Tải bản đầy đủ (.docx) (18 trang)

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC SỬ DỤNG VÀ QUẢN LÝ LAO ĐỘNG TẠI CÔNG TY TNHH ĐẦU TƯ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (176.04 KB, 18 trang )

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC SỬ DỤNG VÀ QUẢN LÝ LAO ĐỘNG TẠI
CÔNG TY TNHH ĐẦU TƯ & PHÁT TRIỂN XÂY DỰNG MINH HUYỀN
I – Lao động và công tác quản lý lao động tại công ty TNHH đầu tư và phát triển
xây dựng Minh Huyền.
Việc phân tích tình hình sử dụng lao động để bổ sung, cân đối và nâng cao khả năng
sản xuất, đánh giá khả năng tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
nhằm xác định lao động của đơn vị là tiết kiệm hay lãng phí, trên cơ sở đó tìm mọi biện
pháp tổ chức sử dụng lao động tốt nhất. Đây là một hoạt động quan trọng để hoạt động
sản xuất kinh doanh có hiệu quả.
1.Phân tích tổng hợp
Bảng 04 : Bảng tổng hợp lao động của công ty
Đơn vị tính : Người
STT Các chỉ tiêu
Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006
SL % SL % SL % SL %
I Cơ cấu lao động
Tổng số CBCNV 50 100 65 100 70 100 85 100
+ Cán bộ gián tiếp 7 14 9 13,85 10 14,29 12 14,11
+ CN trực tiếp 43 86 56 86,15 60 85,71 73 85,89
II Chất lượng lao động
Trình độ đại học 7 14 10 15,38 12 17,14 15 17,65
Trình độ CĐ trung học 15 30 19 29,23 24 34,28 33 38,82
Trình độ cấp III 18 36 24 36,92 28 40,00 25 29,41
Trình độ cấp II 10 20 12 18,47 6 8.58 12 14,12
III Giới tính
Nam 35 70 47 72,3 48 68,57 54 63,5
Nữ 15 30 18 27,7 22 31,43 31 36,5
IV Độ tuổi
18 - 30 T 45 90 47 72,3 49 70 52 61,17
31 - 50 T 4 8 15 23,0 19 27,1 28 32,94
51 - 60 T 1 2 3 4,7 2 2,9 5 5,89


Qua bảng trên ta thấy , tình hình lao động công ty biến động qua các năm. Năm
2003 tổng số cán bộ công nhân viên của công ty là 50 người, năm 2004 số lao động là
65 người, năm 2005 số lao động là 70 người so với năm 2003 tăng lên 20 người và năm
2004 tăng 5 người . Qua các lần kỷ luật bị giảm và một số lần tuyển dụng, tổng số cán
bộ công
nhân viên của công ty năm 2006 là 85 người, số lượng lao động tăng đáng kể (35
người)
+ Chất lượng sản phẩm cao hay thấp phụ thuộc nhiều vào trình độ học vấn và kiến
thức của người lao động.Chính vì vậy việc nghiên cứu trình độ học vấn trong Công ty
TNHH Minh Huyền là vô cung quan trọng, nó chi phối ảnh hưởng tới sự phát triển của
Công ty cũng như thu nhập đời sống mỗi cá nhân trong Công ty.
+ Số liệu ở bảng chỉ ra từ 50 cán bộ CNV vào năm 2003 tăng lên 85 người vào
năm 2006 . Cán bộ có trình độ Đại học vào năm 2004 chiếm 15,38% và có xu hướng
tăng dần qua các năm như năm 2006 tăng lên 17,65%. Điều này cho thấy công ty đã
chú trọng đến đào tạo và phát triển đội ngũ nhân viên có trình độ học vấn cao.
Song tỷ lệ đào tạo cao đẳng và trung cấp có xu hướng tăng lên từ 30% năm 2003
đến 34,28% năm 2006 tăng lên 38,82% riêng năm 2004 giảm đi còn 29,23% điều này
cho thấy Công ty TNHH đầu tư & phát triển xây dựng Minh Huyền chú trọng đào tạo
nghề nhiều hơn. Lực lượng tốt nghiệp phổ thông trung học cũng tăng nhưng không
đáng kể từ 36% năm 2003 đến 36,92% năm 2004 và 40% năm 2005 và có xu hướng
giảm vào năm 2006 là 29,41%, số lao động có trình độ học vấn cấp II có học vấn thấp
năm 2003 là 20% nhưng có xu hướng giảm dần qua các năm và nhất là năm 2005 giảm
xuống còn 8.58%. Điều này cho thấy công ty rất chú trọng đào tạo tay nghề cho cán bộ
công nhân viên, nâng cao năng suất lao động .
Tóm lại trình độ học vấn ở công ty Minh Huyền chia ra với 5 mức chủ yếu : Đại
học, cao đẳng, trung cấp, Phổ thông trung học, trung học cơ sở, tương ứng với mỗi cấp
độ, Công ty đã có sự phân công và bố trí công việc hợp lý phù hợp với chất lượng của
từng loại hình lao động. Do đó ở từng bộ phận khác nhau, tuỳ theo chức năng nhiệm vụ
mà sẽ được phân bố nhiều trình độ học vấn cao hay thấp.
Qua nghiên cứu cho thấy rằng những người có học vị cao trong Công ty còn ít,

trong khi đó những người có trình độ trung cấp, PTTH, PTCS còn chiếm tỷ lệ cao mặc
dù đã có sự chuyển biến từ năm 2004 song không đáng kể. Với xu hướng này vài năm
tới công ty
phải đặt ra vấn đề là phải đào tạo nâng cao trình độ tay nghề, học vấn và trang bị
cho họ một nền tảng lý luận chính trị vững vững chắc. Có được như vậy công ty mới
thực sự đủ mạnh trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
2. Phân tích về bố trí lao động
Bảng 05: Sự phân bổ đội ngũ cán bộ công nhân viên của công ty TNHH đầu tư và
phát triển xây dựng Minh Huyền.
Các bộ phận của công ty 2003 2004 2005 2006
SL % SL % SL % SL %
Tổng số 50 100 65 100 70 100 85 100
1. Bộ phận gián tiếp 7 14 9 13,8 10 14,3 12 14,1
Ban giám đốc 1 2 1 1,5 4 5,7 4 4,7
Phòng kế toán 2 4 2 3,0 4 5,7 5 5,9
Phòng kỹ thuật 1 2 1 1,5 3 4,3 3 30,5
Phòng tổ chức hành chính 2 4 2 3,0 5 7,1 5 5,9
Phòng tiếp thị bán hàng 2 4 2 3,0 18 25,7 26 30,6
2.Bộ phận trực tiếp sản xuất 43 86 56 86,1 60 85,7 73 85,9
Tổ kiểm tra NVL - kiểm tra tỷ trọng 10 20 12 18,5 15 21,4 17 20
Tổ kiểm tra độ nhớt - kiểm tra độ mịn 7 14 10 15,4 10 14,3 8 9,4
Tổ nghiền và lọc nguyên vật liệu 12 24 10 15,4 12 17,1 12 14,1
Tổ hoàn thiện sản phẩm 5 10 8 12,3 10 14,3 10 11,7
Tổ trực tiếp thi công 9 18 16 24,5 13 18,6 26 30,6
Qua số liệu thống kê trên cho thấy ở bộ phận gián tiếp sản xuất, trong đó nhân lực
làm công tác quản lý chiếm 14% số nhân lực toàn công ty năm 2003 và 13,8% năm
2004( nó đóng vai trò quan trọng trong hoạt động tổ chức sản xuất, quản lý
CBCNV). Đặc trưng của bộ phận này: ít mà tinh, có năng lực quản lý tổ chức sản
xuất và kinh doanh giỏi, do đó ở bộ phận này có xu hướng giảm từ 14% năm 2003
xuống 0.2% năm 2004 nhưng không nhiều.

Đối với Công ty Minh Huyền chuyên sản xuất các sản phẩm sơn và hoá chất xây
dựng chất lượng cao đến việc bảo đảm chức năng quan trọng là tổ chức, quản lý kỹ
thuật và công nghệ cao như pha chế, công nghệ thí nghiệm, nghiên cứu triển khai,
sáng chế cải tiến hợp lý hoá tiêu chuẩn hoá. Ban hành các các công thức sản xuất
chuẩn, mẫu mã sản phẩm đẹp, định mức tiêu hao nguyên vật liệu cho các sản phẩm
và các chi tiết của bán sản phẩm, từng công đoạn sản phẩm. Ban hành các quy trình
công nghệ sản xuất cho các sản phẩm và công đoạn sản xuất. Nghiên cứu soạn thảo
quy trình công nghệ mới, tiên tiến nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm đạt hiệu quả
cao trong sản xuất kinh doanh; định rõ các phép đo và độ chính xác cần thiết với các
thiết bị công nghệ, thiết bị thử nghiệm....Do đó phải có một bộ phận chuyên sâu và
luôn tiếp thu cải tiến công nghệ trong lĩnh vực sơn và hoá chất xây dựng, đó là phòng
kỹ thuật sơn, bột bả, hoá chất xây dựng với số lượng chuyên sâu trong lĩnh vực công
nghệ sơn, bột bả, hoá chất xây dựng, đó là phòng kỹ thuật với số lượng nhân lực 1
người chiếm tỷ lệ 2%vào năm 2003 và có xu hướng giảm vào năm 2004 chiếm 1,5%.
Song song với bộ phận kỹ thuật là phòng tiếp thị bán hàng.Để sản phẩm đạt chất
lượng cao, đảm bảo uy tín trên thị trường cũng như các doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh, Công ty Cao Minh Huyền có bộ phận vô cùng quan trọng là kiểm tra chất
lượng sản phẩm (KCS) với số lượng nhân lực là 5 người (10%) trên tổng số 50
người vào năm 2003. Lực lượng này quá ít đối với việc kiểm định chất lượng thành
phẩm đem tiêu thụ. Xác định rõ tầm quan trọng của chất lượng bởi chất lượng quyết
định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, quyết định chất lượng cuộc sống của
mọi thành viên
trong Công ty, chính vì lẽ đó Công ty chỉ thị đưa ra thị trường tiêu thụ những sản
phẩm đủ tiêu chuẩn về chất lượng. Do đó năm 2006 đã tăng từ 10 người gấp 2 lần so
với năm 2003. Nhiệm vụ của bộ phận KCS phải thực hiện tổ chức nghiệm thu về số
lượng, chất lượng sản phẩm và tiêu thụ tổ chức xây dựng các tiêu chuẩn định mức kỹ
thuật, kiểm tra chất lượng đầu vào, lấy mẫu thí nghiệm để đánh giá nhanh chất
lượng, duyệt các tiêu chuẩn về chất lượng, mẫu mã sản phẩm.
Cạnh tranh hoàn hảo trong nền kinh tế thị trường, bất kỳ một doanh nghiệp sản xuất
nào cũng luôn đưa mục tiêu chất lượng sản phẩm lên hàng đầu. Song để sản phẩm

được tiêu thụ nhanh và nhiều thì việc tìm kiếm và mở rộng thị trường là vô cùng
quan trọng. Xác định rõ mục tiêu này, Công ty đã không ngừng củng cố, sắp xếp
nhân lực trong phòng tiếp thị - bán hàng với xu hướng gia tăng rất nhanh từ chỗ chỉ
có 2 người năm 2003 tăng lên 26 người vào năm 2006 chiếm tỷ lệ 30,6% trong tổng
số đã giúp cho sản phẩm của công ty có mặt ở hầu hết các tỉnh trong toàn quốc ,.
Ngoài ra Công ty còn có một số bộ phận khác có số nhân lực :
Tổ chức – Hành chính: 4%
ở những bộ phận này, số nhân lực không thay đổi nhiều, nó tương đối ổn định trong
năm 2003 và 2006.
Bộ phận sản xuất trực tiếp là nơi có số nhân lực đông hơn cả: 43 người chiếm tỷ lệ
86% . Sở dĩ có sự biến đổi đội ngũ lao động này là do quy mô mở rộng sản xuất của
công ty từ một nhà máy chỉ có 50 người được phân bổ ra 3 phân xưởng sản xuất đã
phát triển Như vậy việc phân chia các bộ phận theo chức năng, nhiệm vụ là cách cơ
bản nhất trong quá trình tổ chức, hoạt động sản xuất của Công ty Minh Huyền
* Nhận xét:
Công ty Minh Huyền đã chú trọng sắp xếp một cách hợp lý nhân lực quản lý và sản
xuất cho phù hợp với chức năng cơ bản của từng bộ phận. Cùng với việc tổ chức sắp
xếp lại khối gián tiếp, các phòng ban ngày càng có xu hướng tinh giản gọn nhẹ đủ
mạnh đã thực sự làm cho guồng máy sản xuất kinh doanh của Minh Huyền hoạt
động
một cách nhịp nhàng đồng bộ đạt hiệu quả cao.
Công ty Minh Huyền với quy trình sản xuất công nghệ máy móc hiện đại đã và đang
từng bước chuyển đổi cơ cấu bậc thợ cho phù hợp với yêu cầu công việc và kỹ thuật
sản xuất mới tiên tiến nhất.Với bậc thợ cụ thể của đội ngũ công nhân Công ty Minh
Huyền đã đánh giá tay nghề của người lao động thông qua: công nhân lành nghề
(tương ứng với bậc thợ 4,5,6,7) và công nhân bán lành nghề (tương ứng với bậc thợ
1,2,3) và công nhân không lành nghề (những người chưa được xét vào bậc thợ nào,
họ làm những công việc không đòi hỏi trình độ
3. Tạo động lực trong lao động (tiền công, tiền lương)
Trên thực tế ta thấy rằng con người lao động là nhằm mục đích gì? trước hết là

thoả mãn nhu cầu của họ trong đó tiền lương là một vấn đề chủ chốt, năm bắt được tầm
quan trọng đó công ty Minh Huyền luôn đề ra những nguyên tắc đúng đắn để khuyến
khích người lao động để họ không còn cảm thấy bất công mà dồn hết tâm huyết vào
làm việc, việc phân phối lương thưởng cho cán bộ công nhân viên được tuân thủ theo
nguyên tắc sau:
- Tương xứng với khả năng của họ
- Tương xứng với kết quả công việc họ thực hiện
- Phù hợp với chính sách hiện hành của nhà nước
- Phù hợp với chính sách của doanh nghiệp
Chính từ chính sách đúng đắn và hợp lý trên nó thúc đẩy quá trình làm việc của người
lao động đạt hiệu quả cao, hoạt động sản xuất tăng lên, đời sống của cán bộ công nhân
viên được cải thiện.
Bảng 6 : Tình hình thu nhập của cán bộ công nhân viên trong 3 năm qua.
STT Các chỉ tiêu ĐVT Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006
1 Lao động Người 50 65 70 85
2 Thu nhập
Trong đó :
- Tiền lương
Đồng 1.200.000
900.000
1.350.000
1.000.000
1.550.000
1.200.000
1.650.000
1.400.000
- Với đội ngũ cán bộ trực tiếp, gián tiếp, việc tính lương theo hình thức thời gian
hay theo sản phẩm là theo trình độ chuyên môn và số lượng sản phẩm hoàn
thành.. Đối với trưởng phó phòng, quản đốc phân xưởng có thêm Lương trách
nhiệm.

4 - Nội dung về quản lý quỹ tiền lương tại công ty
- Quỹ tiền lương của Công ty bao gồm các khoản sau :
+ Tiền lương tính theo thời gian
+ Tiền lương tính theo sản phẩm
+ Tiền lương có tính chất thường xuyên
+ Tiền phụ cấp trách nhiệm
+ Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian ngừng sản xuất do nguyên nhân
khách quan
Quỹ lương của Công ty được quy định theo số lượng sản phẩm nhập kho nhân với đơn
giá tiền lương, Hàng quý phòng Hành chính căn cứ vào kế hoạch sản xuất đã được
Giám đốc ký duyệt hình thành lên đơn giá tiền lương dựa trên những hướng dẫn cơ bản
của Bộ lao động – Thương Binh và xã hội.
Cuối tháng phòng Hành chính tổ chức thống kê toàn bộ số lượng sản phẩm nhập kho
nhân với Đơn giá tiền lương , sau đó tính ra quỹ tiền lương của tháng đó rồi trình lên
Giám đốc hệ số lương thưởng.
* Các hình thức trả lương tại công ty:
Hiện nay công ty đang áp dụng hai hình thức trả lương là : trả lương theo thời gian
và trả lương theo sản phẩm.
a- Phương pháp trả lương theo thời gian
Công ty áp dụng hình thức này đối với bộ phận nhân viên gián tiếp như : Nhân viên
quản lý phân xưởng , nhân viên quản lý phòng ban , nhân viên quản lý doanh
nghiệp, nhân viên bán hàng

×