Tải bản đầy đủ (.docx) (28 trang)

MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH VÀ HIỆU QUẢ KINH DOANH NHẬP KHẨU TRONG DOANH NGHIỆP

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (182.93 KB, 28 trang )

MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH
VÀ HIỆU QUẢ KINH DOANH NHẬP KHẨU TRONG DOANH
NGHIỆP
I. HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU
1. Khái niệm nhập khẩu
Nhập khẩu là một trong những lĩnh vực hoạt động quan trọng của kinh
doanh thương mại quốc tế, là mặt không thể thiếu được trong hoạt động ngoại
thương. Có thể hiểu rằng nhập khẩu là hoạt động mua hàng hoá và dịch vụ từ
nước ngoài phục vụ cho nhu cầu trong nước hoặc tái sản xuất nhằm mục đích
thu lợi. Thực chất nhập khẩu là việc mua hàng hoá từ các tổ chức kinh tế, các
công ty nước ngoài về trong nước và tiến hành tiêu thụ hàng hoá nhập khẩu tại
thị trường nội địa hoặc tái xuất khẩu với mục đích thu lợi nhuận và kết nối sản
xuất với tiêu dùng.
2. Vai trò của hoạt động nhập khẩu đối với nền kinh tế quốc dân
Nhập khẩu là một hoạt động quan trọng của ngoại thương. Nhập khẩu tác
động một cách trực tiếp và quyết định đến sản xuất và đời sống trong nước.
Nhập khẩu để bổ sung các hàng hoá mà trong nước không sản xuất được hoặc
sản xuất không đáp ứng đủ nhu cầu. Nhập khẩu còn để thay thế, nghĩa là nhập
khẩu về những hàng hoá mà sản xuất trong nước sẽ không có lợi bằng nhập
khẩu. Hai mặt nhập khẩu bổ sung và nhập khẩu thay thế nếu được thực hiện tốt
sẽ tác động tích cực đến sự phát triển cân đối nền kinh tế quốc dân, trong đó cân
đối trực tiếp 3 yếu tố của sản xuất: công cụ lao động, đối tượng lao động, và lao
động. Với các tác động đó, ngoại thương được coi là như một phương pháp sản
xuất trực tiếp.
Trong điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay, vai trò quan trọng của nhập
khẩu được thể hiện ở các khía cạnh sau đây:
Tạo điều kiện thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp hoá đất nước.
Bổ sung kịp thời những mặt mất cân đối của nền kinh tế, đảm bảo phát
triển kinh tế cân đối và ổn định
Góp phần cải thiện và nâng cao mức sống của nhân dân. Ở đây nhập khẩu


vừa thoả mãn nhu cầu trực tiếp của nhân dân về hàng tiêu dùng, Vừa đảm bảo
đầu vào cho sản xuất tạo việc làm ổn định cho người lao động
Nhập khẩu có vai trò tích cực đến thúc đẩy xuất khẩu. Sự tác động này thể
hiện ở chỗ nhập khẩu tạo đầu vào cho sản xuất hàng nhập khẩu, tạo môi trường
thuận lợi cho việc xuất khẩu hàng Việt nam ra nước ngoài đặc biệt là nước nhập
khẩu
II. HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
1. Khái niệm và bản chất hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
1.1. Khái niệm hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Kinh doanh trong cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, mọi
doanh nghiệp (doanh nghiệp tư nhân, các công ty trách nhiệm hữu hạn, các
doanh nghiệp nhà nước…) đều có mục tiêu bao chum lâu dài là tối đa hoá lợi
nhuận, kinh doanh có hiệu quả. Hiệu quả kinh doanh là yếu tố cơ bản quyết
định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Để đạt được hiệu quả trước hết
mọi doanh nghiệp phải xác định cho mình một chiến lược kinh doanh và phát
triển doanh nghiệp thích ứng với những biến động của thị trường, phải tiến hành
có hiệu quả cá hoạt động quản trị nhằm đảm bảo sử dụng có hiệu quả các nguồn
lực đầu vào và trong quá trình đó phải luôn kiểm tra xem liệu phương án kinh
doanh đang tiến hành là có hiệu quả hay không. Vấn đề đặt ra: thế nào là hiệu
quả kinh doanh? bản chất của hiệu quả kinh doanh là gì.
Trong qua khứ cũng như hiện tại, còn có nhiều quan niệm khác nhau về
thuật ngữ hiệu quả kinh doanh. Tuy nhiên, người ta có thể chia các quan niệm
này thành các nhóm cơ bản sau đây:
Quan điểm 1: Hiệu quả kinh doanh là kết quả thu được trong hoạt động
kinh doanh, là doanh thu tiêu thụ hàng hoá
Theo quan điểm này, hiệu quả kinh doanh đồng nhất với kết quả kinh
doanh và với các chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh. Quan điểm
này không đề cập đến chi phí kinh doanh, nghĩa là nếu hoạt động kinh doanh
tạo ra cùng một kết quả thì có cùng một mức hiệu quả, mặc dù hoạt động kinh
doanh đó có hai mức chi phí khác nhau.

Quan điểm 2: Hiệu quả kinh doanh là quan hệ tỷ lệ giữa phần tăng thêm
của kết quả và phần tăng thêm của chi phí. Quan điểm này đã nói lên quan hệ so
sánh một cách tương đối giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết
quả đó, nhưng lại chỉ xét tới phần kết quả và chi phí bổ sung.
Quan điểm 3: Hiệu quả kinh doanh là một đại lượng so sánh giữa kết quả
thu được và chi phí bỏ ra để có được kết quả đó. Quan điểm này đã phản ánh
được mối liên hợp bản chất của hiệu quả kinh doanh, vì nó gắn được kết quả với
các chi phí bỏ ra, coi hiệu quả là sự phản ánh trình độ sử dụng các chi phí (các
nguồn lực). Tuy nhiên, kết quả và chi phí đều luôn luôn vận động nên quan
điểm này chưa biểu hiện được tương quan về lượng và về chất giữa kết quả và
chi phí.
Quan điểm 4: Hiệu quả kinh doanh phải thể hiện được mối quan hệ giữa sự
vận động của kết quả với sự vận động của chi phí tạo ra kết quả đó đồng thời phản
ánh được trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất. Quan điểm này đã chú ý đến sự
so sánh tốc độ vận động của hai yếu tố phản ánh hiệu quả kinh doanh, đó là tốc độ
vận động của kết quả và tốc độ vận động của chi phí. Mỗi quan hệ này phản ánh
trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất của doanh nghiệp
Như vậy, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế
phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất, trình độ tổ chức và quản lý
của doanh nghiệp để thực hiện ở mức cao nhất các mục tiêu kinh tế - xã hội với
chi phí thấp nhất.
1.2. Bản chất hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp phản ánh mặt chất lượng của các hoạt
động kinh doanh, phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực ( lao động, thiết bị máy
móc, nguyên nhiên vật liệu và tiền vốn) để đạt được mục tiêu cuối cùng của mọi
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp-mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận.
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp gắn chặt với hiệu quả kinh tế của toàn xã
hội, vì thế nó cần được xem xét toàn diện cả về định tính lẫn định lượng, không
gian và thời gian. Về mặt định tính, mức độ hiệu quả kinh doanh là những nỗ lực
của doanh nghiệp và phản ánh trình độ quản lý của doanh nghiệp đồng thời gắn

những nỗ lực đó với việc đáp ứng các mục tiêu và yêu cầu của doanh nghiệp và
của xã hội về kinh tế, chính trị, xã hội. Về mặt định lượng, hiệu quả kinh doanh chỉ
có được khi kết quả thu được lớn hơn chi phí bỏ ra. Mức chênh lệch này càng lớn
thì hiệu quả càng cao và ngược lại. Cả hai mặt định tính và định lượng của hiệu
quả kinh doanh có quan hệ chặt chẽ với nhau, không tách rời nhau, trong đó hiệu
quả về lượng phải gắn với việc thực hiện các mục tiêu chính trị - xã hội - môi
trường nhất định. Do vậy, chúng ta không thể chấp nhận việc các nhà kinh doanh
tìm mọi cách để đạt được các mục tiêu kinh tế cho dù phải chi phí bất cứ giá nào
hoặc thậm chí phải đánh đổi các mục tiêu chính trị - xã hội - môi trường để đạt
được các mục tiêu kinh tế. Về mặt thời gian, hiệu quả mà doanh nghiệp đạt được
trong từng thời kỳ, từng giai đoạn không được làm giảm sút hiệu quả của các giai
đoạn, các thời kỳ kinh doanh tiếp theo. Điều đó đòi hỏi bản than các doanh nghiệp
không được vì lợi ích trước mắt mà bỏ đi lợi ích lâu dài. Trong thực tiễn kinh
doanh của doanh nghiệp, điều không được tính đến là con người khai thác, sử dụng
tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn không có kế hoạch, thậm chí khai
thác và sử dụng bừa bãi, làm cạn kiệt tài nguyên, phá huỷ môi trường. cũng không
thể quan niệm rằng cắt giảm chi phí và tăng doanh thu lúc nào cũng có hiệu quả,
một khi cắt giảm tuỳ tiện và thiếu cân nhăc chi phí cải tạo môi trường, bảo bảo
cân bằng sinh thái, đầu tư cho giáo dục, đào tạo…
Tóm lại, về mặt định tính, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là một
phạm trù kinh tế tổng hợp phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố sản xuất nói
riêng, trình độ tổ chức và quản lý nói chung để đáp ứng các nhu cầu của xã hội
và đạt được các mục tiêu mà doanh nghiệp đã xác định. Trong điều kiện hiện
nay, khi mà các quốc gia trên thế giới luôn đề cao vấn đề an toàn cho người tiêu
dùng, an toàn vệ sinh, môi trường, vấn đề lao động và trách nhiệm xã hội thì
hiệu quả kinh doanh nhiều nhiều khi còn gắn với hiệu quả chính trị - xã hội. Về
mặt định lượng, đó là một đại lượng biểu thị mối tương quan giữa kết quả mà
doanh nghiệp đạt được với các chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt được kết
quả đó và mối quan hệ giữa sự vận động giữa kết quả với sự vận động của chi
phí tạo ra nó trong những điều kiện nhất định.

2. Phân loại hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Thực tế cho thấy hiệu quả là một phạm trù được sử dụng rộng rãi trong tất
cả các lĩnh vực xã hội, kinh tế và kỹ thuật. Nhưng đối với doanh nghiệp để tiện
cho việc quản lý và nâng cao hiệu quả kinh doanh người ta thường phân loại
hiệu quả theo các tiêu thức khác nhau. Sau đây là một trong các cách phân loại
hiệu quả kinh doanh trong doanh nghiệp
Căn cứ vào phương pháp tính hiệu quả có hiệu quả tuyệt đối và
hiệu quả tương đối
Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối là hai hình thức biểu hiện mối
quan hệ giữa kết quả và chi phí
Hiệu quả tuyệt đối là phạm trù chỉ lượng hiệu quả của từng phương án kinh
doanh, từng thời kỳ kinh doanh, từng doanh nghiệp. Nó được tính toán bằng
công thức:
∑ Kết quả - ∑ Chi phí = P (1)
Hiệu quả tương đối là phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố sản
xuất của doanh nghiệp. Nó được tính bằng công thức
KQ
H
1
= (2)
CP
CP
H
2
= (3)
KQ
Công thức (2) cho biết lượng kết quả mà doanh nghiệp đạt được từ một
phương án kinh doanh, từng thời kỳ kinh doanh.
Công thức (3) cho biết một đơn vị chi phí thì tạo ra bao nhiêu đơn vị kết
quả hoặc một đơn vị kết quả thì tạo từ bao nhiêu đơn vị chi phí

Căn cứ vào phạm vi tính hiệu quả có hiệu quả kinh doanh tổng
hợp và hiệu quả kinh doanh bộ phận
Hiệu quả kinh doanh tổng hợp là hiệu quả kinh doanh tính chung cho toàn
doanh nghiệp, cho các bộ phận trong doanh nghiệp. Hiệu quả tổng hợp phản
ánh khái quát và cho phép kết luận về hiệu quả của toàn bộ quá trình sản xuất
kinh doanh, phản ánh trình độ lợi dụng tất cả các yếu tố tham gia vào quá trình
sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định (tư liệu sản xuất, nguyên nhiên
vật liệu, lao động … và tất nhiên bao hàm cả tác dụng của yếu tố quản trị đến
việc sử dụng có hiệu quả các yếu tố trên)
Hiệu quả kinh doanh bộ phận là hiệu quả kinh doanh tính riêng cho từng
bộ phận của doanh nghiệp hoặc từng yếu tố sản xuất.
Hiệu quả kinh doanh tổng hợp và hiệu quả kinh doanh tổng hợp có mối
quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau để có thể phản ánh hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp một cách chính xác và cụ thể hơn.
Căn cứ vào thời gian mang lại hiệu quả có hiệu quả trước mắt
và hiệu quả lâu dài
Hiệu quả trước mắt là hiệu quả được xem xét trong khoảng thời gian ngắn,
những lợi ích trong loại hiệu quả này là lợi ích mang tính trước mắt, tạm thời.
Đôi khi hiệu quả này gây hại cho doanh nghiệp nếu như doanh nghiệp không
tính toán kỹ lưỡng.
Hiệu quả lâu dài là hiệu quả được xem xét trong khoảng thời gian dài. Hiệu
quả này thường gắn liền với những chiến lược, kế hoạch dài hạn và liên quan
đến sự tồn tại và sự phát triển của doanh nghiệp.
Giữa hiệu quả dài hạn và hiệu quả ngắn hạn có mối hiệu quả biện chứng với
nhau nhưng cũng có nhiều trường hợp mâu thuẫn nhau. Hiệu quả kinh doanh ngắn
hạn có thể đảm bảo cho hiệu quả kinh doanh dài hạn cho tương lai nhưng nếu có
xuất hiên mâu thuẫn giữa hai loại hiệu quả này thì ta nên lấy hiệu quả lâu dài làm
thước đo chất lượng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Căn cứ vào đối tượng xem xét hiệu quả có hiệu quả trực tiếp và
hiệu quả gián tiếp

Hiệu quả trực tiếp là những lợi ích thu được từ chính hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp. Hoạt động đó có tác động trực tiếp đến các chỉ tiêu đo lường
hiệu quả kinh doanh. Ví dụ vốn bỏ ra để kinh doanh nhập khẩu thì sẽ thu được
một khoản lợi nhuận nhất định, đó chính là hiệu quả trực tiếp
Hiệu quả gián tiếp là những lợi ích mang lại do hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp tác động đến những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh
của doanh nghiệp như các yếu tố về môi trường kinh doanh như môi trường
kinh tế, pháp lý, cạnh tranh…, các yếu tố bên trong doanh nghiệp như nguồn
nhân lực, yếu tố quản trị.
Căn cứ vào khía cạnh khác nhau của hiệu quả có hiệu quả tài
chính và hiệu quả kinh tế - xã hội
Hiệu quả tài chính là hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp về mặt kinh tế
tài chính được biểu hiện qua các chỉ tiêu thu chi trực tiếp của doanh nghiệp.
Tiêu chuẩn cơ bản của hiệu quả tài chính là hiệu lợi nhuận cao nhất và ổn định.
Đây là mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp.
Hiệu quả chính trị - xã hội là hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp về mặt
chính trị - xã hội - môi trường. Nó phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực
nhằm đạt được các mục tiêu xã hội nhất định.
Giữa hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế xã hội có mối quan hệ thống
nhất có mâu thuẫn. Hiệu quả kinh doanh tài chính vừa là nguồn gốc đem lại
hiệu quả kinh tế xã hội và cũng là nguyên nhân hạn chế hiệu quả xã hội.
3. Hệ thống chỉ tiêu đo lường hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Hiệu quả kinh doanh không chỉ là mục tiêu kinh tế tổng hợp mà còn là
nhiệm vụ cơ bản của công tác quản trị doanh nghiệp. Để các nhà quản trị có thể
phân tích, đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp thì họ thường lập ra
một hệ thống chỉ tiêu riêng của doanh nghiệp mình. Hệ thống chỉ tiêu này cho
chúng ta biết rõ kết quả về mặt lượng của phạm trù hiệu quả kinh tế, hiệu quả
đạt được cao hay thấp sau mỗi kỳ kinh doanh.
3.1. Các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh tổng hợp
Chỉ tiêu lợi nhuận

Lợi nhuận là chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh có tính tổng hợp, phản ánh kết
quả cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh. Nó là tiền đề để duy trì và tái
sản xuất mở rộng của doanh nghiệp, để cải thiện và nâng cao mức sống của
người lao động. doanh nghiệp có lợi nhuận thì đất nước mới giầu có, phát triển.
Ngược lại làm ăn thấp kém sẽ dẫn đến thua lỗ và phá sản. Việc tính toán lợi
nhuận có liên quan đến tính toán doanh thu và chi phí.
Các chỉ tiêu doanh lợi
Xét trên cả phương diện lý thuyết và thực tiễn quản trị kinh doanh, các nhà
quản trị hoạt động kinh doanh thực tế ở các doanh nghiệp và các nhà tài trợ khi
xem xét hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp đều quan tâm trước hết đến việc
tính toán đánh giá chỉ tiêu chung phản ánh doanh lợi của doanh nghiệp. Vì chỉ
tiêu doanh lợi được đánh giá cho hai loại vốn kinh doanh: toàn bộ vốn kinh
doanh bao gồm cả vốn tự có và vốn đi vay và chỉ tính cho vốn tự có của doanh
nghiệp, các chỉ tiêu này được coi là các chỉ tiêu phản ánh sức sinh lời của số
vốn kinh doanh, khẳng định mức độ đạt được hiệu quả kinh doanh của toàn bộ
số vốn mà doanh nghiệp sử dụng nói chung cũng như hiệu quả sử dụng vốn tự
có của doanh nghiệp nói riêng. Các chỉ tiêu doanh lợi bao gồm: doanh lợi theo
doanh thu bán hàng, doanh lợi theo vốn kinh doanh, doanh lợi theo chi phí kinh
doanh.
3.2. Các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh bộ phận
Hiệu quả sử dụng vốn
Thực ra muốn có các yếu tố đầu vào doanh nghiệp cần có vốn kinh doanh,
nếu thiếu vốn mọi hoạt động của doanh nghiệp hoặc đình trệ hoặc kém hiệu
quả. Do đó các nhà kinh tế cho rằng chỉ tiêu sử dụng vốn là một chỉ tiêu hiệu
quả kinh doanh bộ phận. Để đánh giá hiệu quả sử dụng đồng vốn và từng bộ
phận vốn của doanh nghiệp các nhà kinh tế đưa ra các chỉ tiêu:
+ Thời hạn thu hồi vốn kinh doanh
+ Hiệu quả sử dụng vốn cố định
+ Hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Hiệu quả sử dụng lao động

Số lượng và chất lượng lao động là yếu tố cơ bản trong sản xuất, góp phần
quan trọng trong năng llực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. hiệu quả sử
dụng lao động biểu hiện ở năng suất lao động, chỉ tiêu mức sinh lời bình quân
của lao động, chỉ tiêu hiệu suất tiền lương. Các chỉ tiêu này càng cao thì doanh
nghiệp sử dụng lao động càng hiệu quả.
Hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu
Chỉ tiêu này thể hiện khả năng khai thác các nguồn nguyên vật liệu của
doanh nghiệp, đánh giá chu kỳ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Để
đánh giá hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu người ta sử dụng hai chỉ tiêu sau:
+ Vòng luân chuyển nguyên vật liệu
+ Vòng luân chuyển vật tư trong sản phẩm dở dang
Hai chỉ tiêu trên mà cao thì cho biết doanh nghiệp giảm được chi phí cho
nguyên vật liệu dự trữ, rút ngắn chu kỳ hoạt động về nguyên vật liệu tồn kho và
tăng vòng quay vốn lưu động. Ngoài ra sử dụng nguyên vật liệu có hiệu quả
người ta còn đánh giá mức thiệt hại, mất mát nguyên vật liệu trong quá trình dự
trữ, sử dụng chúng. Chỉ tiêu này được đo bằng tỷ số giữa giá trị nguyên vật liệu
hao hụt, mất mát trên tổng giá trị nguyên vật liệu sử dụng trong kỳ. Qua các chỉ
tiêu trên doanh nghiệp có thể đưa ra những quyết định thích hợp nhằm sử dụng
vật tư tiết kiệm, đúng mục đích, phù hợp thực tế sản xuất và có hiệu quả.
4. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Nâng cao hiệu quả kinh doanh là một việc làm quan trọng của các nhà
quản trị trong bất cứ doanh nghiệp nào. Nó quyết định sự tồn tại và phát triển
của mỗi doanh nghiệp. Hiệu quả kinh doanh là công cụ quản trị kinh doanh. Để
tiến hành một hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng đều phải tập hợp các
phương tiện vật chất cũng như con người và thực hiện sự kết hợp giữa lao động
với các yếu tố vật chất để toạ ra kết quả phù hợp với ý đồ của doanh nghiệp và
từ đó có thể tạo ra lợi nhuận. Như vậy, mục tiêu bao trùm lâu dài của kinh
doanh là tạo ra lợi nhuận, tối đa hoá lợi nhuận trên cơ sở những nguồn lực sản
xuất sẵn có. Để đạt được mục tiêu này quản trị doanh nghiệp phải sử dụng nhiều
phương pháp khác nhau. Hiệu quả kinh doanh là một trong những công cụ để

các nhà quản trị thực hiện chức năng quản trị của mình . Việc xem xét và tính
toán hiệu quả kinh doanh không những chỉ cho biết việc sản xuất đạt được ở
trình độ nào mà còn cho phép các nhà quản trị phân tích, tìm ra các nhân tố để
đưa ra các biện pháp thích hợp trên cả hai phương diện tăng kết quả và giảm chi
phí kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai sẽ không thành vấn
đề bàn cãi nếu nguồn tài nguyên không hạn chế. Người ta có thể sản xuất vô tận
hàng hoá, sử dụng kết quả thiết bị máy móc, nguyên vật liệu một cách khôn
ngoan cũng chẳng sao nếu nguồn tài nguyên là vô tận. Nhưng thực tế, mọi
nguồn tài nguyên trên trái đất như đất đai, khoáng sản, hải sản… là một phạm
trù hữu hạn và ngày càng khan hiếm và cạn kiệt do con người khai thác và sử
dụng chúng. Trong khi đó một mặt, dân cư ở từng vùng, từng quốc giâ và toàn
thế giới ngày càng tăng và tốc độ tăng dân số cao làm cho sự tăng dân số rất lớn
và mặt khác, nhu cầu tiêu dùng vật phẩm của con người lại là phạm trù không
giới hạn: không có giới hạn ở sự phát triển các loại cầu và ở từng loại cầu thì
cũng không có giới hạn - càng nhiều, càng phong phú, càng có chất lượng cao
càng tốt. Do vậy, của cải đã khan hiếm lại càng khan hiếm và ngày càng khan
hiếm theo cả nghĩa tuyệt đối và tương đối của nó. Khan hiếm đòi hỏi và bắt
buộc con người phải nghĩ đến việc lựa chọn kinh tế, khan hiếm tăng lên dẫn đến
vấn đề lựa chọn kinh tế tối ưu ngày càng phải đặt ra nghiêm túc, gay gắt. Tức là
việc nâng cao hiệu quả kinh doanh là vấn đề cấp thiết.
Do trình độ khoa học - kỹ thuật trên thế giới ngày càng phát triển do đó
người ta có nhiều phương pháp khác nhau để chế tạo ra sản phẩm. kỹ thuật sản
xuất phát triển cho phép cùng với những nguồn lực đầu vào nhất định người ta
có thể tạo ra rất nhiều loại sản phẩm khác nhau. Điều này cho phép các doanh
nghiệp có khả năng nâng cao hiệu quả kinh doanh sao cho có lợi nhuận tối đa
nhất. Lựa chọn sản xuất kinh doanh sản phẩm (cơ cấu sản phẩm) tối ưu, sự lựa
chọn đúng đắn sẽ mang lại cho doanh nghiệp hiệu quả kinh doanh cao nhất thu
được nhiều lợi ích nhất. Giai đoạn phát triển kinh tế theo chiều rộng kết thúc và
nhường chỗ cho sự phát triển theo chiều sâu: sự tăng trưởng kết quả kinh tế của

sản xuất kinh doanh chủ yếu nhờ việc cải tiến các yếu tố sản xuất về mặt chất
lượng, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới, công nghệ mới, hoàn thiện công tác
quản trị…, và nâng cao chất lượng các hoạt động kinh tế.
Như vậy nâng cao hiệu quả kinh doanh tức là đã nâng cao khả năng sử
dụng các nguồn lực có hạn trong sản xuất, đạt được sự lựa chọn tối ưu. Trong
điều kiện khan hiếm các nguồn lực sản xuất thì nâng cao hiệu quả kinh doanh là
điều kiện không thể không đặt ra đối với bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh
nào.
Tuy nhiên, sự lựa chọn kinh tế của các doanh nghiệp trong các cơ chế kinh
tế khác nhau là không giống nhau. Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, việc

×