò hết sức
quan trọng. Nó làm cơ sở khoa học, chỉ dẫn hoạt động thực hành đi đúng
hướng, tránh con đường mò mẫm, kinh nghiệm chủ nghĩa. Học sinh học kiến
thức lý thuyết về tiếng Việt là nhằm “học một biết mười” bởi kiến thức Ngôn
ngữ học là những kiến thức được khái quát hóa từ vô vàn thực tế sử dụng
ngôn ngữ. Song mục đích của dạy học tiếng Việt ở phổ thông không phải là
đào tạo những nhà khoa học Ngôn ngữ học, các em không cần phải học quá
sâu, quá nhiều về kiến thức hệ thống tiếng Việt mà kiến thức cần vừa đủ để
giúp hoạt động thực hành đảm bảo tính khoa học, tránh sai sót. Từ vai trò và vị
trí của nó, kiến thức tiếng Việt được bố trí thời lượng một cách hợp lý ở từng
bậc học phổ thông. Ở THCS, phần tiếng Việt được bố trí khoảng năm mươi
phần trăm thời lượng học tập tiếng Việt. Cuối bậc THCS - lớp 9, có hệ thống
bài ôn tập tiếng Việt. Đây là loại bài có nhiệm vụ và tính chất khá đặc biệt. Nó
giúp hệ thống hóa những kiến thức tiếng Việt đã học từ lớp dưới cho đến đó,
chủ yếu là kiến thức tiếng Việt của bậc THCS. Loại bài này vừa có tác dụng ôn
tập kiến thức vừa góp phần rèn luyện tư duy hệ thống hóa cho học sinh. Bất cứ
môn học nào cũng được xây dựng đảm bảo tính hệ thống, đó là một nguyên tắc
7


giáo dục. Môn tiếng Việt cũng vậy. Hơn nữa, ngôn ngữ bản thân nó là một hệ
thống vô cùng chặt chẽ, phong phú, phức tạp, đa dạng. Vì vậy, dạy học cụm bài
ôn tập tiếng Việt cũng là góp phần đắc lực trong việc rèn luyện tư duy hệ thống

hóa cho học sinh.
Tuy nhiên, loại bài học ôn tập tiếng Việt cũng là thách thức đối với cả
giáo viên và học sinh, bởi nó đòi hỏi sự huy động tổng lực kiến thức các em
đã học cả quá trình trước đó. Để dạy tốt loại bài này cần lựa chọn phương
pháp dạy học phù hợp. Thực tế dạy học loại bài ôn tập kiến thức tiếng Việt ở
THCS hiện nay đang gặp nhiều khó khăn. Học sinh tỏ ra quá tải, chưa nhận
thức được tầm quan trọng của loại bài này. Giáo viên tỏ ra thiếu thời gian để
thực hiện và phương pháp giảng dạy còn ít được đầu tư, còn đơn điệu, kém
hấp dẫn... Nhìn chung chất lượng dạy học loại bài này còn hạn chế. Xuất phát
từ vai trò và vị trí của loại bài này, xuất phát từ đòi hỏi của thực tế dạy học,
chúng tôi mạnh dạn chọn nghiên cứu đề tài: Dạy học c m bài ôn tập kiến thức
tiếng Việt lớp 9 theo hƣớng phát triển năng lực tƣ duy hệ thống hóa cho học
sinh.
2. Lịch sử vấn đề
Nhận thấy tầm quan trọng của kiến thức tiếng Việt trong nhà trường đặc
biệt là ở phổ thông, nhiều tác giả đã có nhiều công trình nghiên cứu về dạy
học tiếng Việt trong đó có các bài ôn tập tiếng Việt và vận dụng nó vào các
bài tập cụ thể. Có thể khái quát các công trình đó theo các nhóm vấn đề sau:
Nhóm các tài liệu về phương pháp dạy học tiếng Việt, Giáo trình đào tạo giáo
viên; nhóm các công trình về sách giáo khoa dành cho học sinh.
Nhóm các tài liệu về phương pháp dạy học tiếng Việt
Đã có nhiều công trình đề cập đến những vấn đề chung về lí luận và
PPDH tiếng Việt. Trước hết đó là các Giáo trình đào tạo giáo viên các cấp
phổ thông. Các giáo trình này đều có tên Phƣơng pháp dạy học tiếng Việt

8


nhưng khác nhau là dành cho nhiều đối tượng giáo viên khác nhau từ Tiểu
học, THCS đến THPT. Dành cho giáo viên Tiểu học có các giáo trình của các

tác giả Lê A, Lê Phương Nga, Nguyễn Kim Nga, Nguyễn Trí, Cao Đức Tiến.
Dành cho cấp THCS có giáo trình của Lê A, Lê Xuân Soan, ... Cuốn giáo
trình được sử dụng phổ biến nhất hiện nay dành cho cấp THPT là Phƣơng
pháp dạy học tiếng Việt của các tác giả Lê A- Nguyễn Quang Ninh- Bùi Minh
Toán. Trong các công trình trên, đều có phần hướng dẫn giáo viên dạy học
phần ôn tập kiến thức tiếng Việt cho học sinh. Trong đó, các tác giả đã chỉ rõ
đặc điểm của bài ôn tập tiếng Việt, đó là tính chất tổng hợp, hệ thống hóa và
tính thực hành.
Ngoài ra, còn có thể kể đến nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến vấn
đề nâng cao hiệu quả dạy học phân môn tiếng Việt và cụ thể hóa một số dạng
bài tiếng Việt cho học sinh như Ngữ pháp văn bản và việc dạy làm văn
(Nguyễn Trọng Báu, Nguyễn Quang Ninh, Trần Ngọc Thêm, Nxb GD,
HN1985), Các bình diện của từ và từ tiếng Việt của Đỗ Hữu Châu, Nxb Đại
học quốc gia Hà Nội, 1999), Ngữ pháp tiếng Việt (Diệp Quang Ban, Hoàng
Văn Thung, Nxb GD, 1998) v.v…
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đây đã xây dựng được hệ
thống tri thức cơ bản về lí luận và phương pháp dạy học tiếng Việt, về quy
trình hệ thống một bài ôn tập tiếng Việt cũng như kĩ năng tư duy hệ thống hóa
cho học sinh. Tuy nhiên chưa có công trình nào bàn riêng về phương pháp
dạy loại bài ôn tập kiến thức tiếng Việt lớp 9 ở THCS.
Các công trình sách giáo khoa dành cho học sinh
Trước năm 2002, trong nhà trường THCS, môn Ngữ văn được chia làm
3 phân môn: Văn, tiếng Việt, Tập làm văn. Điều đáng nói ở đây là ba phân
môn trong một bộ môn nhưng lại tách biệt, ít liên quan đến nhau. Điều này
khiến cho việc rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức từ các bài học vào cuộc
sống, vận dụng kiến thức tiếng Việt được hiểu một cách lí thuyết, máy móc
9


không có tính thực tiễn, hệ thống nên học sinh gặp rất nhiều khó khăn trong

việc học và hành môn Tiếng Việt.
Từ sau năm 2002 đến nay, SGK Ngữ văn mới được áp dụng trên toàn
quốc được xây dựng theo hướng tích hợp. Đây là điều kiện thuận lợi để học
sinh được phát triển năng lực tư duy một cách hệ thống, đặc biệt là cụm bài
ôn tập phân môn tiếng Việt.
Bộ sách giáo khoa Tiếng Việt ở Tiểu học hiện hành đã được biên soạn
theo hướng rất chú trọng vào vấn đề ôn tập kiến thức cho học sinh. Từ sách
Tiếng Việt lớp 2 đến lớp 5, đều có hệ thống bài ôn tập, ôn tập giữa kỳ và cuối
kỳ. Trong mỗi phần ôn tập đó, các phân môn như: Tập đọc, Luyện từ và câu...
đều có nội dung ôn tập rất đầy đủ và chu đáo. Các bài ôn tập cũng được biên
soạn theo hướng dạy học tích cực, phát huy tính tích cực chủ động của HS.
Bộ sách Ngữ văn THCS hiện hành cũng được biên soạn chú trọng nội dung
ôn tập. Phân môn nào cũng có các bài ôn tập.
Quyển sách Hỏi - Đáp kiến thức Ngữ văn 9 do PGS. Lê Huy Bắc (chủ
biên) Lê Quang Đức - Đỗ Thị Cẩm Nhung, Nguyễn Thị Minh Tuyết, Nxb
GD, 2005) dù không dành riêng về ôn tập tiếng Việt nhưng với những kiến
thức và kinh nghiệm được trình bày một cách tỉ mỉ, hệ thống, cuốn sách là tài
liệu rất quý báu đối với học sinh trong việc học các bài ôn tập tiếng Việt.
Cũng xét trong mối qua tâm đến môn Ngữ văn 9, có thể kể đến các tài
liệu như: Các chủ đề ôn tập cuối cấp THCS và thi tuyển sinh vào lớp 10 môn
Ngữ văn, Cao Đăng Ngọc Phượng (chủ biên) - Lê Thị Kiều Oanh, Nxb GD
Việt Nam, 2011. Cuốn Thiết kế bài giảng Ngữ văn 9 của Nguyễn Văn Đường
(chủ biên), Thạc sĩ Hoàng Dân, Nxb Hà Nội, 2005 đã coi trọng tính thực
hành, sách tập trung nhiều vào phân môn tiếng Việt đặc biệt là các bài ôn tập
với rất nhiều bài tập củng cố, mở rộng, nâng cao. Đây là điều rất bổ ích cho
HS, có thể nói những quyển sách này xứng đáng là người bạn đường đáng tin

10



cậy của các em học sinh trong quá trình học tập môn Ngữ văn 9 nói chung,
cụm bài ôn tập kiến thức tiếng Việt lớp 9 theo hướng phát triển năng lực tư
duy hệ thống hóa cho học sinh.
Nhìn chung, cấu trúc và thứ tự của các bài trong quyển sách này đều theo
sát với nội dung SGK. Tuy khác nhau ở mức độ tiếp cận nhiều - ít, cụ thể - sơ
lược nhưng đều giải quyết đến các vấn đề về cụm bài ôn tập tiếng Việt. Đây là
các bộ sách cung cấp những gợi ý khá bài bản được nhiều giáo viên tin cậy,
xem là cơ sở để dựa vào đó mà thiết kế bài giảng.
Các bài viết, các công trình nghiên cứu trên đều là những phát hiện đáng
trân trọng. Có bài viết là những chia sẻ đầy tâm huyết và kinh nghiệm của các
nhà giáo… Đó là những bài học quý giá cần học tập. Song chưa có tác giả nào
hướng dẫn cụ thể dạy học cụm bài ôn tập kiến thức tiếng Việt lớp 9 theo
hướng phát triển năng lực tư duy hệ thống hóa cho học sinh.
Vì vậy, để góp phần nâng cao chất lượng dạy học cụm bài ôn tập tiếng
Việt, chúng tôi nghiên cứu đề tài: Dạy học c m bài ôn tập kiến thức tiếng Việt
lớp 9 theo hƣớng phát triển năng lực tƣ duy hệ thống hóa cho học sinh. Luận
văn hy vọng sẽ góp phần hình thành cho học sinh năng lực sử dụng tiếng Việt
một cách thuần thục, tư duy một cách hệ thống theo hướng phát triển năng lực
của mỗi HS đem đến hứng thú học tập môn Ngữ văn cho các em.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu các biện pháp dạy học cụm bài ôn tập kiến thức Tiếng
Việt lớp 9 nhằm phát triển năng lực tư duy hệ thống hóa cho học sinh góp
phần nâng cao chất lượng, hiệu quả giờ dạy ôn tập ở lớp 9 cũng như cấp
THCS.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích trên, đề tài có các nhiệm vụ chính sau đây:

11



Nghiên cứu lí luận về dạy học các bài ôn tập kiến thức tiếng Việt lớp 9
theo hướng phát triển năng lực tư duy hệ thống hóa cho học sinh.
Xác định cơ sở thực tiễn của đề tài.
Đề xuất các biện pháp dạy học cụm bài ôn tập tiếng Việt 9 theo hướng
phát triển năng lực tư duy hệ thống hóa cho học sinh.
Tiến hành dạy học thực nghiệm để kiểm chứng tính đúng đắn và khả thi
của các đề xuất của đề tài.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình dạy học tiếng Việt ở THCS,
trong đó trọng tâm là cụm bài ôn tập kiến thức tiếng Việt ở cuối cấp.
Do điều kiện khách quan, chúng tôi chọn học sinh lớp 9 một số trường
THCS thuộc huyện Phú Vang - tỉnh Thừa Thiên Huế làm đại diện cho học
sinh THCS.
Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu cách thức giúp học sinh thông qua cụm bài
ôn tập tiếng Việt lớp 9 phát triển năng lực hệ thống hóa kiến thức nói chung.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để giải quyết vấn đề đặt ra trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng
các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
Phƣơng pháp phân tích - tổng hợp
Chúng tôi dùng phương pháp này để nghiên cứu các tài liệu liên quan
nhằm xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài.
Phƣơng pháp điều tra - thống kê
Phương pháp điều tra - thống kê được sử dụng nhằm khảo sát thực trạng
dạy học trong chương trình Ngữ văn THCS và thực hiện đo lường kết quả của
hoạt động thực nghiệm, nhờ đó có được những kết quả đúng đắn, đáng tin

12



cậy.
Phƣơng pháp thực nghiệm sƣ phạm
Phương pháp thực nghiệm sư phạm giúp kiểm tra, đánh giá tính đúng
đắn và khả thi của những đề xuất của đề tài.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Ph l c, nội dung
chính của đề tài gồm có ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Một số biện pháp phát triển năng lực hệ thống hóa kiến thức
tiếng Việt cho HS qua dạy học cụm bài ôn tập TV lớp 9.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.

13


CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lí luận của đề tài
1.1.1. Cơ sở Ngôn ngữ học
1.1.1.1. Tính hệ thống của ngôn ngữ
Hệ thống là một tổng thể bao gồm các yếu tố có có quan hệ qua lại với
nhau quy định lẫn nhau và tổ chức thành một tổng thể. Trong hệ thống, yếu
tố là phần tử tạo nên hệ thống. Quan hệ giữa yếu tố trong một hệ thống tạo
thành cấu trúc của hệ thống. Cấu trúc này luôn luôn tồn tại trong hệ thống
và là cấu trúc của một hệ thống nhất định. Nằm trong một hệ thống, các
yếu tố luôn có một giá trị nhất định trong một hệ thống nhất định và là giá
trị trong hệ thống ấy.
Ferdinand de Saussure cho rằng Ngôn ngữ trước hết phải là một hệ thống

kí hiệu. Không có kí hiệu thì không thể có một sự giao tiếp nào cả. Kí hiệu
không phải là những yếu tố rời rạc, mà là một tập hợp có tổ chức, có hệ
thống, một chỉnh thể bao gồm những yếu tố có liên quan mật thiết với nhau,
tùy thuộc lẫn nhau, giá trị của yếu tố này đồng thời có mặt của yếu tố kia,
trong hệ thống, quyết định. Tính hệ thống của kí hiệu ngôn ngữ cho phép sự
kết hợp muôn màu muôn vẻ giữa chúng với nhau để phát huy tính sáng tạo
của tiếng nói, nhằm đáp ứng những nhu cầu diễn đạt ngày càng cao và đổi
mới khôn lường. Bằng những thực tế sinh động, Saussure chỉ ra rằng ngôn
ngữ lúc nào cũng hiện ra như một tổ chức (hệ thống hay cấu trúc). Vì vậy,
mọi sự nghiên cứu phải xuất phát từ cái tổng thể làm thành một khối – để
phân tích ra những yếu tố mà nó chứa đựng chứ không nên bắt đầu bằng
những yếu tố và xây dựng nên hệ thống bằng cách cộng lại tất cả các yếu tố

14


đó lại.
Trong hệ thống, yếu tố là phần tử tạo nên hệ thống. Có những hệ thống
có rất nhiều yếu tố. Trong hệ thống lớn lại có nhiều hệ thống nhỏ. Mỗi hệ
thống nhỏ là một yếu tố trực tiếp tạo nên hệ thống lớn. Nói cách khác: trong
một hệ thống lớn có thể có nhiều cấp độ tổ chức. Một phần nào đó, vừa có thể
là yếu tố tạo nên hệ thống lớn hơn, vừa có thể là một hệ thống nhỏ bao gồm
các yếu tố nhỏ hơn.
Quan hệ giữa các yếu tố trong một hệ thống tạo thành cấu trúc của hệ
thống. Cấu trúc này luôn luôn tồn tại trong hệ thống và là cấu trúc của một hệ
thống nhất định. Con người có thể trừu tượng hoá, khái quát hoá mà tách cấu
trúc thành hệ thống để khảo sát và nghiên cứu. Cấu trúc của hệ thống thường
được biểu hiện bằng các sơ đồ, bảng biểu, mô hình… nó phản ánh mối tương
quan của các yếu tố, các bộ phận tạo nên hệ thống. Các quan hệ trong hệ
thống cũng có nhiều loại khác nhau. Số lượng các quan hệ và độ phức tạp của

các quan hệ phụ thuộc vào số lượng các yếu tố của hệ thống, vào sự đa dạng
của các yêu tố, vào các cấp độ khác nhau trong hệ thống, vào các mối quan hệ
với các hệ thống khác.
Nằm trong một hệ thống, các yếu tố luôn luôn có giá trị nhất định. Giá
trị của mỗi yếu tố được xác định trong một hệ thống nhất định và là giá trị
trong hệ thống ấy. Nếu cũng yếu tố đó nhưng nằm trong hệ thống khác thì sẽ
có giá trị khác. Giá trị của mỗi yếu tố trong hệ thống vừa được xác định bởi
những thuộc tính của bản thân yếu tố đó, vừa được quy định bởi mối tương
quan với các yếu tố khác trong cùng hệ thống. Cho nên giá trị của mỗi yếu tố
có thể thay đổi ngay cả khi bản thân yếu tố đó không thay đổi mà có sự thay
đổi ở yếu tố khác trong cùng hệ thống.
Sở dĩ có thể nói ngôn ngữ là một hệ thống vì nó thoả mãn những yêu cầu

15


của một hệ thống. Nó là một tổng thể bao gồm nhiều yếu tố quan hệ qua lại
với nhau. Các yếu tố ngôn ngữ thuộc nhiều loại khác nhau, thuộc nhiều cấp
độ khác nhau. Mỗi loại yếu tố đảm nhiệm những chức năng khác nhau và mỗi
loại yếu tố thường được coi là một loại đơn vị ngôn ngữ.
Yếu tố nhỏ nhất trong hệ thống ngôn ngữ là âm vị. Âm vị là đơn vị âm
thanh nhỏ nhất có giá trị phân biệt nghĩa, và cấu tạo nên mặt biểu đạt cho các
loại đơn vị ngôn ngữ khác. Toàn bộ các âm vị của một ngôn ngữ tạo nên hệ
thống âm vị. Hệ thống này là một cấp độ trong hệ thống ngôn ngữ - cấp độ âm
vị.
Yếu tố ở cấp độ cao hơn sau âm vị là các hình vị. Hình vị là đơn vị ngôn
ngữ nhỏ nhất mà có ý nghĩa dùng để cấu tạo từ và biến đổi từ. Toàn bộ các
hình vị tạo nên một hệ thống và một cấp độ - cấp độ hình vị.
Từ là một loại yếu tố có số lượng rất lớn. Mỗi ngôn ngữ có hàng chục
vạn từ và số lượng đó còn tiếp tục được bổ sung. Từ là loại đơn vị có chức

năng định danh và có thể dùng độc lập (riêng rẽ từng từ một ) để cấu tạo cụm
từ và câu. Toàn bộ các từ của một ngôn ngữ tạo thành một thệ thống từ vựng
của ngôn ngữ đó và tạo nên cấp độ từ.
Cấp độ từ cao hơn cấp độ hình vị, vì từ được tạo nên từ các hình vị, bao
gồm các hình vị, nhưng cấp độ từ lại thấp hơn cấp độ câu.
Hệ thống từ vựng lại bao gồm nhiều yếu tố nhỏ hơn, vì mỗi từ có nhiều
bình diện. Xét về mặt cấu tạo: mỗi từ nằm trong một hệ thống cấu tạo từ. Xét
về đặt điểm ngữ pháp mỗi từ thuộc một hệ thống từ loại. Xét về ngữ nghĩa,
mỗi từ thuộc về một trường ngữ nghĩa.
Trên đơn vị từ, có cụm từ và câu. Nhưng cụm từ không có chức năng
riêng, nó có chức năng tương đương với từ: chức năng định danh và chức
năng tạo câu.
Câu là đơn vị có chức năng thông báo, và là đơn vị nhỏ nhất của ngôn

16


ngữ thực hiện được chức năng này. Khác với âm vị, hình vị, từ, câu không
phải là yếu tố có sẵn của hệ thống ngôn ngữ, mà được tạo ra trong từng hoạt
động giá trị cụ thể. Vì thế nó có số lượng vô hạn.
Tuy số lượng các câu cụ thể (còn gọi là các phát ngôn) là vô hạn nhưng
chúng vẫn nằm trong những hệ thống nhất định. Những câu có cùng kiểu cấu
tạo (cấu trúc ngữ pháp) tạo thành một hệ thống: câu đơn, câu ghép…
Trên cấp độ câu là lĩnh vực văn bản: đoạn văn và văn bản. Chúng chỉ
được tạo ra trong hoạt động giao tiếp ngôn ngữ , vì thế số lượng là vô hạn.
Văn bản là đơn vị (yếu tố) ngôn ngữ thực hiện chức năng thông báo trọn vẹn,
còn đoạn văn là đơn vị thể hiện trọn vẹn một tiểu chủ đề của văn bản.
Như thế, trong hệ thống ngôn ngữ, số lượng các yếu tố là rất lớn. Chúng
lại thuộc nhiều loại khác nhau, các chức năng khác nhau. Chúng tạo nên hệ
thống nhỏ trong lòng hệ thống ngôn ngữ với nhiều tầng bậc khác nhau. Hơn

nữa, cùng một yếu tố ngôn ngữ có thể tham gia vào nhiều hệ thống bộ phận
khác nhau trong lòng hệ thống ngôn ngữ. Chính vì thế có thể nói rằng: Ngôn
ngữ là hệ thống của các hệ thống.
1.1.1.2. Cơ sở Từ vựng học của c m bài ôn tập tiếng Việt 9
Từ và các ngữ cố định là đơn vị ngôn ngữ với tư cách là một hệ thống tín
hiệu. Dạy học tiếng Việt không thể xem xét từ ngữ một cách cô lập mà phải
thấy được hoạt động của nó, mối quan hệ của nó với các đơn vị bé hơn (tiếng)
và những đơn vị lớn hơn (câu, đoạn văn và ngôn bản).
Về vấn đề cấu tạo từ: Tiếng Việt là ngôn ngữ thuộc loại hình ngôn ngữ
đơn lập phân tích tính. Vì vậy cấu tạo từ có khác so với các ngôn ngữ khác
trên thế giới. Từ TV được cấu tạo bằng một hoặc nhiều âm tiết. Âm tiết là đơn
vị phát âm tự nhiên nhỏ nhất, có chức năng cấu tạo từ. Trong TV, âm tiết
thường trùng với hình vị. Hình vị là đơn vị nhỏ nhất mang nghĩa có chức năng
cấu tạo từ. Nhưng hình vị không hoạt động độc lập. Trong TV, từ có một âm

17


tiết – còn được gọi là tiếng – còn được gọi là từ đơn, từ có từ hai âm tiết trở
lên thì được gọi là từ phức.
Về vấn đề nghĩa của từ: "Nghĩa của từ là nội dung (sự vật, tính chất,
hoạt động, quan hệ...) mà từ biểu thị.” [10]. Có thể giải thích nghĩa của từ
bằng hai cách chính sau:Trình bày khái niệm mà từ biểu thị. Đưa ra những từ
đồng nghĩa hoặc trái nghĩa với từ cần giải thích.
Thành ngữ là loại cụm từ có cấu tạo cố định, biểu thị một ý nghĩa hoàn
chỉnh.
Nghĩa của thành ngữ có thể bắt nguồn trực tiếp từ nghĩa đen của các từ
tạo nên nó nhưng thường thông qua một số phép chuyển nghĩa như ẩn dụ,
so sánh,... [10 ].
Từ có thể có một nghĩa hay nhiều nghĩa. Chuyển nghĩa là hiện tượng

thay đổi nghĩa của từ, tạo ra những từ nhiều nghĩa. Trong từ nhiều nghĩa có
nghĩa gốc là nghĩa xuất hiện từ đầu, làm cơ sở để hình thành các nghĩa khác.
Nghĩa chuyển là nghĩa được hình thành trên cơ sở của nghĩa gốc. Thông
thường, trong câu, từ chỉ có một nghĩa nhất định. Tuy nhiên trong một số
trường hợp, từ có thể hiểu đồng thời theo cả nghĩa gốc lẫn nghĩa chuyển.
“Từ đồng âm là những từ giống nhau về âm thanh nhưng nghĩa khác xa
nhau, không liên quan gì với nhau”. [10].
“Từ đồng nghĩa là những từ có nghĩa giống nhau hoặc gần giống nhau.
Một từ nhiều nghĩa có thể thuộc vào nhiều nhóm từ đồng nghĩa khác nhau.”
[10].
Từ trái nghĩa là những từ có nghĩa trái ngược nhau. Một từ nhiều nghĩa có
thể thuộc nhiều cặp từ trái nghĩa khác nhau. [10].
Nghĩa của một từ ngữ có thể rộng hơn (khái quát hơn) hoặc hẹp hơn (ít
khái quát hơn) nghĩa của từ ngữ khác.

18


Một từ ngữ được coi là có nghĩa hẹp khi phạm vi nghĩa của từ ngữ đó
bao hàm phạm vi nghĩa của một từ ngữ khác.
Một từ ngữ được coi là có nghĩa hẹp khi phạm vi nghĩa của từ ngữ đó
được bao hàm trong phạm vi nghĩa của một từ ngữ khác.
Một từ ngữ có nghĩa rộng đối với những từ ngữ này, đồng thời có thể có
nghĩa hẹp đối với một từ ngữ khác. [10].
Cùng với sự phát triển của xã hội, từ vựng của ngôn ngữ cũng không
ngừng phát triển. Một trong những cách phát triển từ vựng tiếng Việt là phát
triển nghĩa của từ ngữ trên cơ sở nghĩa gốc của chúng. Có hai phương thức chủ
yếu phát triển nghĩa của từ ngữ: phương thức ẩn dụ và phương thức hoán dụ.
[12].
Ngoài từ thuần Việt là những từ do nhân dân ta tự sáng tạo ra, chúng ta

còn vay mượn nhiều từ của tiếng nước ngoài để biểu thị những sự vật, hiện
tượng đặc điểm,... mà tiếng Việt chưa có từ thật thích hợp để biểu thị. Đó là các
từ mượn. Bộ phận từ mượn quan trọng nhất trong tiếng Việt là từ mượn tiếng
Hán (gồm từ gốc Hán và từ Hán Việt). Bên cạnh đó tiếng Việt còn mượn từ của
một số ngôn ngữ khác như tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Nga ...Các từ mượn đã
được Việt hóa thì viết như từ thuần Việt. Đối với những từ mượn chưa được
Việt hóa hoàn toàn, nhất là những từ gồm trên 2 tiếng, ta nên dùng dấu gạch
nối để nối các tiếng với nhau [11].
Từ Hán Việt:
Trong tiếng Việt có một khối lượng khá lớn từ Hán Việt, tiếng để cấu tạo
từ Hán Việt gọi là yếu tố Hán Việt. Phần lớn các yếu tố Hán Việt không được
dùng độc lập như từ mà chỉ dùng để tạo từ ghép. Một số yếu tố Hán Việt như
hoa, quả, bút... có lúc dùng để tạo từ ghép, có lúc được dùng độc lập như một
từ. Có nhiều yếu tố Hán Việt đồng âm nhưng nghĩa khác xa nhau.
Thuật ngữ là những từ ngữ biểu thị khái niệm khoa học, công nghệ,

19


thường được dùng trong các văn bản khoa học công nghệ. Về nguyên tắc,
trong một lĩnh vực khoa học, công nghệ nhất định, mỗi thuật ngữ chỉ biểu thị
một khái niệm và ngược lại, mỗi khái niệm chỉ được biểu thị bằng một thuật
ngữ. Thuật ngữ không có tính biểu cảm. [12].
Biệt ngữ xã hội: Khác với từ ngữ toàn dân, biệt ngữ xã hội chỉ được
dùng trong một tầng lớp xã hội nhất định [11].
- Muốn sử dụng tốt tiếng Việt, trước hết cần trau dồi vốn từ. Rèn luyện
để nắm được đầy đủ và chính xác nghĩa của từ và cách dùng từ là việc rất
quan trọng để trau dồi vốn từ [12].
Từ tượng thanh và từ tượng hình:
Từ tượng hình là từ gợi tả hình ảnh, dáng vẻ, trạng thái của sự vật. Từ

tượng thanh là từ mô phỏng âm thanh của tự nhiên, của con người.
Từ tượng hình, từ tượng thanh gợi được hình ảnh, âm thanh cụ thể, sinh
động có giá trị biểu cảm cao, thường được dùng trong văn miêu tả, tự sự. [10].
Những tri thức về cấu tạo từ tiếng Việt và mối quan hệ của chúng với
quan hệ của từ những hiểu biết về ngữ nghĩa, từ tiếng Việt là cơ sở khoa học
chính yếu tạo nên nội dung dạy học tiếng Việt trong chương trình.
1.1.1.3. Cơ sở Ngữ pháp học của c m bài ôn tập tiếng Việt 9
Trong cụm bài ôn tập tiếng Việt, phần Ngữ pháp học giúp học sinh củng
cố kiến thức về từ loại, cụm từ, các kiểu câu, thành phần chính của câu nhằm
hình thành tư duy và phát triển ngôn ngữ cho người học.
Từ loại là những tập hợp từ được phân loại dựa trên đặc điểm ý nghĩa
khái quát và khả năng kết hợp trong cụm từ và câu. Có 3 nhóm từ loại chính:
Những từ có ý nghĩa từ vựng chân thực và có thể làm thành phần câu gọi
là thực từ. Những từ không có ý nghĩa từ vựng chân thực, không thể làm
thành phần câu mà chỉ có ý nghĩa ngữ pháp gọi là hư từ.

20


Những từ không có ý nghĩa từ vựng chân thực, không làm thành phần
của câu nhưng là những dấu hiệu về tình cảm, thái độ và đứng lẻ ở trong câu
gọi là tình thái từ. [Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt – Nguyễn Kim Thản]
Cụm từ là một nhóm từ kết hợp với nhau tạo thành nghĩa nhưng không
đầy đủ.
Câu và thành phần câu (Thành phần chính và thành phần phụ):
Sách Ngữ văn 6 tập 2, NXBGD 2006 định nghĩa: “Câu trần thuật đơn là
loại loại câu do một cụm C - V tạo thành, dùng để giới thiệu, tả hoặc kể về
một sự việc, sự vật hay để nêu một ý kiến [10].
- “Câu không phải là đơn vị có sẵn. Nó được tạo ra trong quá trình tư
duy và hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ dựa vào các đơn vị có sẵn và các

quy tắc thực hiện được một ý kết hợp những đơn vị ấy. Câu thể hiện được
một ý tương đối trọn vẹn thái độ, tình cảm của người nói hay người viết. Câu
là đơn vị chức năng khác với các đơn vị thấp hơn nó: câu giúp cho việc hình
thành, biểu hiện và truyền đạt tư tưởng tình cảm từ người này sang người
khác. Chức năng này là chức năng thông báo. So với các đơn vị cao hơn cũng
thực hiện chức năng này thì câu là đơn vị nhỏ nhất. Câu có một cấu tạo ngữ
pháp nhất định và một ngữ điệu kết thúc... Ngữ điệu kết thúc báo cho người
nghe biết câu trọn vẹn, trên chữ viết nó được thể hiện bằng một dấu chấm
câu”. [10].
Câu có hai bộ phận: bộ phận chính và bộ phận phụ, bộ phận chính còn
gọi là nòng cốt câu, đó là chủ ngữ và vị ngữ. Nội dung cơ bản mà câu thể hiện
(thông báo) nằm trong nòng cốt câu. Trong câu, ngoài nòng cốt câu, còn có
các thành phần làm rõ nghĩa cho nòng cốt câu, đó là: trạng ngữ, thành phần
phụ chú, hô ngữ thành phần cảm thán và thành phần tình thái.
Trong TV, có hai cách phân loại câu, phân loại câu theo cấu tạo ngữ
pháp và phân loại câu theo mục đích giao tiếp (mục đích nói).

21


×