Tải bản đầy đủ (.docx) (118 trang)

Hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới nhãn hiệu theo luật sở hữu trí tuệ năm 2005

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (397.54 KB, 118 trang )

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,
tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán
tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƢỜI CAM ĐOAN

NGUYỄN THỊ KIM LIÊN


MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU.............................................................................................................1
Chƣơng 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NHÃN HIỆU VÀ HÀNH VI
CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH LIÊN QUAN ĐẾN
NHÃN HIỆU THEO LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ NĂM 2005......................13
1.1

Khái quát chung về bảo hộ quyền Sở hữu công nghiệp đối với nhãn
hiệu....................................................................................................................13


1.1.1 Khái niệm nhãn hiệu và điều kiện bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối
với nhãn hiệu.....................................................................................................13
1.1.2 Căn cứ phát sinh quyền Sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.......................20
1.1.3 Thời hạn bảo hộ quyền Sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu........................24
1.1.4 Phạm vi độc quyền sử dụng nhãn hiệu..............................................................26
1.2

Pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn
hiệu....................................................................................................................28

1.2.1 Khái niệm và bản chất của hành vi cạnh tranh không lành mạnh.....................29
1.2.2 Hệ thống pháp luật điều chỉnh hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên
quan đến nhãn hiệu........................................................................................... 33
1.2.3 Xác định phạm vi điều chỉnh hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên
quan đến nhãn hiệu theo Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật Cạnh
tranh năm 2004..................................................................................................37
1.2.4 Ý nghĩa của sự điều chỉnh pháp luật chống lại các hành vi cạnh tranh
không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu........................................................43


Chƣơng 2: HÀNH VI CANḤ TRANH KHÔNG LÀNH MANḤ
LIÊN QUAN ĐẾN NHÃN HIỆU VÀ CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ VI
PHẠM THEO LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ NĂM 2005.................................47
2.1 Hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu..........................47
2.1.1 Hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn với nhãn hiệu....................47
2.1.1.1Khái niệm chỉ dẫn thương mại.........................................................................47
2.1.1.2Các dạng hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhẫm lẫn với nhãn
hiệu....................................................................................................................60
2.1.1.3Các yếu tố gây nhầm lẫn với nhãn hiệu........................................................... 67
2.1.2 Hành vi sử dụng nhãn hiệu được bảo hộ tại một nước là thành viên của

điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng là
thành viên khi không được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu..................... 69
2.1.3 Hành vi đăng kí, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc sử dụng tên miền trùng
hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu.......................................................75
2.1.4 Phân biệt hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hành vi xâm phạm
quyền hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu........................................................85
2.2

Các biện pháp xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến
nhãn hiệu...........................................................................................................90

2.2.1 Xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu
bằng biện pháp dân sự.......................................................................................92
2.2.2 Xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan nhãn hiệu bằng
biện pháp hành chính........................................................................................ 97
2.2.3 Xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu
bằng biện pháp hình sự..................................................................................... 99
2.2.4 Xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan nhãn hiệu bằng
biện pháp kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu......................................100


Chƣơng 3: THỰC TRẠNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH
MẠNH VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VỀ BẢO VỆ NHÃN HIỆU...............................................................102
3.1

Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu trong
bối cảnh hội nhập hiện nay............................................................................. 102

3.2


Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hành vi cạnh tranh
không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu......................................................109
KẾT LUẬN.................................................................................................... 116


DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
STT

Tên viết tắt

Nội dung

1

CDĐL

Chỉ dẫn địa lý

2

SHCN

Sở hữu công nghiệp

3

SHTT

Sở hữu trí tuệ

Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới
(World Intellectual Property
Organization)

4

WIPO


̀

MỞĐÂU
1.

Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh cạnh tranh hội nhập kinh tế toàn cầu hiện nay, vấn đề
bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trở nên đặc biệt quan trọng và được xem là một
nguyên tắc cơ bản trong sự vận động của nền kinh tế thế giới. Tài sản trí tuệ
chiếm vị trí quan trọng nhất đối với sự tăng trưởng của hầu hết các quốc gia
trên thế giới và Việt nam cũng không ngoại lệ. Từ khi trở thành thành viên
chính thức của Tổ chức thương mại Thế giới WTO và là thành viên của công
ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp từ ngày 08/03/1949, Việt Nam
có nghĩa vụ phải thực hiện đúng và đầy đủ các cam kết đó. Trong khi đó
những hiểu biết về luật sở hữu trí tuệ nói chung và bảo vệ quyền sở hữu công
nghiệp đối với nhãn hiệu nói riêng của chúng ta chưa đầy đủ. Chúng ta đang
đứng trước những cơ hội và thách thức rất lớn.
Trong nền kinh tế thị trường, các chủ thể kinh doanh luôn ra sức chạy đua
với nhau để tìm chỗ đứng, khẳng định vị thế trên thị trường. Cuộc cạnh tranh
khốc liệt đó tất yếu dẫn đến kết quả là sự thành công hay đổ vỡ của các doanh

nghiệp. Để tồn tại và phát triển các chủ thể kinh doanh thường bằng mọi cách
tìm ra những cách thức kinh doanh, tiếp thị nhằm quảng bá rộng rãi thương hiệu
và không ngừng mở rộng thị trường. Xuất phát từ giá trị thương mại to lớn của
nhãn hiệu, một số chủ thể kinh doanh không trung thực đã tìm mọi cách để
chiếm đoạt, sử dụng trái phép những thành quả đầu tư của đối thủ cạnh tranh
thông qua các hành vi dèm pha, hạ thấp uy tín của đối thủ cạnh tranh nhằm gây
cản trở đến hoạt động bình thường của họ. Những hành vi này vừa vi phạm pháp
luật cạnh tranh vừa vi phạm pháp luật sở hữu trí tuệ. Thực tế này đòi hỏi sự
nghiêm minh của pháp luật, muốn như vậy cần phải có sự phối


hợp chặt chẽ giữa pháp luật cạnh tranh và pháp luật sở hữu trí tuệ để tạo ra
một môi trường cạnh tranh lành mạnh, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.
Vấn đề cạnh tranh liên quan đến quyền Sở hữu công nghiệp được quy
định trong Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp năm 1883 tại
khoản 2, khoản 3 Điều 10bis và Hiệp định về các khía cạnh thương mại của
quyền sở hữu trí tuệ - Hiệp định TRIPS năm 1994 tại điều 8.2 và điều 40. Ở
Việt Nam, hành vi cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp lần đầu
tiên được quy định tại Nghị định 54/2000/NĐ-CP về bảo hộ quyền sở hữu
công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và bảo
hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới sở hữu công
nghiệp. Hiện nay, vấn đề cạnh tranh được điều chỉnh bởi nhiều văn bản khác
nhau như: Luật cạnh tranh năm 2004, Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi,
bổ sung năm 2009), Luật chuyển giao công nghệ năm 2007, Nghị định
116/2005/NĐ-CP ngày 15/9/2005 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành
một số điều của Luật cạnh tranh… Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng để
điều chỉnh các hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Tuy nhiên, mặc dù pháp
luật quy định tương đối đầy đủ song hiệu lực thực thi chưa cao, chế tài còn
nhẹ chưa đủ sức răn đe, do đó các hành vi cạnh tranh không lành mạnh của
các chủ thể kinh doanh thiếu trung thực vẫn diễn ra. Việc tìm hiểu các vấn đề

pháp lý và thực tiễn về hành vi hành cạnh tranh không lành mạnh liên quan
đến quyền Sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu không chỉ có ý nghĩa trong
việc bảo vệ nhãn hiệu – tài sản của các doanh nghiệp, bảo vệ quyền lợi của
người tiêu dùng mà còn tránh những ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển nói
chung của nền kinh tế Việt Nam. Vì các lí do trên đây mà tôi chọn đề tài:
“Hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới nhãn
hiệu theo Luật sở hữu trí tuệ năm 2005” làm đối tượng nghiên cứu trong
luận văn của mình.


2.

Mục đích và phạm vi nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu: thứ nhất, tìm hiểu các quy định của pháp luật
hiện hành về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền Sở
hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu; thứ hai, tìm hiểu thực trạng các hành vi vi
phạm diễn ra trên thực tế, qua đó tìm ra đâu là nguyên nhân và đâu là các vấn
đề còn tồn tại; thứ ba, trên cơ sở sự nghiên cứu mà đưa ra các kiến nghị nhằm
bổ khuyết cho hệ thống pháp luật hiện hành để hoàn thiện các quy định pháp
luật sở hữu trí tuệ về hành vi cạnh tranh không lành mạnh, về cơ chế xử lý
hành vi… góp phần giải quyết các vấn đề còn tồn tại và hạn chế tình trạnh
cạnh tranh không lành mạnh đang diễn ra trên thực tế hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu: Pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh trong
lĩnh vực sở hữu công nghiệp là một nội dụng rộng lớn và phức tạp. Nó liên
quan tới nhiều hệ thống văn bản pháp luật và chịu sự điều chỉnh của nhiều văn
bản pháp luật khác nhau như Luật Sở hữu trí tuê, Luật Cạnh tranh, Luật Hành
chính… Vì vậy, cùng với mục đích được đặt ra ở trên mà tại Luận văn này tôi
chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề về hành vi cạnh tranh không lành mạnh
đối với một đối tượng của quyền Sở hữu công nghiệp là nhãn hiệu mà thôi,

trên cơ sở sự nghiên cứu mà đưa ra các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả
thực thi trong lĩnh vực pháp luật hiện hành.
3.

Phƣơng pháp nghiên cứu

-

Phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp

Trong quá trình thực hiện, tôi sử dụng phương pháp phân tích, đánh giá
tổng hợp để đưa ra các nhận định cá nhân về các quy định pháp luật hiện hành
liên quan đến bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu và các quy
định về hành cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền Sở hữu công


nghiệp đối với nhãn hiệu nhằm góp phần hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật
Sở hữu trí tuệ Việt Nam.
-

Phương pháp so sánh

Để có thể đánh giá được một cách khách quan nhất các quy định của pháp
luật về cạnh tranh không lành mạnh đối với nhãn hiệu, trong Luận văn này tôi đã
sử dụng cả phương pháp so sánh đối chiếu. Phương pháp này được vận dụng rõ
nhất là trong việc so sánh các quy định của pháp luật hiện hành của nước ta với
các quy đinh tại các điều ước quốc tế cũng như pháp luật của một số quốc gia
trên thế giới trong cùng lĩnh vực. Từ đó rút ra các điểm tương đồng, khác biệt
cũng như các mặt mạnh hay các yếu điểm của hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ
Việt Nam nói chung và các quy định về cạnh tranh không lành mạnh liên quan

đến nhãn hiệu qua đó đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện.

4. Những đóng góp của luận văn
Luận văn mang lại một số kết quả nghiên cứu như sau:
-

Làm rõ hơn các quy định của pháp luật hiện hành về hành vi cạnh tranh
không lành mạnh đối với nhãn hiệu và đưa ra những đánh giá khách quan.

-

Phản ánh chân thực về những thiếu sót trong các quy định về cạnh tranh
không lành mạnh liên quan tới nhãn hiệu, thực trạng diễn ra các vi phạm
trên thực tế và thực trạng xử lý vi phạm cũng như hiệu quả của cơ chế thực
thi quyền Sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.
-

Đưa ra các kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật, tăng cường
hiệu quả thực thi cũng như việc xử lý các hành vi cạnh tranh không
lành mạnh liên quan đến quyền Sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.
5. Cơ cấu của Luận văn:
Luận văn này có các phần: mở đầu, nội dung chính và kết luận. Trong

đó thì phần nội dung chính có cơ cấu như sau:


Chương I: Khái quát chung về nhãn hiệu và pháp luật về cạnh tranh không
lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu theo Luật sở hữu trí tuệ năm
2005.
Chương II: Hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu và

các biện pháp xử lý vi phạm theo Luật sở hữu trí tuệ năm 2005.
Chương III. Thực trạng xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan
đến nhãn hiệu và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật.


Chƣơng 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NHÃN HIỆU VÀ HÀNH VI CẠNH TRANH
KHÔNG LÀNH MẠNH LIÊN QUAN ĐẾN NHÃN HIỆU THEO LUẬT
SỞ HỮU TRÍ TUỆ NĂM 2005
1.1

Khái quát chung về bảo hộ quyền Sở hữu công nghiệp đối với nhãn
hiệu

1.1.1 Khái niệm nhãn hiệu và điều kiện bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
đối với nhãn hiệu
Nhãn hiệu là một trong những đối tượng khá phổ biến của quyền sở
hữu công nghiệp trong cuộc sống hiện đại. Mặc dù nhãn hiệu không phải là
hàng hoá nhưng nó lại có ý nghĩa rất lớn trong thương mại. Chúng ta có thể
bắt gặp một nhãn hiệu ở bất kỳ nơi đâu thông qua truyền hình, hoạt động tiêu
dùng, trên đường về nhà, thậm chí bất kỳ nơi nào trong ngôi nhà của chúng ta.
Các sản phẩm mang nhãn hiệu Cola - cola, Omo, Trung Nguyên, P/S, v.v.
được chúng ta sử dụng khá thường xuyên trong sinh hoạt hằng ngày. Sự cạnh
tranh khốc liệt của nền kinh tế thị trường công nghiệp hoá hiện đại hoá đã cho
phép các nhà sản xuất đưa ra nhiều loại sản phẩm/ dịch vụ đa dạng về kiểu
dáng, chủng loại và chất lượng để người tiêu dùng lựa chọn. Cạnh tranh là
một yếu tố không thể thiếu trong kinh doanh, nó là động lực thúc đẩy nền
kinh tế phát triển. Tuy nhiên, sự phát triển mạnh mẽ của thị trường cũng làm
xuất hiện những mặt trái của nó, một số chủ thể kinh doanh thiếu trung thực
bằng cách sử dụng nhãn hiệu có uy tín của đối thủ cạnh tranh hòng làm cho

người tiêu dùng bị nhầm lẫn khi mua sản phẩm nếu không chú ý kỹ: các sản
phẩm Pin của hãng SONY bị nhái lại nhãn hiệu thành SQNY, PUMA bị nhái
thành PAMU, NIKE bị nhái thành HIKE…, hiện nay trên thị trường có đến


khoảng hơn mười loại thuốc nhái Panadol như: Pancidol, Panactol, Befadol
Therpamol, Therodol… [11]. Các nhãn hiệu bị lợi dụng để nhái lại, làm giả
thường là các nhãn hiệu đã tạo được thương hiệu, chỗ đứng trong lòng người
tiêu dùng. Điều này không những gây thiệt hại rất lớn về kinh tế cho các
doanh nghiệp chân chính mà còn gây ra các vấn đề nghiêm trọng đối với sức
khỏe cho người tiêu dùng nếu đó là các sản phẩm về thuốc, dược phẩm, thực
phẩm mà không đạt chuẩn chất lượng.
Pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia luôn coi trọng việc bảo hộ nhãn
hiệu chống lại các hành vi xâm phạm quyền và hành vi cạnh tranh không lành
mạnh. Cho đến nay đã có khá nhiều các điều ước quốc tế song phương và đa
phương điều chỉnh các vấn đề liên quan đến quyền Sở hữu công nghiệp đối
với nhãn hiệu như: Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp được ký kết
ngày 20.3.1883 tại Paris, Hệ thống Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu,
Hiệp định TRIPs - Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của
quyền sở hữu trí tuệ ( sau đây cụm từ “Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công
nghiệp” được gọi tắt là “Công ước Paris”, cụm từ “Hiệp định TRIPs - Hiệp
định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ” được
gọi tắt là “Hiệp định TRIPs”, cụm từ “Hệ thống Madrid về đăng ký quốc tế
nhãn hiệu” được gọi tắt là “Hệ thống Madrid”). Tại Công ước Paris chưa đưa
ra khái niệm nhãn hiệu mà chỉ quy định các điều khoản liên quan đến việc bảo
hộ các đối tượng SHCN, Hệ thống Madrid thì thiết lập hệ thống quốc tế về
đăng ký bảo hộ nhãn hiệu. Trong các điều ước quốc tế thì chỉ có Hiệp định
TRIPs đã có quy định về khái niệm nhãn hiệu. Điều 15 Hiệp định TRIPs quy
định như sau: “Bất kỳ một dấu hiệu hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào, có khả
năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hoá

hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác đều có thể làm nhãn hiệu. Các dấu
hiệu đó, đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố


hình học và tổ hợp các mầu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó
phải có khả năng được đăng ký làm nhãn hiệu” [32].
Theo khái niệm này thì nhãn hiệu phải là một dấu hiệu hoặc tổ hợp các
dấu hiệu. Hiệp định TRIPs quy định nhãn hiệu là “bất kỳ dấu hiệu nào” khiến
nó trở nên khái quát hơn, mềm dẻo và linh hoạt hơn. Các dấu hiệu đó có thể là
dấu hiệu nhìn thấy được, cũng có thể là bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng được
đăng ký là nhãn hiệu. Các dấu hiệu đó phải có khả năng phân biệt hàng hoá/
dịch vụ của một doanh nghiệp này với hàng hoá/ dịch vụ của một doanh
nghiệp khác. Khái niệm nhãn hiệu tại Hiệp định TRIPs đã trở thành nguyên
tắc chuẩn mực, nó mang tính mềm dẻo, linh hoạt trong pháp luật quốc tế. Tại
pháp luật của các quốc gia, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện kinh tế – xã
hội của mình mà đưa ra khái niệm nhãn hiệu phù hợp.
Tại Châu Âu, xuất phát từ đặc điểm là một cộng đồng chung mà Luật
về nhãn hiệu đưa ra khái niệm “nhãn hiệu cộng đồng”. Khái niệm “nhãn hiệu
cộng đồng” được quy định ở điều 2, 89/104/EEC3 như sau: Một nhãn hiệu
cộng đồng có thể gồm bất kỳ dấu hiệu nào được trình bày một cách rõ ràng
và chi tiết, đặc biệt là các từ, bao gồm tên riêng, các phác hoạ hình ảnh, chữ
viết, chữ số, hình dáng của hàng hoá hoặc của bao bì sản phẩm, với điều kiện
là những dấu hiệu đó phải có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của
chủ thể kinh doanh này với hàng hoá, dịch vụ của các chủ thể kinh doanh
khác [24].
Cũng giống như quy định tại Hiệp định TRIPs, việc sử dụng từ “bất kỳ
dấu hiệu nào” của Luật về nhãn hiệu của Châu Âu làm cho khái niệm nhãn
hiệu mềm dẻo và không giới hạn, trong đó khả năng phân biệt cũng được coi
là điều kiện cơ bản và bắt buộc nếu một dấu hiệu muốn được đăng ký là nhãn
hiệu. Tuy nhiên, khác với khái niệm được quy định trong Hiệp định TRIPs là

không mô tả cách thức trình bày của một nhãn hiệu, thì mục đích của điều


kiện này trong Luật về nhãn hiệu của Châu Âu là nhằm chỉ ra nhãn hiệu là gì
hay được nhận thức như thế nào.
Theo Luật nhãn hiệu của Hoa Kỳ đoạn 1127 Lanham Act, nhãn hiệu
hàng hoá được giải thích như sau: “Thuật ngữ nhãn hiệu hàng hóa bao gồm
bất kỳ từ, tên gọi, biểu tượng hay hình vẽ hoặc sự kết hợp giữa chúng mà:
(1)
(2)

được sử dụng bởi một người, hoặc

được một người có ý định chân thành là sử dụng nó trong thương mại
và xin đăng ký theo quy định tại luật này để xác định và phân biệt hàng
hoá của người đó, bao gồm cả các hàng hóa đặc chủng, với hàng hoá
được sản xuất hoặc được bán bởi những người khác và chỉ ra nguồn
gốc của hàng hoá thậm chí cả khi không xác định được nguồn gốc đó.
[19,24].
Luật nhãn hiệu Hoa Kỳ coi trọng việc sử dụng trước một nhãn hiệu của

chủ thể: “được sử dụng bởi một người, hoặc được một người có ý định chân
thành là sử dụng nó trong thương mại” và ghi nhận nguyên tắc “ quyền ưu
tiên sử dụng” ( first to use)”. Quy định trên kết hợp hai chức năng khác nhau
của nhãn hiệu: thứ nhất, chỉ ra nguồn gốc của hàng hoá; thứ hai, phân biệt
hàng hoá của chủ thể này với hàng hoá của chủ thể khác. Mục 1052 đạo luật
Lanham quy định một nhãn hiệu sẽ được đăng ký vào Hệ thống đăng ký gốc
nếu nó có khả năng phân biệt hàng hoá của chủ thể này với hàng hoá của chủ
thể khác trừ khi nó bị ngăn cấm bởi các quy định của pháp luật: “Không có
nhãn hiệu nào mà hàng hoá của người nộp đơn có khả năng phân biệt với

hàng hoá của những người khác lại bị từ chối đăng ký vào hệ thống đăng bạ
gốc, trừ…” [19]. Như vậy, theo tinh thần của điều luật này, bất kỳ dấu hiệu
nào có khả năng phân biệt không rơi vào các trường hợp bị từ chối đều có thể
được đăng ký là nhãn hiệu.


Cho đến nay, Việt Nam là một thành viên của nhiều thoả thuận quốc tế
về nhãn hiệu, trước khi có Luật Sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu trí tuệ được quy
định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như: Bộ luật Dân sự, Nghị định,
Thông tư hướng dẫn, thậm chí bởi rất nhiều các quyết định của Cục SHTT.
Luật SHTT năm 2005 là một đạo luật chuyên ngành đầu tiên của Việt Nam về
quyền SHTT trên cơ sở pháp điển hoá các quy định của pháp luật về SHTT đã
được ban hành từ trước. Trong Luật SHTT của Việt Nam khái niệm nhãn hiệu
được quy định trong phần giải thích từ ngữ: “nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để
phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau” [28]. Tuy
nhiên, không phải bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng phân biệt cũng có thể trở
thành nhãn hiệu, điều kiện chung đối với nhãn hiệu được bảo hộ được quy
định tại điều 72 Luật SHTT như sau: “Nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng
các điều kiện sau đây:1- Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ
ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó,
được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc; 2- Có khả năng phân biệt hàng
hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể
khác” [28].
Hiệp địnhTRIPs và Luật nhãn hiệu của Châu Âu có quy định mở hơn
đối với các dấu hiệu có thể làm nhãn hiệu là “bất kỳ dấu hiệu nào” có khả
năng phân biệt chứ không chỉ bó hẹp ở các dấu hiệu nhìn thấy được. So với
các khái niệm nhãn hiệu được quy định tại Hiệp địnhTRIPs và Luật nhãn hiệu
của Châu Âu thì khái niệm của Luật SHTT 2005 ít mềm dẻo linh hoạt hơn chỉ
chấp nhận các dấu hiệu nhìn thấy được bằng thị giác như chữc cái, số học:
Bitis, Songhong, Songlong, Pico, Bia 333… Điều này có nghĩa là các dấu

hiệu như âm thanh, mùi vị không thể được đăng ký là nhãn hiệu. Với tốc độ
hội nhập kinh tế hiện nay và trình độ dân trí ngày một phát triển, thiết nghĩ
cần phải quy định mở rộng hơn khái niệm về nhãn hiệu là “bất kỳ dấu hiệu


nào…”. Như vậy pháp luật sẽ trở nên mềm dẻo hơn, áp dụng linh hoạt hơn
trong mọi tình huống.
Trên thực tế, tại các nước phát triển có rất nhiều các dấu hiệu khác biệt
không nằm trong các dấu hiệu được liệt kê và vẫn được đăng ký. Mặc dù
không được quy định cụ thể nhưng dấu hiệu có thể bao gồm cả khẩu hiệu, âm
thanh, mùi vị… Một nhãn hiệu thông thường được phân biệt bằng thị giác
nhưng cũng có thể được nhận thức bởi một hay vài giác quan khác như thính
giác, khứu giác, chẳng hạn như nhãn hiệu mùi. Mùi được coi là nhạy cảm nhất
và hiệu quả lâu dài nhất đối với các giác quan và nếu được sử dụng hiệu quả
nó có thể tác động đến tiềm thức cũng như trạng thái của con người. Nhãn
hiệu mùi cỏ tươi mới cắt cho bóng tenis đã được bảo hộ quyền SHCN tại
Châu Âu, để được bảo hộ họ lập luận rằng: mùi cỏ tươi mới cắt là một mùi có
khả năng phân biệt mà ai cũng nhận ra ngay lập tức nhờ sự trải nghiệm của
mình và với nhiều người, mùi hoặc hương của cỏ mới cắt gợi nhớ về mùa
xuân, hoặc mùa hè, về cánh đồng cỏ mới cắt, sân chơi hoặc những trải nghiệm
thú vị tương tự. Tại Anh, ngay sau khi có sự thay đổi về luật, một số đơn đã
được nộp để đăng ký cho nhãn hiệu mùi, nhãn hiệu âm thanh như: "mùi hoa
hồng" cho các sản phẩm lốp xe (Đơn số 20011416), "mùi bia" cho phi tiêu,
nhãn hiệu âm thanh là tiếng bíp bíp cho phương tiện truyền thanh, ánh sáng
của một chương trình truyền hình giải trí, hệ thống tín hiệu của chương trình
phát thanh truyền hình…[33]. Luật nhãn hiệu Hoa Kỳ đã mở rộng bảo vệ các
loại nhãn hiệu không dễ dàng được nhận ra, chẳng hạn như hình dạng sản
phẩm, mầu sắc, âm thanh, mùi thơm… Hoa kỳ là quốc gia đầu tiên công nhận
viêc đăng ký nhãn hiệu mùi vị - mùi thơm tươi mát của nước hoa PLUMERIA
dùng cho chỉ may và thêu ren vào năm 1990 [33]. Trên thực tế, các nhãn hiệu

mùi vị, âm thanh không phải là nhãn hiệu phổ biến và ít được các doanh
nghiệp sử dụng bởi khả năng phân biệt thấp, trong quá trình đăng


ký các nhãn hiệu này gặp phải một số vấn đề về kỹ thuật như việc khó lưu trữ,
truyền tải và công bố nhãn hiệu. Hiện nay nhãn hiệu từ ngữ dường như chiếm
ưu thế hơn cả do sự dễ dàng phân biệt bằng thị giác, sự thể hiện một cách
chính xác, tinh tế đặc tính của hàng hóa/ dịch vụ và khả năng truyền tải thông
tin của nó đến người tiêu dùng.
Cũng giống như quy định tại các điều ước quốc tế và pháp luật các
nước trên thế giới thì Luật SHTT 2005 coi khả năng phân biệt là điều kiện bắt
buộc của nhãn hiệu. Một dấu hiệu nếu không có khả năng phân biệt thì không
thể thực hiện được chức năng làm nhãn hiệu và dấu hiệu đó sẽ bị từ chối đăng
ký. Khả năng phân biệt của nhãn hiệu được quy định khá cụ thể trong điều 74
Luật SHTT, một nhãn hiệu được coi là khác biệt với các dấu hiệu khác nếu:
được tạo thành từ một hoặc một số yếu tố dễ nhận biết, dễ ghi nhớ hoặc từ
nhiều yếu tố kết hợp thành một tổng thể dễ nhận biết, dễ ghi nhớ và không
“trùng” hay “tương tự tới mức gây nhầm lẫn” với một dấu hiệu đã được đăng
ký hay nộp đơn đăng ký bảo hộ, có ngày ưu tiên sớm hơn, đang được sử dụng
rộng rãi, hay hết hiệu lực song không quá 05 năm trừ trường hợp bị đình chỉ
do không sử dụng [28]. Các trường hợp sau được coi là tương tự tới mức gây
nhầm lẫn: thứ nhất, trùng dấu hiệu, tương tự về sản phẩm: bột canh GIA PHÚ
và hạt nêm GIA PHÚ. Hai dấu hiệu này bị trùng về cấu tạo, màu sắc, ý nghĩa,
cách phát âm; thứ hai, tương tự dấu hiệu, trùng sản phẩm: SONY và SQNY
cho sản phẩm Pin máy ảnh (như ví dụ ở trên). Hai sản phẩm Pin máy ảnh này
trùng (giống nhau) tới mức không phân biệt được về sản phẩm, về mặt dấu
hiệu có cấu tạo, cách trình bày, màu sắc tương tự đến mức không dễ dàng
phân biệt được nếu không thực sự quan sát kỹ.
Một dấu hiệu sẽ không được bảo hộ quyền SHCN khi không có khả
năng phân biệt, nếu các dấu hiệu này là dấu hiệu thông dụng như: chữ cái, con

số, hình học cơ bản, tên gọi chung, hay các dấu hiệu chỉ chủng loại, chất


lượng, phương pháp đo lường sản phẩm… [28, 33]. Thí dụ hình tam giác
không thể được đăng ký cho sản phẩm dụng cụ hình học hay hình quả táo
không thể được đăng ký cho sản phẩm nước ép táo. Trong một sô trường hợp,
các dấu hiệu này có thể được bảo hộ nếu được sử dụng lâu dài, có được thừa
nhận rộng rãi coi là nhãn hiệu nổi tiếng như hình tam giác được sử dụng cho
nhãn hiệu bia BASS, hình quả táo bị cắn của hãng APPLE thể hiện được sự
độc đáo khác biệt cho sản phẩm là máy tính [33]. Bên cạnh đó thì một số dấu
hiệu khác sẽ bị từ chối đăng ký dưới dạng nhãn hiệu do xuất phát từ lợi ích
công cộng nếu dấu hiệu đó mang tính chất lừa dối, trái với đạo đức xã hội,
dấu hiệu dẫn chiếu tới xuất xứ địa lý khiến người tiêu dùng nhầm lẫn, dấu
hiệu sử dụng riêng cho quốc gia (lá cờ, quốc hiệu), tên các cơ quan công
quyền hoặc tổ chức quốc tế…[28]
Cả luật Việt Nam, luật Châu Âu và luật Hoa Kỳ tuy có sự khác nhau
khi quy định về dấu hiệu được bảo hộ là nhãn hiệu nhưng nhìn chung là phù
hợp với pháp luật quốc tế, đều giống nhau ở cách tiếp cận là dựa trên chức
năng phân biệt để đưa ra khái niệm nhãn hiệu, coi khả năng phân biệt luôn
luôn là đặc điểm cơ bản và là điều kiện bắt buộc của bất kỳ dấu hiệu nào
muốn được công nhận là nhãn hiệu. Bất kỳ dấu hiệu nào không thoả mãn điều
kiện này đều không thể được đăng ký và được bảo hộ quyền SHCN dưới dạng
nhãn hiệu.
1.1.2 Căn cứ phát sinh quyền Sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu
Một nhãn hiệu có thể được bảo hộ dựa trên cơ sở việc sử dụng (nhãn
hiệu nổi tiếng) hoặc đăng ký (nhãn hiệu thông thường). Cả hai cách tiếp cận
này đã được kết hợp với nhau trong hệ thống bảo hộ nhãn hiệu của các quốc
gia nhưng thực tế áp dụng không giống nhau. Công ước Paris buộc các nước
thành viên có nghĩa vụ phải thiết lập đăng ký nhãn hiệu hàng hóa. Hầu hết các



quốc gia đặc biệt là Châu Âu đều quy định về việc đăng ký nhãn hiệu và việc
bảo hộ nhãn hiệu một cách đầy đủ chỉ được đảm bảo đích đáng thông qua việc
đăng ký [1]. Tuy nhiên, việc sử dụng vẫn giữ vai trò quan trọng tại các nước
mà việc bảo hộ nhãn hiệu có truyền thống căn cứ vào việc sử dụng mà tiêu
biểu là Hoa kỳ. Theo đó, việc đăng ký chỉ nhằm khẳng định quyền đối với
nhãn hiệu đã được thông qua sử dụng mà thôi. Vì vậy mà khi xảy ra tranh
chấp, người sử dụng nhãn hiệu đầu tiên sẽ được ưu tiên trong các vụ tranh
chấp chứ không phải là người đầu tiên đăng ký nhãn hiệu [19]..
Việt Nam là nước áp dụng nguyên tắc nộp đơn đầu tiên, theo đó nếu có
hai chủ thể trở lên đều nộp đơn yêu cầu cấp giấy chứng nhận đăng ký với
cùng một nhãn hiệu cho cùng loại sản phẩm, dịch vụ thì người nộp đơn sớm
nhất sẽ được cấp Giấy chứng nhân đăng ký nhãn hiệu hàng hóa. Để được bảo
hộ, chủ sở hữu nhãn hiệu phải đăng ký tại Cục Sở hữu trí tuệ là cơ quan trực
thuộc Bộ khoa học và công nghệ. Văn bằng bảo hộ được gọi là giấy chứng
nhận đăng ký nhãn hiệu. Chỉ có văn bằng do Cục Sở hữu trí tuệ cấp mới có
giá trị thể hiện sự bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu, ngoài ra các bằng
khen, giấy chứng nhận chất lượng sản phẩm … đều không có giá trị bảo hộ
[28].
Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nổi tiếng được bảo hộ tự
động, do đó mà không cần có bất cứ một thủ tục đăng kí nào như nhãn hiệu
thông thường theo điều 6 bis công ước Paris; khoản 2, điều 6, Nghị định
103/2006/NĐ-CP - Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của
Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp [1,2]. Nhãn hiệu nổi tiếng được bảo
hộ dựa trên chính danh tiếng của nó chứ không dựa trên cơ sở đăng kí. Đây là
một trong những đặc trưng cơ bản và khác biệt nhất của việc bảo hộ quyền sở
hữu công nghiệp giữa nhãn hiệu nổi tiếng và nhãn hiệu thường. Trong trường
hợp chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng phát hiện ra rằng có dấu



hiệu xâm phạm thì có thể nộp đơn yêu cầu Cục sở hữu trí tuệ công nhận là
nhãn hiệu nổi tiếng. Cục sở hữu trí tuệ sẽ trên cơ sở các tiêu chí được quy
định tại điều 75 Luật sở hữu trí tuệ mà ra quyết định công nhận nhãn hiệu đó
là nhãn hiệu nổi tiếng. Trên cơ sở quyết định công nhận nhãn hiệu nổi tiếng,
chủ sở hữu có thể yêu cầu người có hành vi xâm phạm chấm dứt hành vi xâm
phạm [28].
Hiện nay, Việt Nam đã là thành viên của các công ước quốc tế, vì vậy
mà Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu quốc tế do Tổ chức sở hữu trí tuệ Thế
giới (WIPO) cấp theo thỏa ước Madrid cho các nhãn hiệu nước có đăng ký
bảo hộ tại Việt Nam theo quy chế thỏa ước Madrid thì cũng được bảo hộ tại
Việt Nam. Theo quy định của pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu, một nhãn hiệu
được đăng ký tại Việt Nam thì chỉ được bảo hộ trên phạm vi toàn lãnh thổ
Việt Nam và không đương nhiên được bảo hộ ở nước ngoài. Đối với các nước
EU thì chủ sở hữu có thể đăng ký bảo hộ nhãn hiệu của mình tại các nước này
thông qua việc đăng ký bảo hộ tại EU theo thể thức CTM (The Community
Trade Mark – nhãn hiệu cộng đồng). Để được đăng ký nhãn hiệu theo thỏa
ước Madrid, nhãn hiệu nhất thiết phải được cấp Giấy chứng nhận đăng ký
nhãn hiệu tại Việt Nam trước khi làm thủ tục đăng ký theo văn kiện Thỏa ước
Madrid. Đơn đăng ký quốc tế nhãn hiệu được nộp cho Văn phòng quốc tế
thông qua Cục Sở hữu trí tuệ. Ngày Cục Sở hữu trí tuệ nhận được Đơn sẽ
được coi là ngày nhận Đơn tại Văn phòng quốc tế nếu Văn phòng quốc tế
nhận được Đơn trong vòng 2 tháng kể từ ngày đó. Sau khi Đơn được nộp cho
Văn phòng quốc tế, mọi giao dịch giữa người nộp đơn và Văn phòng quốc tế
đều phải thông qua Cục Sở hữu trí tuệ. Văn phòng quốc tế sẽ công bố đơn
đăng ký nhãn hiệu và chỉ rõ những nước thành viên mà chủ đơn yêu cầu đăng
ký nhãn hiệu (nước được chỉ định). Nước được chỉ định phải xem xét chấp
nhận hay từ chối cấp Giấy đăng ký nhãn hiệu trong thời hạn 1 năm. Nếu sau 1


năm nước được chỉ định không có ý kiến, thì nhãn hiệu được coi như được

chấp nhận bảo hộ ở nước đó. Kể từ ngày 11/07/2006, Việt Nam tham gia Nghị
định thư Madrid, tổ chức cá nhân Việt nam có thể nộp đơn quốc tế theo Thỏa
ước Madrid để yêu cầu bảo hộ tại các nước là thành viên của Thỏa ước, và có
thể nộp đơn quốc tế theo Nghị định thư Madrid để yêu cầu bảo hộ tại các
nước không phải là thành viên của Thỏa ước nhưng là thành viên của Nghị
định thư. Nghị định thư Madrid không thay thế mà cùng tồn tại với Thỏa ước
Madrid. Đăng ký theo Nghị định thư có điều kiện thuận lợi hơn so với đăng
ký theo văn kiện thỏa ước. Thứ nhất, người nộp đơn có thể nộp đơn đăng ký
quốc tế theo Nghị định thư ngay sau khi nộp đơn đăng ký nhãn hiệu


Việt Nam, mà không bắt buộc phải đợi đến thời điểm nhãn hiệu đó được cấp
Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu tại Việt Nam; thứ hai, người nộp đơn có
thể nộp đơn đăng ký nhãn hiệu quốc gia tại các nước được chỉ định để chuyển
đổi đăng ký quốc tế thành đăng ký quốc gia trong thời hạn 03 tháng kể từ
ngày đăng ký quốc tế theo Nghị định thư bị mất hiệu lực do đơn đăng ký nhãn
hiệu hoặc Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu tương ứng ở Việt Nam bị mất
hiệu lực và trong trường hợp đó các đơn xin chuyển đổi đăng ký nhãn hiệu
vào từng quốc gia được giữ nguyên ngày nộp đơn, ngày ưu tiên (nếu có) của
đơn đăng ký quốc tế; thứ ba, Nghị định thư cho phép chọn sử dụng tiếng Pháp
hoặc tiếng Anh trong đơn đăng ký Quốc tế thay vì chỉ sử dụng tiếng Pháp như
Thỏa ước [14,34] .
Kể từ thời điểm nhãn hiệu được cấp văn bằng bảo hộ tại Việt Nam hoặc
tại quốc gia thành viên của Công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia thì chủ
sở hữu nhãn hiệu có quyền độc quyền sử dụng và ngăn chặn các hành vi sử
dụng trái phép nhãn hiệu của mình cho các sản phẩm, dịch vụ tương tự gây
nhầm lẫn cho người tiêu dùng và công chúng. Đây là bản chất độc quyền mà
chủ sở hữu nhãn hiệu có được thông qua đăng ký.



1.1.3 Thời hạn bảo hộ quyền Sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu
Việc bảo hộ nhãn hiệu không trao độc quyền sở hữu nhãn hiệu một
cách vô thời hạn cho chủ sở hữu trừ trường hợp đó là nhãn hiệu nổi tiếng.
Luật nhãn hiệu thường quy định thời hạn của văn bằng bảo hộ nhãn hiệu trong
một khoảng thời gian nhất định, và văn bằng bảo hộ có thể được gia hạn khi
hết thời hạn bảo hộ. Việc gia hạn thời hạn bảo hộ xuất phát từ nhiều mục đích
khác nhau: thứ nhất, nếu không đặt ra một thời hạn nhất định sẽ dẫn tới việc
tăng một cách không mong muốn số lượng nhãn hiệu không còn hữu ích cho
chủ sở hữu nữa, việc loại bớt các nhãn hiệu đó khỏi đăng bạ làm giảm thiểu
đáng số lượng nhãn hiệu vô dụng tạo điều kiện cho các chủ thể khác đăng ký
nhãn hiệu mới; thứ hai, một lý do chính đáng cho việc gia hạn này là cơ quan
đăng ký có thể thu một khoản lệ phí và đây là một nguồn thu cần thiết; thứ
ba, việc yêu cầu gia hạn và thanh toán lệ phí là cơ hội cho phép chủ sở hữu
nhãn hiệu cân nhắc rằng nhãn hiệu đó có đáng để gia hạn đăng ký hay không,
việc sử dụng có thực sự là cần thiết nữa không. Một số trường hợp chủ sở hữu
nhãn hiệu muốn thay đổi cách thiết kế đồ họa, màu sắc, cấu tạo, thêm dấu
hiệu vào nhãn hiệu thì việc gia hạn thời hạn sẽ tạo điều kiện cho chủ sở hữu
thực hiện ý tưởng một cách thuận lợi, thay vì phải dùng cùng lúc nhiều nhãn
hiệu gây ra các hiệu ứng ngược chiều. Bên cạnh đó, nếu chủ sở hữu nhãn hiệu
muốn giới hạn bớt lại danh mục hàng hóa, dịch vụ trong đăng ký nguyên gốc
thì có thể tiết kiệm chi phí đáng kể [28,33]. Vì các lý do trên mà việc đăng ký
bảo hộ đối với nhãn hiệu chỉ có hiệu lực trong một thời hạn nhất định. Giấy
chứng nhận đăng kí nhãn hiệu có hiệu lực kể từ ngày cấp đến hết mười năm
kể từ ngày nộp đơn, có thể gia hạn nhiều lần liên tiếp, mỗi lần muời năm. Nếu
chủ sở hữu không gia hạn đăng ký nhãn hiệu của mình, mà thể hiện là sự
không thanh toán lệ phí gia hạn khi Giấy chứng nhận đăng kí nhãn hiệu hết
hiệu lực thì đăng ký nhãn hiệu đó bị loại khỏi đăng bạ hoặc chủ


sở hữu có thể từ bỏ quyền của mình với nhãn hiệu bằng cách tuyên bố cho

công chúng biết về việc không sử dụng nhãn hiệu nữa hay nếu chủ sở hữu
nhãn hiệu không còn tồn tại hoặc không còn hoạt động kinh doanh nữa mà
không có người thừa kế hợp pháp thì ngay cả khi Giấy chứng nhận đăng kí
nhãn hiệu còn hiệu lực thì cũng bị đưa vào trường hợp chấm dứt hiệu lực và
loại khỏi đăng bạ theo khoản 1, điều 95 Luật SHTT 2005. Kể từ thời điểm
chấm dứt hiệu lực bảo hộ, chủ sở hữu nhãn hiệu sẽ mất quyền độc quyền khai
thác, sử dụng nhãn hiệu và nhãn hiệu sẽ trở thành của công chúng [28]..
Mặc dù luật về nhãn hiệu thường không quy định việc chủ sở hữu phải
sử dụng nhãn hiệu như một điều kiện để đăng ký nhưng sẽ là thiếu sót, kẽ hở
pháp luật nếu như không đặt ra nghĩa vụ sử dụng. Nếu không đặt ra nghĩa vụ
sử dụng thì những nhãn hiệu đã đăng ký mà không sử dụng sẽ là một cản trở
đối với việc đăng ký các nhãn hiệu mới. Trong một số trường hợp đối thủ
cạnh tranh có thể nộp đơn đăng ký nhãn hiệu tại các quốc gia nước ngoài mà
chủ sở hữu nhãn hiệu dự định sử dụng với dụng ý ngăn cản việc chủ sở hữu
thực hiện việc đăng ký và bán sản phẩm mang nhãn hiệu hoặc nhằm thu lợi từ
việc đăng ký nhãn hiệu rồi bán lại. Hành vi này có thể coi là lạm dụng quyền
đối với nhãn hiệu không sử dụng. Do đó, hậu quả của việc không sử dụng
nhãn hiệu liên tục trong vòng 5 năm trước ngày có yêu cầu chấm dứt hiệu lực
mà không có lý do chính đáng thì đăng ký có thể bị yêu cầu hủy bỏ theo yêu
cầu của bất kỳ cơ quan hữu quan nào trừ trường hợp việc sử dụng được bắt
đầu hoặc bắt đầu lại trước ít nhất ba tháng tính đến ngày có yêu cầu chấm dứt
hiệu lực. Trường hợp chủ sở hữu nhãn hiệu muốn tiếp tục sở hữu nhãn hiệu
phải chứng minh được việc sử dụng của mình, hay đưa ra được lý do chính
đáng, lý do bất khả kháng cho việc không sử dụng. Bởi lẽ, điều này là khó
khăn với bên thứ ba cho việc chứng minh việc không sử dụng hoặc lý do
không sử dụng không chính đáng, việc hoán đổi trách nhiệm chứng mình như


vậy là hợp lý. Nếu chủ sở hữu không biện minh được cho việc không sử dụng
thì đăng ký sẽ bị hủy, hoặc nếu chỉ chứng minh được việc sử dụng đối với một

số hàng hóa, dịch vụ nhất định thì đăng ký có thể bị hủy bỏ hiệu lực từng
phần. Kể từ thời điểm đăng ký bị mất hiệu lực, chủ sở hữu nhãn hiểu sẽ không
còn độc quyền khai thác, sử dụng nhãn hiệu mà nó sẽ thuộc về công chúng
[28,33].
1.1.4 Phạm vi độc quyền sử dụng nhãn hiệu
Chức năng cơ bản của nhãn hiệu là dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ
của chủ thể này với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác. Chủ sở hữu được độc
quyền sử dụng nhãn hiệu trên loại hàng hóa/ dịch vụ mà mình đăng ký. Quyền
sử dụng của chủ sở hữu bao gồm: gắn nhãn hiệu được bảo hộ lên sản phẩm
của mình, tàng trữ, lưu thông, bán, nhập khẩu, quảng bá hàng hóa mang nhãn
hiệu trên thị trường, trên giấy tờ kinh doanh, tài liệu giao dịch… Phạm vi bảo
hộ đối với nhãn hiệu được mở rộng không chỉ cho nhãn hiệu giống nhãn hiệu
được mô tả trong Giấy chứng nhận đăng kí nhãn hiệu mà còn cho nhãn hiệu
tương tự tới mức gây nhầm lẫn đối với các hàng hóa, dịch vụ cùng loại và
tương tự. Do đó mà khi đăng ký bảo hộ nhãn hiệu, chủ sở hữu cần phải mô tả
kỹ những đặc điểm nổi bật của nhãn hiệu để xác định rõ nhãn hiệu được bảo
hộ trong phạm vi đối với các loại sản phẩm, dịch vụ nào. Qua đó, chủ sở hữu
có thể ngăn chặn việc sử dụng nhãn hiệu trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn
với nhãn hiệu của mình của đối thủ cạnh tranh. Chủ sở hữu có quyền phản đối
các chủ thể khác sử dụng, gắn nhãn hiệu đã được bảo hộ của mình cho các
hàng hóa/ dịch vụ cùng loại hoăc tương tự, chào bán những hàng hóa mang
nhãn hiệu đó trên thị truờng.
Tuy nhiên, không phải chủ sở hữu được độc quyền sử dụng nhãn hiệu
và ngăn chặn việc sử dụng trong mọi trường hợp. Một số hành vi sau được coi


là hợp pháp, ai cũng có thể sử dụng nhãn hiệu mà không cần phải xin phép
chủ sở hữu: thứ nhất: khi chủ sở hữu bán sản phẩm mang nhãn hiệu được bảo
hộ trên thị trường, tất yếu sẽ có sự phân phối giữa các đại lý, cửa hàng ở khắp
nơi, chủ sở hữu không thể cản trở việc bán lại sản phẩm đó giữa các chủ thể

khác. Một người nhập khẩu loại kem dưỡng da NIVEA của Đức và bán sản
phẩm của mình tại Việt Nam mà không cần xin phép người đại diện, đại lý
của nhãn hiệu NIVEA tại Việt Nam. Đây là bản chất của nguyên tắc nhập
khẩu song song. Ngoại trừ khía cạnh đặc biệt của nhập khẩu song song hàng
hóa được đưa ra bán lần đầu tiên tại nước ngoài, nguyên tắc sử dụng hết
quyền với nhãn hiệu được áp dụng đương nhiên ở trong nước. Thí dụ: một
người mua sản phẩm thuốc lá Thăng Long tại Hà Nội có thể đem bán chính
sản phẩm này tại Đà Nẵng mà không phải xin phép chủ sở hữu. Tuy nhiên,
nguyên tắc này chỉ áp dụng đối với riêng quyền đưa vào lưu thông sản phẩm
mà thôi. Độc quyền của chủ sở hữu trong việc gắn nhãn hiệu đó trên hàng
hóa, bao bì… vẫn tồn tại. Điều đó đồng nghĩa với việc chủ sở hữu có quyền
ngăn cản các hành vi vi phạm như: loại bỏ nhãn hiệu trên hàng hóa, đóng gói
lại, thay đổi mẫu mã sản phẩm…; thứ hai, việc sử dụng nhãn hiệu không được
coi là vi phạm nếu không có dụng ý xấu và không nhằm mục đích thương
mại. Các chủ thể khác có thể sử dụng nhãn hiệu với các mục đích như: giảng
dạy, bình luận, phân tích… thì chủ sở hữu nhãn hiệu trong trường hợp này
không có quyền ngăn cấm; thứ ba, sử dụng nhãn hiệu trên các phương tiện
quá cảnh (máy bay, tàu thuyền đi qua vùng trời, vùng biển Việt Nam) [28].
Chủ sở hữu nhãn hiệu được quyền chuyển giao quyền sở hữu văn bằng
bảo hộ cho người khác, cho phép sử dụng nhãn hiệu của mình thông qua hợp
đồng li – xăng và cũng có quyền để lại thừa kế nhãn hiệu của mình.


×