Tải bản đầy đủ (.pdf) (128 trang)

Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong chăm sóc người cao tuổi (nghiên cứu tại địa bàn xã Long Xuyên, huyện Phúc Thọ, TP. Hà Nội): Luận văn ThS. Khác: 6090

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.96 MB, 128 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------------------

NGUYỄN HOÀNG LONG

VAI TRÕ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI
TRONG CHĂM SÓC NGƢỜI CAO TUỔI
(Nghiên cứu tại xã Long Xuyên, huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Hà Nội - 2018


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------------------

NGUYỄN HOÀNG LONG

VAI TRÕ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI
TRONG CHĂM SÓC NGƢỜI CAO TUỔI
(Nghiên cứu tại xã Long Xuyên, huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Mã số: 60.90.01.01

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN THẾ HUỆ

Hà Nội - 2018




LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự
hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Thế Huệ. Các số liệu trong nghiên cứu
hoàn toàn trung thực. Tôi xin chịu trách nhiệm trước những kết quả đã nghiên
cứu - điều tra trong luận văn này.
Tác giả luận văn

Nguyễn Hoàng Long


LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu này, để tôi đạt được mục tiêu và
các kết quả trong đề tài nghiên cứu của mình; tôi đã nhận được sự chia sẻ, hỗ
trợ, giúp đỡ và hướng dẫn tận tình của TS. Nguyễn Thế Huệ (Viện
trưởng, Viện Nghiên cứu Người cao tuổi Việt Nam); PGS.TS. Trịnh Văn
Tùng (Trưởng khoa Xã hội học, Trường Đại học KHXH&NV) cùng các thầy
cô trong Khoa Xã hội học - Trường Đại học KHXH&NV. Bên cạnh đó, là
nhờ có sự cộng tác giúp đỡ của tập thể cán bộ chính quyền và người cao tuổi
hiện đang sinh sống tại địa bàn xã Long Xuyên, huyện Phúc Thọ, Thành phố
Hà Nội.
Nhân dịp này tôi chân thành gửi lời cảm ơn tới TS. Nguyễn Thế Huệ,
PGS.TS.Trịnh Văn Tùng, các thầy cô trong Khoa Xã hội học - Trường Đại
học KHXH&NV; cùng tập thể cán bộ chính quyền và người cao tuổi hiện
đang sinh sống tại xã Long Xuyên đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ để tôi
hoàn thành công trình nghiên cứu này một cách thuận lợi nhất.
Trong phạm vi của công trình nghiên cứu này, cũng như bản thân tác giả
còn hạn hẹp về kinh nghiệm. Vì vậy, nghiên cứu không tránh khỏi những
thiếu sót, tôi mong nhận được sự chia sẻ, góp ý của quý thầy cô cùng toàn thể

bạn đọc. Chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn

Nguyễn Hoàng Long


MỤC LỤC
Tiêu đề

Trang

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ................................................................ 8
DANH MỤC CÁC BẢNG .............................................................................. 2
DANH MỤC CÁC BIỂU ................................................................................ 3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài ......................................................................................... 4
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu .................................................................... 5
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn.................................................................. 22
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................... 23
5. Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu ......................................... 24
6. Câu hỏi nghiên cứu ................................................................................... 24
7. Giả thuyết nghiên cứu ............................................................................... 24
8. Phƣơng pháp nghiên cứu.......................................................................... 25
NỘI DUNG CHÍNH
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Khái niệm công cụ .................................................................................. 29
1.2. Lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu .................................................. 32
1.3. Chủ trƣơng, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc về chăm sóc – trợ giúp
ngƣời cao tuổi ................................................................................................ 40
1.4. Đặc điểm tâm sinh lý và nhu cầu của ngƣời cao tuổi nói chung ....... 44

1.5. Vài nét về địa bàn nghiên cứu ............................................................... 46
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC
NGƢỜI CAO TUỔI TẠI ĐỊA BÀN XÃ LONG XUYÊN
2.1. Khái quát chung về tình hình ngƣời cao tuổi địa bàn xã Long Xuyên ...... 50
2.1.1. Người cao tuổi tại địa bàn khảo sát ................................................ 50
2.1.2. Thông tin chung về nhóm người cao tuổi tham gia khảo sát ........ 51
2.2. Hoạt động chăm sóc sức khỏe cho NCT tại địa bàn xã Long Xuyên 56


2.3. Hoạt động chăm sóc đời sống vật cho NCT địa bàn xã Long Xuyên 65
2.4. Hoạt động chăm sóc đời sống tinh thần cho ngƣời cao tuổi tại địa bàn
xã Long Xuyên ............................................................................................... 70
Chƣơng 3: ĐỀ XUẤT VAI TRÕ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI
TRONG HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC NGƢỜI CAO TUỔI
3.1. Vai trò bán chuyên nghiệp hiện tại của nhân viên xã hội địa bàn xã
Long Xuyên .................................................................................................... 78
3.1.1. Nhận thức về vai trò của nhân viên xã hội của NCT tại địa bàn .. 79
3.1.2. Vai trò của nhân viên xã hội trong hoạt động chăm sóc sức khoẻ
cho người cao tuổi tại địa bàn ................................................................... 84
3.1.3. Vai trò của nhân viên xã hội trong hoạt động chăm sóc đời sống
vật chất cho người cao tuổi tại địa bàn ..................................................... 84
3.1.4. Vai trò của nhân viên xã hội trong hoạt động chăm sóc đời sống
tinh thần cho người cao tuổi tại địa bàn................................................... 87
3.1.5. Đánh giá của NCT về vai trò của nhân viên xã hội ....................... 90
3.2. Đề xuất vai trò chuyên nghiệp của nhân viên công tác xã hội trong
hoạt động chăm sóc ngƣời cao tuổi tại địa bàn .......................................... 92
KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ ..................................................................... 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 101
PHỤ LỤC ..................................................................................................... 103



DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Địa bàn & Nhóm NCT tham gia khảo sát ..................................... 51
Bảng 2.2: Nhóm tuổi của NCT tham gia khảo sát ......................................... 52
Bảng 2.3: Giới tính của NCT tham gia khảo sát ............................................ 52
Bảng 2.4: Tình trạng hôn nhân của NCT tham gia khảo sát .......................... 53
Bảng 2.5: Trình độ học vấn của NCT tham gia khảo sát ............................... 53
Bảng 2.6: Mức sống của NCT tham gia khảo sát .......................................... 54
Bảng 2.7: Nguồn thu nhập hàng tháng của NCT tham gia khảo sát .............. 54
Bảng 2.8: Mức thu nhập hàng tháng của NCT tham gia khảo sát ................. 55


DANH MỤC CÁC BIỂU
Biểu 2.1. Kết quả khảo sát về sự tham gia hoạt động CSSK của NCT ......... 56
Biểu 2.2. Kết quả khảo sát về hình thức tham gia hoạt động CSSK ............. 58
Biểu 2.3: Kết quả khảo sát về thời gian tham gia hoạt động CSSK .............. 59
Biểu 2.4: Kết quả khảo sát về những hỗ trợ mà NCT nhận được khi tham gia
hoạt động CSSK tại địa phương ..................................................................... 60
Biểu 2.5: Kết quả khảo sát về số lần tham gia hoạt động CSSK của NCT trong
khoảng 1 tháng qua. ....................................................................................... 61
Biểu 2.6: Kết quả khảo sát về lợi ích của hoạt động CSSK mang lại đối với
NCT. ............................................................................................................... 62
Biểu 2.7: Kết quả khảo sát về những thay đổi của NCT sau khi tham gia hoạt
động CSSK ..................................................................................................... 63
Biểu 2.8: Kết quả khảo sát về những đánh giá của NCT về mức độ tham gia
hoạt động CSSK khỏe .................................................................................... 64
Biểu 2.9: Kết quả khảo sát về những đối tượng quan tâm, hỗ trợ vật chất cho
NCT ................................................................................................................ 66
Biểu 2.10: Kết quả khảo sát về hình thức hỗ trợ vật chất mà NCT nhận được. .... 67
Biểu 2.11: Kết quả khảo sát về những hỗ trợ về vật chất mà NCT nhận được. .... 68

Biểu 2.12: Kết quả đánh giá của NCT đối với những hỗ trợ vật chất mà bản
thân nhận được. .............................................................................................. 69
Biểu 2.13: Kết quả khảo sát về những đối tượng quan tâm, hỗ trợ & chăm sóc
về tinh thần cho NCT tại xã Long Xuyên. ..................................................... 71
Biểu 2.14: Kết quả khảo sát về hình thức chăm sóc đời sống tinh thần mà
NCT nhận được. ............................................................................................. 72
Biểu 2.15: Kết quả khảo sát về sự quan tâm, trợ giúp và động viên về tinh
thần mà NCT nhận được. ............................................................................... 73
Biểu 2.16: Kết quả khảo sát về đánh giá của NCT đối với những hỗ trợ về mặt
tinh thần mà bản thân nhận được. .................................................................. 75


Biểu 2.17: Cán bộ xã hội tại địa phương tham gia trợ giúp NCT .................. 79
Biểu 2.18: Trợ giúp NCT nhận được từ nhân viên xã hội trong hoạt động
CSSK ............................................................................................................. 83
Biểu 2.19: Trợ giúp NCT nhận được từ nhân viên xã hội trong hoạt động
chăm sóc đời sống vật chất ........................................................................... 85
Biểu 2.20: Trợ giúp NCT nhận được từ nhân viên xã hội trong hoạt động
chăm sóc đời sống tinh thần ........................................................................... 87
Biểu 2.21: Đánh giá của NCT về mức độ tham gia của nhân viên xã hội trong
hoạt động chăm sóc - trợ giúp NCT ................................................................ 90


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

NCT

: Người cao tuổi

CLB


: Câu lạc bộ

LĐ-TB&XH

: Lao động - Thương binh và Xã hội

CSSK

: Chăm sóc sức khỏe

TDTT

: Thể dục thể thao

CTXH

: Công tác xã hội

NVCTXH

: Nhân viên công tác xã hội


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Theo kết quả điều tra dân số giữa kỳ năm 2014, tổng dân số Việt Nam là
90,5 triệu người. Trong những năm qua, mức sinh của nước ta đã giảm đáng
kể và tuổi thọ trung bình ngày càng tăng do thành công của công tác chăm sóc
sức khỏe nhân dân và sự phát triển trong y học cũng như đời sống người dân

được cải thiện đã làm thay đổi cơ cấu tuổi dân số theo xu hướng trở nên già
hóa. Theo phân loại chuẩn Liên hợp quốc, hiện tượng già hóa có thể được
xem xét qua tỷ trọng của nhóm dân số già (thường là từ 65 tuổi trở lên). Tỷ
trọng dân số từ 65 tuổi trở lên đã chiếm tới 7,1%, dân số từ 60 tuổi trở lên
chiếm 10,2%. Dự báo cho thấy già hóa ở nước ta tiếp tục tăng rất nhanh trong
thời gian tới và sẽ trở thành vấn đề lớn nếu chúng ta không chuẩn bị trước
một hệ thống an sinh xã hội thật tốt dành cho người già.
Người cao tuổi có nhiều nhu cầu cơ bản về ãn mặc, ở, đi lại, sức khỏe,
học tập, vãn hóa, thông tin giao tiếp, các món ãn tinh thần cần thiết nhất cho
độ tuổi này, do vậy cần đảm bảo đúng các tiêu chuẩn cho phép tối thiểu.
Tỷ lệ dân số người cao tuổi sống ở thành thị và nông thôn có sự chênh
lệch lớn, số lượng người cao tuổi sống ở nông thôn đông hơn ở thành thị. Do
điều kiện phát triển kinh tế nên đời sống người cao tuổi ở nông thôn khó khăn
hơn ở thành thị, thiếu các dịch vụ và cơ sở chăm sóc xã hội do vậy việc chăm
sóc và phát huy vai trò người cao tuổi ở nông thôn còn hạn chế.
Theo số liệu thống kê của Tổng cục DS-KHHGĐ, tuổi thọ khỏe mạnh
của NCT Việt Nam là 66, xếp thứ 116/172 nước trên thế giới, trong khi tuổi
thọ trung bình hiện tại là 74 đứng thứ 58/177 nước, đây là một thách thức
không hề nhỏ cho hệ thống chăm sóc, trợ giúp NCT [35].
Xã Long Xuyên, huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội là địa phương
thường xuyên tổ chức các hoạt động chăm sóc, trợ giúp và phát huy vai trò
NCT. Theo thống kê đến cuối năm 2016, xã Long Xuyên có tổng số 1.022

1


NCT, số NCT nghèo có 83 người, NCT cận nghèo có 102 người, NCT cô đơn
có 39 người. Hầu hết NCT tại xã Long Xuyên hiện đều đang tham gia sinh
hoạt các hoạt động cộng đồng do địa phương tổ chức cho NCT như: chăm sóc
sức khỏe, chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần… Các hoạt động này được

địa phương tổ chức thường xuyên và trợ giúp cho đối tượng NCT tham gia
khá hiệu quả. Đội ngũ cán bộ xã Long Xuyên tham gia vào hoạt động chăm
sóc, trợ giúp NCT rất đông đảo, thuộc nhiều tầng lớp, cơ quan đoàn thể khác
nhau như: Hội NCT, Cán bộ chính sách xã hội, Mặt trận tổ quốc, Hội Phụ nữ,
Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân, cán bộ y tế xã, tình
nguyện viên trợ giúp NCT tại cộng đồng… Xã Long Xuyên từ nhiều năm qua
luôn phát huy truyền thống tốt đẹp, gia đình và cộng đồng cùng chung tay
chăm sóc và phát huy vai trò NCT, các phong trào về NCT thường xuyên
được triển khai trong cộng đồng.
Cùng với xu hướng già hóa dân số nhanh và nhiều vấn đề nảy sinh từ
phía NCT, rất cần có những chính sách và hoạt động chăm sóc, trợ giúp cho
đối tượng là NCT hiện đang sinh sống tại cộng đồng, chú trọng tới nhóm
NCT thiệt thòi, dễ bị tổn thương tại cộng đồng nhằm bảo đảm những quyền,
lợi ích hợp pháp cho NCT, đáp ứng nhu cầu về mọi mặt cho NCT. Hoạt động
chăm sóc NCT tại cộng đồng đã đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng của số
đông NCT và nguyện vọng của xã hội, có những tác động tích cực, góp phần
nâng cao đời sống cho NCT ở nhiều địa phương, trong đó có NCT tại địa bàn
nghiên cứu thuộc xã Long Xuyên, huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội.
Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên tác giả lựa chọn đề tài
“Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong chăm sóc người cao tuổi
(Nghiên cứu tại xã Long Xuyên, huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội). Nghiên
cứu sẽ cung cấp những cơ sở, luận cứ khoa học quan trọng về mặt lý luận và
thực tiễn trong hoạt động chăm sóc sức khỏe, chăm sóc đời sống vật chất và
tinh thần cho NCT, đề xuất vai trò chuyên nghiệp của nhân viên CTXH trong

2


hoạt động chăm sóc NCT, trợ giúp NCT để hoạt động này diễn ra chuyên
nghiệp hơn.

2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1. Những nghiên cứu về người cao tuổi và hoạt động chăm sóc
người cao tuổi trên thế giới
Trong bối cảnh già hóa dân số diễn ra mạnh mẽ ở nhiều quốc gia trên thế
giới, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về NCT nhằm đề xuất các mô hình
chăm sóc, trợ giúp NCT phù hợp. Tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương
cũng có nhiều nghiên cứu về vấn đề NCT được triển khai từ những năm 1980
trở lại đây, như: “Chương trình nghiên cứu về sức khỏe và các khía cạnh kinh
tế, xã hội của sự già hóa dân cư” [26], do Tổ chức Y tế thế giới khu vực châu
Á - Thái Bình Dương tiến hành đầu thập niên 80 của thế kỷ XX. ; hay nghiên
cứu về “Sự phát triển chính sách địa phương đối phó với sự già hóa dân cư”
[13] do Hội đồng châu Á - Thái Bình Dương tiến hành từ năm 1992 đến năm
1994 tại 6 nước, trong đó có Việt Nam, nghiên cứu đã chỉ ra được xu hướng
già hóa dân số và đề ra những định hướng về mặt chính sách cho vấn đề già
hóa dân số.
Nghiên cứu “Barriers to Health Care Access Among the Elderly and Who
Prerceives Them” [52] (Những rào cản trong chăm sóc sức khỏe NCT và nhận
thức về chúng” của Anntte L.Fitzpatrick, Neil R. Powe, Lawton S. Cooper,
Diane G. Ives và John A. Robbins (Đại học Washington, Đại học John
Hopkins, Đại học Pittsburgh, Đại học California - Davis và Đại học Wake
Forest). Nghiên cứu này được tiến hành từ năm 1993 - 1994 tại Viện Nghiên
cứu sức khỏe tim mạch bằng phương pháp nghiên cứu định lượng bao gồm
5.888 người đàn ông và phụ nữ từ 65 tuổi trở lên được chọn ngẫu nhiên từ
danh sách đủ điều kiện chăm sóc y tế ở 4 cộng đồng: quận Forsyth, quận
Sacramento, quận Washington và quận Alleghny. Kết quả nghiên cứu cho thấy,
các rào cản chủ yếu như sự thiếu đáp ứng của bác sỹ đối với bệnh nhân, không

3



có bảo hiểm, các rào cản về tâm lý và thể chất khác… Nghiên cứu này không
chỉ khái quát thực trạng chăm sóc sức khỏe đối với NCT, những rào cản tác
động đến việc NCT nhận được sự quan tâm, chăm sóc riêng ở nước Mỹ. Chúng
ta cũng có thể nhận thấy những rào cản này ngay trong xã hội Việt Nam.
Những rào cản này sẽ được đề tài quan tâm, chỉ ra hướng khắc phục.
Theo tác giả M.Nizamuddin trong Report prepared for the Asian
Population Conference - Pacific Fifth [56], Bangkok - Thái Lan (1114/12/2002), báo cáo đã đề cập tới vấn đề già hóa dân số và đề xuất những
giải pháp cho tình hình già hóa dân số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương,
tác giả đã nhấn mạnh đến vấn đề quá độ nhân khẩu học đưa đến già hóa dân
số, một hậu quả không thể tránh khỏi của giảm sinh nhanh và duy trì cải thiện
mức tử vong là già hoá dân số; những tác động về mặt kinh tế - xã hội của già
hóa dân số; các chính sách và chương trình, các mô hình chăm sóc, trợ giúp
NCT đã có và sự tham gia của cộng đồng trong việc ứng phó với vấn đề già
hóa. Báo cáo cũng nhấn mạnh vấn đề hỗ trợ của gia đình và vai trò cùng
chung sống, bởi tại hầu hết các nước trong khu vực châu Á - Thái Bình
Dương gia đình vẫn là nền tảng của cơ cấu xã hội, trong đó việc chăm sóc
NCT là trách nhiệm đặc biệt của gia đình, gia đình giữ vai trò nền tảng này,
nghiên cứu còn nhấn mạnh chức năng cả gia đình tròn chăm sóc NCT. Tuy
nhiên, do ảnh hưởng của toàn cầu hoá, đô thị hoá, di cư và xu hướng ngày
càng tăng của các gia đình hạt nhân, việc thu xếp cùng chung sống với NCT
đang ngày càng trở thành vấn đề khó khăn. Để giải quyết xu hướng đang thay
đổi này trong cấu trúc gia đình, nhiều chính phủ và các tổ chức quốc tế đã xây
dựng nhà ở và các chương trình dựa trên cơ sở cộng đồng cho NCT.
Tại Hội nghị thế giới lần thứ 2 về già hóa [21] được tổ chức tại Madrid,
Tây Ban Nha (do Đại hội đồng Liên Hợp Quốc triệu tập) năm 2002, Hội nghị
tham gia của nhiều quốc gia trên thế giới đã đưa ra tuyên bố chính trị bao gồm
19 điều, trong đó điều 14 đã khẳng định vai trò của NCT trong đời sống, tầm

4



quan trọng của cộng đồng, các cơ quan và tổ chức trong việc chăm sóc, hỗ trợ
NCT; giúp NCT được tiếp cận các quyền bình đẳng trong chăm sóc sức khỏe,
chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần; Hội nghị cũng nhấn mạnh tới sự cần
thiết phải có các chính sách và bổ sung chính sách về chăm sóc, điều trị và trợ
giúp NCT về mọi mặt. Hội nghị đã đưa ra những chiến lược hành động cụ thể,
thiết thực mang tính toàn cầu trong việc can thiệp, trợ giúp và chăm sóc NCT
nói chung, nó sẽ được vận dụng phù hợp vào từng điều kiện cụ thể ở từng
quốc gia khác nhau, phụ thuộc vào tình hình NCT của quốc gia đó.
Theo tác giả John J.Macionis trong tác phẩm Sociology (2004) [55], tại
Chương Lão hóa và người lớn tuổi cho biết kết quả nghiên cứu từ Viện
Nghiên cứu Pháp (INED), thực hiện tại các nước thành viên Châu âu (EU)
bao gồm Bồ Đào Nha, Cộng Hòa Séc, Hà Lan, Đức, Italia,… nghiên cứu đã
chỉ ra tình hình NCT ở phía nam EU thì thích sống với những người thân
trong gia đình. Các nước phía bắc EU thì tình trạng NCT sống tại các trung
tâm dưỡng lão đang có xu hướng ngày càng tăng. Cụ thể nghiên cứu đã chỉ ra
ở Hà Lan, chỉ có 8% số NCT trên 75 tuổi đã ly hôn, góa bụa, hoặc độc thân
sống chung với các thành viên khác trong gia đình, số còn lại sống trong cơ
sở xã hội. Cộng hòa Séc và Bồ Đào Nha có đến 50% NCT sống chung với
người thân. Đức và Hà Lan rất nhiều người sống một mình trong nhà của họ
vì các dịch vụ tạo điều kiện chăm sóc tại nhà tương đối phát triển. Sự khác
biệt trong cách chọn nhà của NCT ở nước EU là do chuẩn mực về văn hóa, lý
do về kinh tế, chính sách xã hội của từng quốc gia là khác nhau; từ kết quả
nghiên cứu của INED cho thấy ngày càng có nhiều người trên 75 tuổi sống
trong các cơ sở xã hội.
Trong nghiên cứu của United Nations World Population Prospects
(2007): The 2006 Revision Highlights [58] Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã
đưa ra những phân tích cảnh báo cho biết, trong giai đoạn từ năm 2000 đến
2050 trên quy mô toàn cầu, số người già sẽ nhiều hơn số trẻ em dưới 14 tuổi.


5


Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, già hoá dân số sẽ trở thành một vấn đề lớn ở các
nước đang phát triển, nơi mà dân số sẽ bị già hoá nhanh chóng trong nửa đầu
của thế kỷ XXI. Nghiên cứu cũng nhấn mạnh, các nước đang phát triển sẽ là
nơi có tỉ lệ NCT tăng cao nhất và nhanh nhất, theo dự báo số NCT ở khu vực
này sẽ tăng gấp 4 lần trong vòng 50 năm tới. Tỷ lệ NCT theo dự báo sẽ tăng
từ 8% lên 19% vào năm 2025, trong khi đó tỷ lệ trẻ em sẽ giảm từ 33% xuống
22%. Hơn một nửa dân số tuổi 80+ sống ở những nước đang phát triển, dự
báo sẽ tăng lên 71% vào năm 2050.
Trong nghiên cứu“Evaluating a community - based participatory
research project for elderly mental health care in rural America” [54] (Đánh
giá một dự án nghiên cứu có sự tham gia của cộng đồng về chăm sóc sức
khỏe tâm thần NCT ở nông thôn Mỹ) của Dean Blevins, Bridget Morton và
Rene McGovern. Nghiên cứu này nhằm khám phá bản chất hợp tác của các
đối tác trong chương trình CSSK tâm thần cho NCT ở nông thôn. Kết quả
nghiên cứu được công bố vào năm 2008. Đây cũng chính là mô hình CSSK
cho NCT mà đề tài quan tâm.
Nghiên cứu “Developing Model of Health Care management for the
Elderly by Community Participation in Isan” [53] (Xây dựng mô hình quản
lý CSSK cho NCT có sự tham gia của cộng đồng tại Isan) của Chanitta
Soommaht, Songkoon Chantachon và Paiboon Boonchai. Nghiên cứu này
được tiến hành từ tháng 2 đến tháng 8 năm 2008 tại 7 tỉnh Đông Bắc Thái Lan
là Mahasarakham, Roiet, Sakon Nakhon, Nakhon Ratchasima, Bruriram,
Surin và Khon kaen bằng phương pháp nghiên cứu định tính. Nghiên cứu đã
phân tích và chỉ ra các vấn đề trong quản lý CSSK người cao tuổi tại các cộng
đồng ở Isan cả về thể chất lẫn tinh thần. Đồng thời các tác giả cũng tiến hành
phân tích sự phát triển của việc CSSK cho NCT là do các tổ chức cộng đồng
Isan đảm nhiệm. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc quản lý các tổ chức cộng

đồng trong việc CSSK người cao tuổi là phương pháp hiệu quả nhất. Tất cả

6


công dân cao tuổi trong cộng đồng đều đồng ý rằng, việc chăm sóc y tế được
cung cấp bởi các tổ chức cộng đồng giúp họ thoải mái và ấm áp hơn, đây cũn
là một trong những phát hiện lớn của nghiên cứu này.
Trong cuốn sách “Aging and health: Asian and Pacific Islander
American Elders” [57] (Người già và sức khỏe: NCT Mỹ đến từ châu Á và
Thái Bình Dương) của các tác giả Melen R. Mcbride, Nancy Morioka.
Douglas và Gwen Veo, tái bản lần thứ 2. Trong cuốn sách này nhóm tác giả
đã nghiên cứu sự đa dạng văn hóa, hệ thống niềm tin, cấu trúc gia đình ảnh
hưởng đến việc CSSK của những NCT đến từ các nước khác nhau thuộc khu
vực châu Á - Thái Bình Dương hiện tại đang sống ở Mỹ. Từ đó, các tác giả
đánh giá nhu cầu, xác định những thuận lơi, rào cản trong việc CSSK, tạo
điều kiện để NCT này thể hiện được mong muốn, nhu cầu của bản thân một
cách tự nhiên nhất.
Các nghiên cứu thời kỳ này phần lớn đi từ việc tìm hiểu thực trạng đời
sống của NCT, những vấn đề họ đang gặp phải trong cuộc sống, những rào
cản trong việc tiếp cận các dịch vụ, các mô hình chăm sóc cũng như việc xây
dựng những Chương trình trợ giúp cho NCT phù hợp với điều kiện của mỗi
quốc gia. Điều này thể hiện được sự quan tâm của hầu hết các quốc gia đối
với NCT.
Nghiên cứu của Quỹ dân số Liên hợp quốc - UNFPA and HelpAge
(2012), Ageing in the Twenty-First Century: A Celebration and A Challenge
[59], đưa ra nhận định, dự báo và phân tích, đó là năm 1950 toàn thế giới có
205 triệu người từ 60 tuổi trở lên. Báo cáo phân tích thực trạng của NCT và rà
soát tiến độ thực hiện các chính sách hành động của chính phủ và các cơ quan
liên quan kể từ khi Hội nghị thế giới lần thứ hai về NCT diễn ra, nhằm thực

hiện Chương trình Hành động Quốc tế Madrid về NCT, đáp ứng những cơ hội
và thách thức của một thế giới đang già hóa. Báo cáo đưa ra nhiều ví dụ minh
họa sinh động về các chương trình đổi mới đã đáp ứng thành công vấn đề già

7


hóa và các mối quan tâm của NCT. Báo cáo cũng đưa ra những khuyến nghị
về định hướng tương lai nhằm đảm bảo mọi người ở mọi lứa tuổi trong xã hội
bao gồm cả NCT và giới trẻ có cơ hội góp phần xây dựng xã hội, cũng như
cùng được hưởng các phúc lợi xã hội đó.
Trong phiên họp toàn thể ngày 18/12/2014, Liên Hợp Quốc đã thông qua
Nghị quyết GA/RES/69/146 về công tác người cao tuổi [22], trong đó Nghị
quyết đã đưa ra 52 điều cần thực hiện. Nghị quyết đã đánh giá cao hiệu quả
của nhóm công tác mở của Liên Hợp Quốc về NCT (OEWG) được thành lập
từ 2010, trong đó có dự thảo Công ước về Quyền của NCT để đệ trình tại
phiên họp lần thứ 70 của Đại hội đồng Liên hợp quốc; nội dung Nghị quyết
cũng kêu gọi các quốc gia thành viên đóng góp ý kiến, đề xuất biện pháp cụ
thể trong việc đề xuất chiến lược chăm sóc, trợ giúp NCT; vấn đề đáng chú ý
là Nghị quyết đã đồng ý tổ chức các phiên họp định kỳ để lấy ý kiến của các
quốc gia thành viên và của các tổ chức phi chính phủ vào ngày 14 đến
16/07/2015 tại trụ sở của Liên hợp quốc tại New York, Hoa Kỳ về hoạt động
chăm sóc, trợ giúp NCT.
Như vậy, có thể thấy chủ đề NCT và mô hình chăm sóc, trợ giúp NCT
nhận được rất nhiều sự quan tâm của các cơ quan, tổ chức, các nhà nghiên
cứu trên thế giới. Quan điểm và cách tiếp cận trong nghiên cứu các vấn đề về
NCT và mô hình chăm sóc, trợ giúp NCT cũng rất phong phú: từ góc độ gia
đình, xã hội; từ góc độ văn hóa, y tế cho đến góc độ dân số, kinh tế, quản lý…
Điều này cho thấy vai trò, vị thế của NCT tại các nước trên thế giới rất được
quan tâm, đề cao.

2.2. Những nghiên cứu về người cao tuổi và hoạt động chăm sóc
người cao tuổi tại Việt Nam
Tại Việt Nam các nghiên cứu về NCT và mô hình chăm sóc, trợ giúp
NCT đã được quan tâm nghiên cứu rất nhiều, từ các giai đoạn trước đó. Tuy
nhiên, các nghiên cứu về NCT và các vấn đề liên quan đến NCT phát triển

8


nhất từ khi thành lập Hội Người cao tuổi (1995); có Pháp lệnh Người cao tuổi
(2000), có Luật Người cao tuổi (2009); Chương trình Hành động Quốc gia về
người cao tuổi (2012-2020) được ban hành và xu thế già hóa dân số bắt đầu từ
cuối năm 2011, thì có rất nhiều nghiên cứu được tiến hành, các đề tài nghiên
cứu xoay quanh các vấn đề: Chăm sóc sức khỏe, chăm sóc đời sống vật chất tinh thần; các mô hình chăm sóc - trợ giúp NCT; An sinh xã hội cho NCT; tạo
việc làm cho NCT; những nghiên cứu mang tính can thiệp về các vấn đề tâm
sinh lý, bệnh tật ở NCT...
Những nghiên cứu về NCT và các vấn đề liên quan đến NCT ở Việt
Nam được tiến hành từ những năm 70 của thế kỷ XX. Từ đó đến nay, NCT và
các vấn đề về NCT là đối tượng được tiến hành nghiên cứu dưới nhiều góc
độ, khía cạnh đời sống vật chất, tinh thần, sức khỏe, tâm sinh lý... Cụ thể,
trong bài viết: “Nghiên cứu phúc lợi xã hội: Nhìn lại một chặng đường” [6],
bài viết đề cập đến nghiên cứu phúc lợi xã hội đối với NCT năm 1991, tổng
kết những nghiên cứu trước đây. Từ kết quả nghiên cứu này, tác giả Bùi Thế
Cường đã đề xuất, khuyến nghị nhằm nâng cao hơn nữa việc chăm sóc NCT
tại Việt Nam.
Bài viết “Mấy vấn đề ruộng đất và an sinh xã hội đối với người già ở
nông thôn hiện nay” [29] của tác giả Dương Chí Thiện (1996), đã tìm hiểu về
tác động chủ yếu của chính sách ruộng đất trong quá trình hình thành hệ
thống an sinh xã hội đối với NCT ở nông thôn. Chính sách này bước đầu đã
đem lại hiệu quả tích cực cho sự nghiệp phát triển nông thôn nói chung và

NCT ở nông thôn nói riêng, giúp NCT cải thiện đời sống vật chất, tinh thần.
Năm 1996 - 1997 có hai cuộc điều tra được thự hiện tại hai khu vực với
930 người từ 60 tuổi trở lên ở Hà Nội và 4 tỉnh lân cận vào năm 1996 (Bùi
Thế Cường, 1996) và ở miền Nam với 840 NCT tại thành phố Hồ Chí Minh
cùng 6 tỉnh thành lân cận năm 1997. Cuộc điều tra thu thập các thông tin về
tuổi, giới tính, nghề nghiệp, cách sắp xếp cuộc sống hộ gia đình... (Trương Sĩ

9


Ánh và cộng sự 1997).
Năm 1997, Vụ Các vấn đề xã hội của Quốc hội, đã tiến hành khảo sát
thực tế ở 9 tỉnh, thành phố: Tuyên Quang, Hà Nội, Thái Bình, Thanh Hóa, Đà
Nẵng, Phú Yên, Kon Tum, Bình Dương và Tiền Giang với 9.900 phiếu điều
tra về NCT. Mục đích của cuộc khảo sát nhằm tìm những căn cứ để xây dựng
một số chính sách đối với NCT Việt Nam.
Nghiên cứu về “Người cao tuổi và những vấn đề đặt ra đối với chính
sách xã hội” [2], 1999 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Kết quả
của đề tài đã đưa ra kiến nghị với Đảng và Nhà nước sớm ban hành chính
sách đồng bộ cho NCT để chăm sóc NCT tốt hơn; “Chăm sóc và phát huy vai
trò NCT trong sự nghiệp đổi mới” [3], 1999 của Bộ Lao động - Thương binh
và Xã hội, đã chỉ ra chăm sóc phải gắn với phát huy, chăm sóc tốt để phát huy
tốt và ngược lại.
Trong nghiên cứu “Cơ sở thực tiễn và lý luận xây dựng chính sách xã
hội với người già ở Việt Nam” [45] của Vụ Các vấn đề xã hội của Quốc hội
(2000). Nghiên cứu đã góp phần giúp Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành
Pháp lệnh Người cao tuổi năm 2000 đặt nền móng cho những những chính
sách lớn về NCT ra đời, nhằm cải thiện đời sống NCT về mọi mặt thông qua
việc thực hiện chính sách trợ giúp xã hội đối với NCT.
Nghiên cứu về “Đời sống người cao tuổi” [44] của Vụ các vấn đề xã

hội, Văn phòng Quốc hội, thực hiện năm 2000, nghiên cứu đã chỉ ra về đời
sống vật chất NCT: Trên 60% số cụ cho là khó khăn, 37% coi là trung bình,
1,0% dư dật. Ngoài ra, nghiên cứu còn cho thấy, đời sống vật chất ở địa bàn
Hà Nội cao hơn ở Thanh Hóa nhưng tỉ lệ NCT cảm thấy không thoải mái lại
cao gấp 5 lần ở Thanh Hóa. Ngược lại, ở Thanh Hóa lại có tỉ lệ NCT cảm thấy
có cuộc sống thoải mái cao gấp hơn 3 lần Hà Nội. Nghiên cứu đã phản ánh
được toàn cảnh về đời sống vật chất, tinh thần và tình trạng sức khỏe của
NCT tại địa bàn nghien cứu.

10


Từ năm 2000 trở đi cũng có nhiều nghiên cứu, bài viết về NCT được
tiến hành, có thể kể đến công trình nghiên cứu: Năm 2001 Tổ chức Hỗ trợ
Quốc tế Người cao tuổi (HAI) đã có cuộc nghiên cứu về “Hoàn cảnh của
người cao tuổi nghèo Việt Nam” [27] tại 5 điểm là khu ổ chuột TP. Hồ Chí
Minh, một làng người H’mong tại tỉnh Lào Cai, một làng người Kh’me ở tỉnh
Sóc Trăng, một làng người Chăm ở tỉnh Ninh Thuận và một làng người Kinh
ở tỉnh Phú Yên. Nghiên cứu trình bày về những thông tin về hoàn cảnh của
NCT nghèo, về những đóng góp chưa được biết đến của họ và những mối
quan tâm cũng như kinh nghiệm về nghèo khổ và bị phân biệt của họ. Nghiên
cứu sử dụng phương pháp có sự tham gia để khuyến khích người dân nông
thôn nghèo, học vấn thấp có thể trao đổi cởi mở bằng ngôn ngữ và nhận thức
của chính họ.
Nghiên cứu: “Thực trạng người cao tuổi tại Hà Tây” [41], của Ủy ban
Dân số, Gia đình và Trẻ em tỉnh Hà Tây, năm 2003. Nghiên cứu này được
triển khai tại 3 xã, phường, đó là: xã Liệp Tuyết, huyện Quốc Oai, đại diện
cho khu vực nông nghiệp; xã Phú Yên, huyện Phú Xuyên, đại diện cho khu
vực làng nghề; phường Nguyễn Trãi, thị xã Hà Đông đại diện cho khu vực
thành thị. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra vai trò của NCT trong các hoạt động

sống hàng ngày, nhu cầu của họ cả vật chất lẫn tinh thần, tình trạng sức
khỏe…. Từ đó, đưa ra những giải pháp, nhằm nâng cao đời sống, nâng cao
chất lượng cuộc sống cho NCT tại địa phương.
Năm 2004, TW Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tiến hành điều tra
“Thực trạng đời sống và tham gia Hội Phụ nữ của phụ nữ cao tuổi Việt
Nam” [15] ở 7 tỉnh thành trên các vùng miền của cả nước với 557 phụ nữ từ
50 tuổi trở lên được phỏng vấn về các thông tin liên quan đến nhu cầu của
phụ nữ cao tuổi và nhận thức của các cấp Hội phụ nữ về các vấn đề liên quan
đến NCT trong cộng đồng.
Nghiên cứu về thực trạng bạo lực gia đình tiến hành tại 3 tỉnh Quảng Trị,

11


Phú Yên và Đắk Lắk của Viện nghiên cứu Người cao tuổi Việt Nam được
xuất bản thành sách “Người cao tuổi và Bạo lực gia đình” [18] do tác giả
Nguyễn Thế Huệ chủ biên, nghiên cứu đã đề xuất những cơ chế pháp lý trong
việc xử phạt hành vi bạo hành đối với NCT, đề xuất những biện pháp trợ giúp
đời sống NCT bị bạo hành.
Trong “Nghiên cứu, điều tra thực trạng thu nhập và mức sống của NCT
Việt Nam” [31] năm 2004 của Trung tâm Nghiên cứu và Hỗ trợ Người cao
tuổi (Trung ương Hội NCT Việt Nam). Nghiên cứu đã chỉ ra đời sống của
NCT còn gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là đời sống của hơn 70% NCT đang
sống ở nông thôn không hưởng chính sách xã hội hoặc có lương hưu. Nghiên
cứu cũng đề xuất những giải pháp về mặt chính sách và hành động trong việc
giúp NCT cải thiện thu nhập và mức sống. Cũng trong “Điều tra thực trạng
thu nhập và mức sống của NCT Việt Nam” [33] được Trung tâm Nghiên cứu
và Hỗ trợ Người cao tuổi (Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam) triển
khai thực hiện năm 2005, điều tra tại 5 tỉnh, bao gồm: Sơn La, Thanh Hóa,
Kon Tum, Quảng Nam, TP. HCM với tổng số 1.000 phiếu điều tra, dự án đã

đi sâu phân tích và làm rõ thực trạng thu nhập và mức sống của NCT ở nước
ta hiện nay, từ nghiên cứu này đánh giá được tình trạng sống, chất lượng sống
của NCT và ảnh hưởng của nó tới hoạt động chăm sóc sức khỏe và các hoạt
động hằng ngày của NCT. Từ đó, đề xuất những kiến nghị quan trọng trong
việc chăm sóc và trợ giúp NCT.
Nghiên cứu, điều tra: “Thực trạng người cao tuổi tại Hải Dương,
Quảng Bình và Đăk Lăk” [32] năm 2005 của Trung tâm Nghiên cứu và Hỗ
trợ Người cao tuổi (Trung ương Hội NCT Việt Nam), được nghiên cứu, điều
tra tại 12 xã, phường của 3 tỉnh về chăm sóc sức khỏe, về đời sống vật chất và
tinh thần cho NCT tại địa phương. Kết quả cho thấy, chưa có nhiều hoạt động
chăm sóc NCT, đặc biệt là 70% NCT sống ở nông thôn hiện vẫn chưa nhận
được sự quan tâm chăm sóc sức khỏe, đời sống vật chất cũng như tinh thần

12


của cơ sở.
Điều tra năm 2007 của Ủy ban Quốc gia về Người cao tuổi Việt Nam
[42], khảo sát đời sống NCT tại 72 xã thuộc 8 tỉnh, thành phố với 2.878 NCT,
trong điều tra này các thông tin thu thập về tình hình sức khỏe, đời sống vật
chất, đời sống tinh thần, hoạt động việc làm, phát huy vai trò NCT tại địa
phương được thu thập và phân tích khá cụ thể; số liệu điều tra cũng phản ánh
khá sâu sắc về đời sống mọi mặt của NCT Việt Nam.
Theo tác giả Bùi Thế Cường trong cuốn sách “Trong miền an sinh xã hội những nghiên cứu về người cao tuổi Việt Nam” [5] xuất bản năm 2005, nghiên
cứu NCT trong nghiên cứu xã hội ở Việt Nam bắt đầu từ những năm 1970, đã
chỉ rõ rằng các nhà y khoa là những người đầu tiên khai phá lĩnh vực nghiên cứu
y học về NCT. Năm 1970, thành lập Chương trình nghiên cứu y học tuổi già và
mười năm sau trở thành đơn vị nghiên cứu y học tuổi già của Bộ Y tế.
Trong “Nghiên cứu một số đặc trưng của người cao tuổi và đánh giá mô
hình chăm sóc sức khỏe người cao tuổi đang áp dụng” [34] của Trung tâm

Nghiên cứu, Thông tin và Dữ liệu (Tổng cục DS-KHHGĐ) thực hiện năm
2005. Nghiên cứu đã chỉ ra được thực trạng chăm sóc sức khỏe của NCT tại
các nước đang phát triển, CSSK NCT tại khu vực Đông Nam Á. Đặc biệt,
nghiên cứu đã đưa ra những đánh giá liên quan đến chăm sóc sức khỏe NCT
trong nước và một số địa bàn điều tra như: Yên Bái, Hải Dương, Thái Bình,
Quảng Bình, Đắc Lăk, TP. HCM, Sóc Trăng… qua các cuộc điều tra trước
đó. Đồng thời, đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả
công tác chăm sóc sức khỏe NCT. Nghiên cứu đã chỉ ra sự thiếu quan tâm của
các cấp, các ngành trong việc chăm sóc NCT, cũng như tạo điều kiện cho các
tổ chức cá nhân xây dựng các trung tâm chăm sóc NCT, thu hút NCT vào
trung tâm, giảm gánh nặng cho Nhà nước.
Nghiên cứu về “Thực trạng và các giải pháp nâng cao chất lượng cuộc
sống của phụ nữ cao tuổi” [15], do Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam thực hiện

13


năm 2005. Kết quả nghiên cứu đã phản ánh khái quát về thực trạng sống của
phụ nữ cao tuổi; nghiên cứu cũng chỉ ra chất lượng sống của phụ nữ cao tuổi
còn chưa được nâng cao, phần lớn phụ nữ cao tuổi chịu nhiều khó khăn và
thiệt thòi hơn nam giới cao tuổi. Từ đó, nghiên cứu đã đề xuất những kiến
nghị về mặt chính sách đối với Đảng, Nhà nước cần quan tâm hơn đến đời
sống của phụ nữ cao tuổi, đặc biệt là phụ nữ cao tuổi đơn thân, phụ nữ cao
tuổi những vùng khó khăn.
Trong “Nghiên cứu đánh giá tình hình chăm sóc sức khỏe người cao
tuổi ở Việt Nam” [46] do Viện Chiến lược và Chính sách Y tế thực hiện năm
2006, tại 7 tỉnh thuộc 7 vùng lãnh thổ trong cả nước, với tổng số 1.132 NCT
tham gia điều tra. Nghiên cứu đã chỉ ra được tình hình sức khỏe của NCT, các
mô hình chăm sóc NCT đang áp dụng, tình hình sử dụng dịch vụ y tế và hoạt
động chăm sóc sức khỏe ở NCT; đánh giá về thực trạng công tác chăm sóc

sức khỏe cho NCT cũng như tìm hiểu việc triển khai thực hiện chính sách
chăm sóc NCT tại một số tỉnh; đưa ra những đánh giá về tình hình sức khỏe,
chăm sóc sức khỏe và tình hình sử dụng dịch vụ y tế phục vụ nhu cầu khám
chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe ở NCT. Đặc biệt, nghiên cứu đề cập đến việc
triển khai các chính sách liên quan đến chăm sóc NCT tại một số tỉnh nghiên
cứu, đưa ra những khuyến nghị và giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động chăm
sóc sức khỏe cho NCT.
Trong bài viết “Xu hướng già hóa dân số thế giới và đặc trưng người
cao tuổi Việt nam” [7] đăng trên Tạp chí Gia đình và Trẻ em, số 11 năm
2006, tác giả Nguyễn Đình Cử (Viện Dân số và các vấn đề xã hội), có phân
tích khá rõ về tình hình già hóa dân số thế giới và đưa ra những nhận định
rằng nước ta đang bước vào ngưỡng già hóa dân số và số lượng NCT tăng
không ngừng; hiện tượng nữ hóa trong nhóm dân số cao tuổi đang có xu
hướng tăng, tác giả còn cho biết phần lớn NCT ở nước ta chủ yếu sống ở
khu vực nông thôn, là nông dân và làm nông nghiệp, cứ 4 NCT thì có 1

14


người đang hoạt động kinh tế, ở nước ta NCT chủ yếu sống với con và nhờ
con; bởi vậy, nhu cầu trọng tâm nhất hiện nay của NCT là chăm sóc sức
khỏe, chăm sóc vật chất, tinh thần.
Nghiên cứu “Một số vấn đề cơ bản trong chính sách xã hội đối với người
cao tuổi” [47] do Viện Khoa học Xã hội Việt Nam thực hiện trong 2 năm
(2008-2009). Nghiên cứu đã chỉ ra sự thiếu đồng bộ, sự bất cập trong việc ban
hành chính sách đối với NCT và chỉ ra tác động của những hạn chế đó đối với
đời sống của NCT. Từ đó, đề xuất những phương hướng, chiến lược trong hỗ
trợ nhằm cải thiện đời sống cho NCT nước ta.
Trong nghiên cứu về “Thực trạng đời sống của NCT từ 80 trở lên” [48],
thực hiện trong năm 2008 - 2009 của Viện nghiên cứu NCT Việt Nam, đã chỉ

ra đời sống của NCT từ 80 tuổi trở lên còn quá khó khăn, cần có chính sách
riêng cho họ. Nghiên cứu đã đề xuất hạ độ tuổi hưởng lương hưu xã hội cho
NCT từ 85 xuống 80 tuổi. Trong cuốn sách “Thực trạng đời sống của người
cao tuổi dân tộc và già làng trong phát triển bền vững ở Tây Nguyên” [17] tác
giả Nguyễn Thế Huệ (Viện Nghiên cứu Người cao tuổi Việt Nam), nghiên cứu
nhằm tìm hiểu thực trạng đời sống vật chất, tinh thần và vai trò của NCT và già
làng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vùng Tây Nguyên. Kết quả
nghiên cứu cho thấy, vai trò to lớn của NCT và già làng trong các hoạt động tại
cộng đồng; khẳng định vị trí, vai trò của NCT và già làng ở Tây Nguyên.
Tại nghiên cứu“Thực trạng sức khỏe và bệnh tật của NCT Việt Nam”
[49] thực hiện trong năm 2008- 2009 của Viện Nghiên cứu NCT Việt Nam,
đã chỉ ra NCT có rất nhiều bệnh tật, trung bình một NCT có khoảng 3 loại
bệnh mạn tính, điều đó có tác động không nhỏ tới điều kiện sức khỏe và chăm
sóc sức khỏe ở NCT, nghiên cứu đã góp phần thiết kế điều 11 và 12 Luật
NCT. Cũng trong nghiên cứu “Thực trạng NCT tham gia xóa đói, giảm
nghèo” [50] thực hiện trong năm 2010 - 2011 của Viện nghiên cứu NCT Việt
Nam, nghiên cứu này đã chỉ ra được khả năng xóa đói, giảm nghèo của NCT,

15


×