Tải bản đầy đủ (.pdf) (11 trang)

Tính thanh khoản: mạch máu duy trì sự sống cơ thể kinh doanh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (119.2 KB, 11 trang )

Tính thanh khoản: mạch máu duy
trì sự sống cơ thể kinh doanh

Chúng ta đã được biết tầm quan trọng của tiền mặt trong hoạt
động kinh doanh, nhưng sẽ thật là thiếu xót nếu bỏ qua một khái
niệm bao hàm hơn và không kém tầm quan trọng đó chính là tính
thanh khoản.

Thuật ngữ "tính thanh khoản" có thể được hiểu theo 3 cách. Thứ
nhất, dùng để chỉ khả năng chuyển thành tiền của tài sản (tất
nhiên bao gồm cả chứng khoán) nhằm trang trải các khoản nợ và
nghĩa vụ ngắn hạn. Để làm được việc này, doanh nghiệp cần
phải sở hữu các tài sản có tính thanh khoản, đó là tiền mặt và
tương đương tiền (bao gồm, cổ phiếu blue-chip và các chứng
khoán trên thị trường tiền tệ ví dụ trái phiếu chính phủ). Các tài
sản có tính thanh khoản phải đảm bảo có thể được mua bán trên
thị trường nhanh chóng mà không ảnh hưởng đến giá cả, tức là
giá giao dịch không bị chênh lệch quá nhiều so với giá gốc. Tất
nhiên, các nhà đầu tư yêu thích đầu tư vào các tài sản có tính
thanh khoản cao vì họ có thể dễ dàng rút khỏi vụ đầu tư và lấy lại
khoản đầu tư của mình (kèm theo cả lãi hoặc nếu là lỗ thì số tiền
bị mất cũng không đáng kể). Thứ hai, tính thanh khoản chỉ khả
năng trả nợ của doanh nghiệp khi đến hạn. Và, thứ ba tính thanh
khoản liên quan đến khả năng vận hành trơn tru của thị trường
xét về khía cạnh các giao dịch mua và bán.

Khả năng trả nợ của doanh nghiệp và tính thanh khoản của
tài sản

Tính thanh của tài sản giao dịch ngoài tương tác với hoạt động
của thị trường còn ảnh hưởng


rất lớn đến tình hình hoạt động của doanh nghiệp, trực tiếp nhất
là khả năng trả nợ.

Có rất nhiều công thức cho phép xác định tương đối khả năng trả
nợ của doanh nghiệp, tuy nhiên công thức Tỉ lệ nợ rất đơn giản
và dễ hình dung.

Tỉ lệ nợ = Nợ phải trả (ngắn hạn và dài hạn)/Tổng tài sản

*
Nếu tỉ lệ nợ > 1 có nghĩa là doanh nghiệp đang nợ nhiều hơn số
tài sản mà mình có. Nếu công ty gặp phải tình trạng như thế này
sẽ rất khó để có thể thu hút được nhà đầu tư hoặc ngân hàng cho
vay tín dụng bởi vì rủi ro không trả được nợ của công ty là quá
lớn.
*
Nếu tỉ nợ < 1 có nghĩa rằng tổng tài sản của doanh nghiệp có khả
năng bù đắp được cho khoản nợ. Khi đó lại phải cân nhắc thêm
một số yếu tố khác.

Nếu tài sản của doanh nghiệp không thể chuyển thành tiền mặt
khi cần (tức là khả năng thanh khoản kém) thì doanh nghiệp
không có khả năng trả nợ khi đến hạn. Khả năng thanh khoản
kém không hẳn đồng nghĩa với vỡ nợ nếu về lâu dài tài sản vẫn
có khả năng bán đi được. Tuy vậy, rõ ràng hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi vì nợ quá hạn có thể còn
phải gánh lãi suất và tiền phạt do trả chậm. Rủi ro cao hơn xảy ra
nếu tài sản hoàn toàn không có tính thanh khoản, khi đó doanh
nghiệp không có tiền trả nợ và tất nhiên sẽ rơi vào tình trạng vỡ
nợ. Khoảng cách giữa vỡ nợ và phá sản chỉ là vấn đề thời gian,

bởi vì sau khi bị vỡ nợ doanh nghiệp hoặc các chủ nợ có thể nộp
đơn yêu cầu tòa án phá sản tuyên bố phá sản để thanh lý tài sản
trả nợ.

Từ các ngân hàng Việt Nam "vắt chân" lo tính thanh khoản…

Nhằm mục tiêu kiềm chế lạm phát ngày một leo thang, ngày
16/1/2008, Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam đã ký

×