Tải bản đầy đủ (.docx) (33 trang)

CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG MAY MẶC THẾ GIỚI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP MAY MẶC VIỆT NAM

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (222.14 KB, 33 trang )

CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG VÀ
SỰ CẦN THIẾT PHẢI THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG MAY MẶC
THẾ GIỚI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP MAY MẶC VIỆT NAM
1.1.KHÁI LUẬN CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG
1.1.1.Khái niệm thị trường
Cùng với sự phát triển của thị trường, người ta đã đưa ra rất nhiều quan
điểm khác nhau về thị trường, tùy thuộc vào góc độ nhìn nhận, đánh giá, giác độ
nghiên cứu của mỗi người.
Theo C.Mác thì sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó sản
phẩm được sản xuất ra nhằm để trao đổi hoặc bán trên thị trường. Khái niệm thị
trường hoàn toàn không tách rời với kiểu tổ chức kinh tế sản xuất hàng hóa, chỉ
khi có sự phân công lao động xã hội, có sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế
của những người sản xuất thì mới có sự mua bán hàng hóa và hình thành nên thị
trường.
Theo kinh tế học vi mô thì thị trường là sự kết hợp giữa cung và cầu, sự
tương tác giữa cung và cầu hình thành giá và lượng cân bằng. Từ khái niệm này
ta thấy muốn hình thành thị trường thì cần phải có 3 điều kiện: đối tượng trao
đổi là sản phẩm hàng hóa, dịch vụ; đối tượng tham gia trao đổi là người mua và
người bán; sự thỏa thuận giữa người bán và người mua. Số lượng người mua và
người bán nhiều hay ít phản ánh qui mô của thị trường lớn hay nhỏ.
Theo kinh tế học vĩ mô thì thị trường là tổng hợp các quan hệ kinh tế hình
thành trong hoạt động mua và bán. Hoạt động mua bán diễn ra đồng thời các
quan hệ kinh tế nảy sinh, đó là quan hệ về cung cầu, giá cả, số lượng hàng hóa.
Sự dịch chuyển của cung cầu sẽ làm cho giá cả và số lượng hàng hóa thay đổi
theo.
Theo Marketing quốc tế, đứng trên giác độ doanh nghiệp thì “Thị trường
là tập hợp những khách hàng tiềm năng của doanh nghiệp đó, tức là khách hàng
đang mua hoặc có thể sẽ mua sản phẩm của doanh nghiệp đó”.
Tuy có nhiều quan niệm khác nhau về thị trường nhưng tựu chung lại thì
thị trường là một phạm trù của kinh tế hàng hóa, nó ra đời và gắn liền với sản
xuất hàng hóa. Thị trường luôn diễn ra các hoạt động mua bán, trao đổi và các


quan hệ tiền tệ và thông qua thị trường các doanh nghiệp phải tìm cách trả lời
được các câu hỏi: Doanh nghiệp sẽ sản xuất mặt hàng nào? Ai là khách hàng
của doanh nghiệp? Và doanh nghiệp sẽ tiến hành sản xuất như thế nào?
1.1.2.Vai trò của thị trường
Thị trường có một vai trò rất quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp, nó là
môi trường cho các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh, nó còn vừa là
điều kiện vừa là động lực của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Thị trường là nơi doanh nghiệp đưa các sản phẩm dịch vụ của mình ra
tiêu thụ, bởi vậy nó là cái môi trường kinh doanh của doanh nghiệp. Các doanh
nghiệp phải nhanh chóng làm quen và nắm bắt được môi trường kinh doanh
này. Không những thế, khi doanh nghiệp muốn tiến hành các hoạt động sản xuất
kinh doanh thì doanh nghiệp phải tiến hành mua các yếu tố đầu vào cho mình
trên thị trường bởi vậy nó là điều kiện cho quá trình hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp. Các doanh nghiệp luôn cố gắng để bán được càng nhiều sản
phẩm trên thị trường các tốt, sản phẩm càng được thị trường chấp nhận có nghĩa
là doanh nghiệp đó đang hoạt động có hiệu quả, chính thị trường là động lực
cho doanh nghiệp phát triển hơn nữa, là vấn đề sống còn đối với mỗi doanh
nghiệp. Mất thị trường có nghĩa là doanh nghiệp phá sản.
1.1.3.Phân loại thị trường
Có rất nhiều tiêu chí để phân loại thị trường, trong thực tế người ta
thường phân chia thị trường theo các tiêu chí sau:
1.1.3.1.Căn cứ vào vị trí địa lý:
-Thị trường Châu lục:
Mỗi một châu lục là một thị trường rộng lớn đối với mỗi doanh nghiệp,
nó có thể là thị trường Châu Á, thị trường Châu Âu, thị trường Châu Phi, Châu
Mỹ, châu Úc.
- Thị trường khu vực:
Các quốc gia trong một khu vực địa lý hợp tác với nhau nhằm giảm bớt
hay xóa bỏ các trở ngại các trở ngại đối với dòng vận động của hàng hóa, dịch
vụ, lao động và vốn giữa các quốc gia đó hình thành nên các liên kết kinh tế khu

vực và từ đó hình thành nên các thị trường khu vực như thị trường EU, Đông
Nam Á, Bắc Mỹ
- Thị trường nước và vùng lãnh thổ
Mỗi một quốc gia hay một vùng lãnh thổ cũng là một thị trường đối với
doanh nghiệp như thị trường Trung Quốc, thị trường Hoa Kỳ, thị trường Hồng
Kông, Đài Loan…
1.1.3.2.Căn cứ vào lịch sử quan hệ ngoại thương
- Thị trường truyền thống
Đây là thị trường mà doanh nghiệp có quan hệ từ trước đây rất lâu đã có
nhiều hiểu biết cũng như kinh nghiệm kinh doanh trên những thị trường này.
- Thị trường hiện tại
Đây là những thị trường mà doanh nghiệp tập trung những nỗ lực của
mình vào thị trường này nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh. Thông thường đây
là thị trường tiêu thụ chủ yếu những sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất ra
- Thị trường mới
Đây là những thị trường mà công ty mới tiến hành khai thác, sản phẩm
tiêu thụ với số lượng nhỏ tương lai sẽ trở thành thị trường hiện tại của công ty.
- Thị trường tiềm năng
Đây là thị trường mà công ty chưa tiến hành khai thác hoặc đang chuẩn bị
khai thác. Doanh nghiệp cần phải quan tâm đến thị trường này nhanh chóng
biến nó thành thị trường của mình nếu không sẽ bị đối thủ giành giật mất.
1.1.3.3.Căn cứ vào phương thức xuất khẩu
- Thị trường xuất khẩu trực tiếp
Là thị trường mà tại đây doanh nghiệp sẽ thông qua dịch vụ của các tổ
chức độc lập đặt tại nước xuất khẩu để tiến hành xuất khẩu sản phẩm của mình
ra nước ngoài.
- Thị trường xuất khẩu gián tiếp
Là thị trường mà tại đây nhà sản xuất giao dịch trực tiếp với khách hàng
nước ngoài ở khu vực nước ngoài thông qua tổ chức của mình.
1.1.3.4.Căn cứ vào thỏa thuận thương mại

- Thị trường xuất khẩu theo hạn ngạch
Là những thị trường của các quốc gia muốn bảo hộ cho các nhà sản xuất
trong nước nên đưa ra hạn ngạch cho mỗi mặt hàng của các quốc gia khác khi
muốn xuất khẩu vào thị trường này. Mặt hàng này lại là mặt hàng mà doanh
nghiệp sản xuất.
- Thị trường xuất khẩu không theo hạn ngạch
Là thị trường của các quốc gia không áp hạn ngạch đối với mặt hàng mà
doanh nghiệp sản xuất. Doanh nghiệp có thể xuất khẩu bao nhiêu tùy thuộc vào
khả năng của mình cũng như sức cạnh tranh của sản phẩm.
1.1.3.5.Căn cứ vào mức độ quan tâm và tính ưu tiên
- Thị trường xuất khẩu trọng điểm
Doanh nghiệp tập trung mọi nguồn lực của mình vào phục vụ cho thị
trường này và mọi yêu cầu từ thị trường này sẽ được doanh nghiệp ưu tiên.
- Thị trường xuất khẩu phụ
Là thị trường mà doanh nghiệp không mấy chú trọng đến, hoạt động xuất
khẩu sang thị trường này còn ít.
1.1.4.Chức năng của thị trường
Cơ chế thị trường là “bàn tay vô hình” điều khiển nền kinh tế, trong đó
lợi ích của mỗi cá nhân chỉ đạt được thông qua lợi ích của toàn xã hội. Các
doanh nghiệp phải thông qua thị trường để giải quyết 3 vấn đề của mình: sản
xuất cái gì? Sản xuất cho ai? Sản xuất như thế nào? Qua đó, thị trường thực hiện
đầy đủ các chức năng của nó trong quá trình vận động của sản phẩm từ sản xuất
đến tiêu dùng.
1.1.4.1. Chức năng thừa nhận
Trong nền kinh tế sản xuất hàng hóa, các sản phẩm sản xuất ra được đưa
ra bán trên thị trường. Thông qua thị trường, doanh nghiệp sẽ biết sản phẩm của
mình có được người tiêu dùng đón nhận hay không. Nếu sản phẩm của doanh
nghiệp bán được tức là đã được thị trường chấp nhận và ngược lại nếu sản phẩm
của doanh nghiệp không bán được nghĩa là nó không được thị trường chấp
nhận. Chính nhờ cái chức năng này của thị trường mà doanh nghiệp sẽ biết

mình nên sản xuất loại hàng hóa dịch vụ nào.
1.1.4.2.Chức năng thực hiện
Gắn liền với chức năng thừa nhận là chức năng thực hiện của thị trường.
Trên thị trường, hoạt động mua bán, trao đổi là hoạt động bao trùm và thực hiện
hoạt động này là cơ sở cho việc thực hiện các hoạt động khác diễn ra trên thị
trường. Thị trường thực hiện hành vi mua bán hàng hóa và thông qua đó thực
hiện quy luật giá trị, trao đổi giá trị, điều chỉnh tổng cung tổng cầu của thị
trường, điều chỉnh cách thức cạnh tranh của các chủ thể tham gia vào thị
trường…
1.1.4.3.Điều tiết và kích thích cung cầu
Căn cứ vào nhu cầu của thị trường mà các doanh nghiệp lập ra kế hoạch
sản xuất cho mình làm sao để đạt lợi nhuận tối đa. Chính vì vậy, thị trường là
mục tiêu cho các doanh nghiệp, kích thích các doanh nghiệp tích cực sản xuất
khi nhu cầu của thị trường lớn và người tiêu dùng lại có nhu cầu nhiều hơn nữa
khi hàng hóa ngày cang đa dạng phong phú. Ngược lại, thị trường điều tiết hoạt
động sản xuất của doanh nghiệp cho phù hợp với nhu cầu của thị trường, một
khi thị trường bão hòa thì các doanh nghiệp phải có hướng đi khác cho mình
nếu không doanh nghiệp sẽ thất bại và có thể dẫn đến khủng hoảng thị trường.
1.1.4.4.Cung cấp thông tin cho các chủ thể nền kinh tế
Trong nền kinh tế sản xuất hàng hóa, thông tin cực kì quan trọng bởi vậy
các doanh nghiệp nếu như trước đây không mấy quan tâm thì đã thành lập hẳn
một bộ phận để thu thập, xử lý thông tin về văn hóa, chính trị, luật pháp, dung
lượng thị trường…. Thông tin phải chính xác thì các quyết định của doanh
nghiệp mới chính xác. Các thông tin này được doanh nghiệp lấy từ thị trường và
từ đó đưa ra các quyết định về sản xuất, kinh doanh cho phù hợp với thị trường.
Mỗi một hoạt động kinh tế diễn ra trên thị trường đều thể hiện bốn chức
năng của thị trường, chúng có quan hệ mật thiết với nhau. Trong đó khi chức
năng thừa nhận của thị trường được thực hiện thì các chức năng khác mới được
thực hiện. Do bản chất vốn có của thị trường, thị trường có bốn chức năng quan
trọng như đã trình bày ở trên.

1.1.5.Các qui luật kinh tế hoạt động trên thị trường
Qui luật là những mối liên hệ tất nhiên, phổ biến, bản chất của sự
vật và hiện tượng trong những điều kiện nhất định. Các qui luật tồn tại
khách quan, không phụ thuộc vào con người, chúng đan xen vào nhau tạo
thành một hệ thống thống nhất. Qui luật cung cầu, qui luật giá trị, qui luật
cạnh tranh là ba quy luật kinh tế phổ biến của thị trường hoạt động đan
xen nhau mà khi tham gia vào thị trường các chủ thể cần phải nhận thức
được.
1.1.5.1.Qui luật giá trị
Qui luật này yêu cầu sản phẩm và trao đổi hàng hóa được tiến hành phù
hợp với hao phí lao động xã hội cần thiết tạo ra hàng hóa. Qui luật giá trị được
thể hiện qua giá cả của thị trường làm cho những người bán hàng hóa thu hẹp
bớt qui mô sản xuất loại hàng hóa có giá cả thấp hơn giá trị và mở rộng qui mô
sản xuất đối với những loại hàng hóa có giá cả cao hơn giá trị.
1.1.5.2.Qui luật cung cầu
Đây là một qui luật kinh tế của nền kinh tế hàng hóa, nó được xây dựng
dựa vào lượng cung, lượng cầu và giá cả của thị trường. Cung là một đại lượng
tỉ lệ thuận với giá, còn cầu là một đại lượng tỉ lệ nghịch với giá. Khi cung lớn
hơn cầu tức là giá cả nhỏ hơn giá trị và ngược lại khi cầu lớn hơn cung thì giá cả
lớn hơn giá trị. Lúc giá trị bằng giá cả của hàng hóa là lúc cung bằng cầu, thị
trường cân bằng.
1.1.5.3.Qui luật cạnh tranh
Trong nền kinh tế thị trường, các chủ thể tham gia cạnh tranh phải dùng
mọi biện pháp để độc chiếm hoặc chiếm hữu ưu thế thị trường về sản phẩm
cạnh tranh, nhờ đó thu được lợi nhuận kinh tế cao nhất trong phạm vi cho phép.
Cạnh tranh không chỉ giữa những người bán với nhau, cạnh tranh còn diễn ra
giữa những người bán với người mua, giữa những người mua với nhau. Đó
chính là nội dung của quy luật cạnh tranh, nó sẽ giúp sắp xếp lại trật tự của thị
trường, hàng loạt những sản phẩm mới ra đời, sản xuất của các doanh nghiệp có
ưu thế trên thị trường phát triển bên cạnh việc phá sản của các doanh nghiệp

làm ăn thua kém… Bên cạnh những lợi ích mà quy luật mang lại, đôi khi nó
cũng có thể đưa các yếu tố xấu, phi đạo đức vào sản xuất và xã hội mà các nhà
làm chính sách cần phải quan tâm và có biện pháp can thiệp kịp thời.
Do có sự hoạt động của 3 qui luật kinh tế bao trùm lên toàn bộ thị trường
cho nên mỗi một nhà sản xuất kinh doanh đều phải nhận biết và vận dụng qui
luật vào trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình.
1.2.KHÁI LUẬN CHUNG VỀ THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG
1.2.1.Khái niệm thâm nhập thị trường
Xu hướng quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ lôi cuốn tất cả các quốc gia.
Điều đó cũng có nghĩa là mức độ cạnh tranh quốc tế giữa các doanh nghiệp cao
hơn. Bên cạnh việc nhận thức về sự ảnh hưởng của các đối thủ cạnh tranh quốc
tế và thiết lập các giao dịch với các doanh nghiệp nước ngoài ở thị trường nội
địa, các doanh nghiệp còn có thể tiến hành giao dịch với thị trường nước ngoài.
Thâm nhập thị trường thế giới là một hoạt động không thể thiếu đối với các
doanh nghiệp trong quá trình quốc tế hóa hiện nay.
Thâm nhập thị trường được hiểu là quá trình doanh nghiệp tìm mọi cách
đưa chuyển giao các nguồn lực của mình ra thị trường thế giới để khai thác các
cơ hội kinh doanh trên thị trường thế giới. Các nguồn lực đó có thể là sản phẩm,
công nghệ, kỹ năng quản lý…
Bản chất của thâm nhập thị trường chính là việc doanh nghiệp mở rộng
thị trường ra một hoặc nhiều thị trường bên ngoài biên giới quốc gia của doanh
nghiệp đó. Trong quá trình thâm nhập thị trường thế giới, doanh nghiệp sẽ phải
đối mặt với những môi trường khác nhau về kinh tế, chính trị cũng như văn hóa.
Sự khác nhau này đôi khi rất lớn nó ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp tại thị trường nước ngoài.
1.2.2.Các hình thức thâm nhâm nhập thị trường
Có nhiều hình thức để doanh nghiệp thâm nhập vào thị trường thế giới,
tùy vào từng thị trường, từng doanh nghiệp, từng thời điểm mà doanh nghiệp đó
quyết định thâm nhập vào mỗi thị trường bằng hình thức nào.
1.2.2.1.Thâm nhập thị trường thông qua xuất khẩu

1.2.2.1.1.Khái niệm
Xuất khẩu là hình thức thâm nhập thị trường thế giới đơn giản nhất trong
tất cả các hình thức thâm. Xuất khẩu được hiểu là hoạt động đưa các hàng hóa
và dịch vụ từ quốc gia này sản quốc gia khác. Dưới giác độ kinh doanh, xuất
khẩu là việc bán hàng hóa và dịch vụ ra thị trường nước ngoài. Hoạt động xuất
khẩu diễn ra dưới hai hình thức là xuất khẩu trực tiếp và xuất khẩu gián tiếp
Xuất khẩu trực tiếp là hoạt động bán hàng trực tiếp của một công ty cho
các khách hàng của mình ở thị trường nước ngoài thông qua đại diện bán hàng
hoặc đại lý phân phối. Các công ty có kinh nghiệm quốc tế thường trực tiếp bán
các sản phẩm của mình ra thị trường nước ngoài.
` Xuất khẩu gián tiếp là hình thức bán hàng hóa và dịch vụ của công ty ra
nước ngoài thông qua người thứ ba là các trung gian mua bán, đó có thể là đại
lý, công ty quản lý xuất khẩu, công ty kinh doanh xuất khẩu hoặc các đại lý vận
tải. Các trung gian mua bán này không chiếm hữu hàng hóa của công ty nhưng
trợ giúp công ty xuất khẩu hàng hóa sang thị trường nước ngoài.
1.2.2.1.2.Ưu điểm
Thâm nhập thị trường thế giới thông qua hình thức xuất khẩu có một số
ưu điểm nhất định như sau:
- Giúp công ty tăng doanh số bán hàng, tăng lợi nhuận cho công ty và
tăng thu ngoại tệ cho đất nước.
- Thông qua hoạt động xuất khẩu, công ty tiếp thu được kinh doanh kinh
doanh quốc tế
- Việc xuất khẩu giúp công ty tận dụng được những năng lực dư thừa khi
mà không tiêu thụ hết trên thị trường trong nước
- Hình thức thâm nhập thị trường thế giới này ít rủi ro, không tốn nhiều
chi phí cho doanh nghiệp, phù hợp với những doanh nghiệp mới thâm nhập vào
thị trường thế giới.
1.2.2.1.3.Nhược điểm
Bên cạnh những ưu điểm, thì hình thức xuất khẩu cũng có những nhược
điểm của nó mà các doanh nghiệp muốn thâm nhập vào thị trường thế giới cần

quan tâm khi áp dụng hình thức này.
Công ty chỉ xuất khẩu sang thị trường nước ngoài nên không tiếp xúc trực tiếp
với người tiêu dùng cuối cùng cho nên không có các biện pháp mạnh để cạnh tranh.
Công ty áp dụng hình thức xuất khẩu thường không am hiểu sâu sắc về phong
tục tập quán, luật pháp của thị trường nơi công ty thâm nhập nên thị trường rất dễ bị
rơi vào tay đối thủ.
1.2.2.2.Thâm nhập thị trường thông qua hợp đồng
Sự phát triển nhanh chóng của hoạt động kinh doanh quốc tế đòi hỏi có những
hình thức thâm nhập thị trường thế giới phù hợp hơn. Ngày nay, hình thức thâm nhập
thị trường nước ngoài thông qua hợp đồng đang ngày càng trở nên quan trọng và
được các công ty áp dụng phổ biến. Trên thực tế, các doanh nghiệp thường sử dụng
các loại hợp đồng sau:
1.2.2.2.1.Hợp đồng sử dụng giấy phép
- Khái niệm
Hợp đồng sử dụng giấy phép là hình thức thâm nhập thị trường nước ngoài,
trong đó một công ty sẽ trao cho một công ty khác quyền được sử dụng các tài sản vô
hình mà họ đang sở hữu trong một thời gian xác định và bên mua giấy phép sẽ phải
trả tiền bản quyền cho bên bán giấy phép.
- Ưu điểm
Giúp cho doanh nghiệp bán giấy phép có thể tiếp cận được với các nguồn lực
của bên mua giấy phép mà không phải tốn thời gian xây dựng và khởi công các cơ sở
mới của mình. Hơn nữa bên bán giấy phép sẽ có được doanh thu sớm hơn bình
thường.
Hợp đồng sử dụng giấy phép có thể giúp các doanh nghiệp hạn chế hiện tượng
hàng hóa giả mạo xuất hiện trên chợ đen ở thị trường nước ngoài bởi vì các công ty
mua giấy phép sẽ đưa ra thị trường những sản phẩm có mức giá cạnh tranh hơn và họ
sẽ có trách nhiệm đối với việc chống lại các hoạt động buôn bán lậu trên thị trường
của họ.
- Nhược điểm
Thâm nhập thị trường thế giới thông qua hình thức sử dụng giấy phép có

những nhược điểm đáng kể. Nó có thể hạn chế các hoạt động của công ty trong
tương lai.
Bên mua giấy phép có thể sản xuất ra những sản phẩm như bên bán giấy
phép mong đợi, điều này dẫn đến giảm sự tương đồng về chất lượng và phương
pháp tiếp thị sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường quốc tế. Việc xúc tiến
một hình ảnh toàn cầu về sau có thể sẽ rất tốn kém và mất thời gian để thay đổi
quan niệm không đúng của người tiêu dùng trên các thị trường có giấy phép sử
dụng khác nhau.
Thâm nhập thị trường thế giới bằng hình thức này có thể tạo ra những đối
thủ cạnh tranh cho công ty trong tương lai, nhất là khi công ty trao quyền sử
dụng một tài sản có lợi thế cạnh tranh của họ cho công ty khác. Khi hợp đồng sử
dụng giấy phép kết thúc, bên mua giấy phép có thể có khả năng sản xuất và bán
ra các phiên bản mới tốt hơn sản phẩm của công ty.
1.2.2.2.2.Hợp đồng kinh tiêu
- Khái niệm
Hợp đồng kinh tiêu là một hình thức thâm nhập thị trường nước ngoài
trong đó một công ty (nhà sản xuất độc quyền) cung cấp cho một công ty khác
(đại lý đặc quyền) một tài sản vô hình cùng với sự hỗ trợ trong một thời gian dài
và nhận thù lao.
Khác với hợp đồng sử dụng giấy phép chỉ trao các tài sản vô hình là hết
nghĩa vụ thì hợp đồng kinh tiêu đòi hỏi phải có thêm sự hỗ trợ tiếp tục từ nhà
sản xuất độc quyền đối với việc sản xuất và bán sản phẩm của đại lý đặc quyền.
- Ưu điểm
Hợp đồng kinh tiêu cho phép công ty kiểm soát tốt hơn việc bán hàng hóa
của họ trên các thị trường mục tiêu bởi vì các đại lý đặc quyền đòi hỏi phải đáp
ứng được các chỉ dẫn nghiêm ngặt về chất lượng sản phẩm, các nhiệm vụ quản
lý hàng ngày, các hoạt động tiếp thị và quảng cáo, do đó cho phép các nhà kinh
doanh có được sự thống nhất thông qua việc tạo ra bản sao các sản phẩm tiêu
chuẩn trên từng thị trường mục tiêu. Với ưu điểm này, thâm nhập thị trường thế
giới bằng cách thức hợp đồng kinh tiêu sẽ rất phù hợp với những công ty theo

đuổi chiến lược toàn cầu.
Hợp đồng kinh tiêu cho phép các công ty mở rộng thị trường về phương
diện địa lý, các công ty thường thâm nhập vào thị trường thế giới đầu tiên nên
có lợi thế cạnh tranh hơn và tận dụng được những kiến thức về văn hóa cũng
như những kỹ năng của các nhà quản lý địa phương nên giảm thiểu rủi ro khi
tiến hành kinh doanh trên một thị trường mới.
- Nhược điểm
Cách thức thâm nhập thị trường thế giới này sẽ tạo ra cho công ty rất
nhiều các đại lý đặc quyền, và công ty sẽ gặp khó khăn lớn trong vấn để kiểm
soát chúng. Đặc biệt là các đại lý đặc quyền lại ở trên các thị trường khác nhau
nên việc quản lý chúng rất cồng kềnh và phức tạp.
Việc tiêu chuẩn hóa sản phẩm và dịch vụ của công ty trên thị trường thế
giới sẽ gặp phải những khó khăn bởi các điều kiện khác biệt ở các nước sở tại.
Nhưng nếu công ty càng điều chỉnh theo những sự khác biệt ở các nước sở tại
thì sản phẩm của họ càng có ít độc đáo để thu hút các đại lý đặc quyền tiềm
năng.
1.2.2.2.3.Hợp đồng quản lý
- Khái niệm
Hợp đồng quản lý là một hình thức thâm nhập thị trường nước ngoài, trong
đó một công ty sẽ cung cấp cho một công ty khác các kinh nghiệm chuyên môn về
quản lý trong một thời gian xác định và được trả thù lao. Thông qua hợp đồng
quản lý, đối tác có thể tiếp nhận được những kiến thức chuyên môn của các nhà
quản lý.
- Ưu điểm
Hình thức này giúp công ty thâm nhập được vào thị trường thế giới ít
chịu rủi ro hơn, không phải lo lắng gì về phần tài sản cố định ở nước sở tại.
Công ty cũng có thể nâng cao hình ảnh của mình thông qua hoạt động
quản lý của mình ở nước sở tại, nếu cách thức quản lý của công ty thành công
sẽ tạo được ấn tượng tốt ở nước sở tại và hơn nữa cũng thu được một số kinh
nghiệm của đối tác.

- Nhược điểm
Hình thức này đòi hỏi công ty phải phân bố lại nguồn nhân lực của công
ty trong một khoảng thời gian nhất định, điều này có thể ảnh hưởng đến hoạt
động của công ty.
Ngoài ra hình thức này sẽ góp phần nuôi dưỡng đối thủ cạnh tranh của
công ty sau này. Khi đối tác đã học được cách tiến hành công việc như thế nào
và bên thuê quản lý có thể có được những kỹ năng, kinh nghiệm cho phép họ
cạnh tranh lại với công ty.
1.2.2.2.4.Dự án chìa khóa trao tay
- Khái niệm
Dự án chìa khóa trao tay là một dự án trong đó một công ty sẽ thiết kế,
xây dựng và vận hành thử nghiệm một công trình sản xuất, sau đó sẽ trao công

×