Tải bản đầy đủ (.doc) (10 trang)

Biến đổi khí hậu đe doạ sinh kế người dân VN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (365.51 KB, 10 trang )

Biến đổi khí hậu đe doạ sinh kế người dân VN
Cập nhật lúc 04:27, Thứ Năm, 29/11/2007 (GMT+7)
,
(VietNamNet) - Đứng thứ 5 về khả năng dễ tổn thương do tác động của biến đổi khí hậu, Việt Nam
đã được Liên hợp quốc chọn là quốc gia để tiến hành nghiên cứu điển hình về biến đổi khí hậu và
phát triển con người. Theo đó, sinh kế của người Việt đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi những thay
đổi toàn cầu, đòi hỏi một tầm nhìn dài hơi, một kế hoạch cụ thể và mang tính chiến lược.
• Toàn cảnh trận lũ tháng 11 ở miền Trung
• Toàn cảnh trận lũ lịch sử tháng 10/2007
• Triều cường lịch sử ở TP.HCM: Thiệt hại tiền tỷ
Tiến gần tới "điểm tràn"
Báo cáo phát triển con người năm nay đã dành nội dung chủ yếu cho biến đổi khí hậu, vấn đề được ghi
nhận là "tình huống khẩn cấp" của một cuộc khủng hoảng gắn liền với ngày hôm nay và mai sau. Thế
giới chỉ còn chưa đầy một thập kỷ để thay đổi tình hình.
7 năm trước, các nhà lãnh đạo trên thế giới đã họp mặt, cùng nhau đưa ra các mục tiêu thúc đẩy tiến bộ
trong phát triển con người: các mục tiêu thiên niên kỷ. Nhiều thành quả đã gặt hái. Tuy nhiên, các
chuyên gia dự báo, biến đổi khí hậu có thể sẽ chặn đứng và đẩy lùi thành quả của những nỗ lực giảm
nghèo trên toàn thế giới.
Nồng độ khí nhà kính đã vượt quá ngưỡng tự nhiên suốt 650 nghìn năm qua. Các tảng băng ở Nam
Cực, ở Greenland đang tan chảy với tốc độ ngày càng nhanh. Đại dương xuất hiện hiện tượng axít hóa.
Rừng nhiệt đới bị thu hẹp... Từng hiện tượng riêng hay các hiện tượng kết hợp với nhau đều đưa thế
giới tiến gần tới "điểm tràn".
Theo tính toán, ngân quỹ các-bon cho toàn thế kỷ 21 có thể sẽ bị cạn kiệt vào năm 2032.
Trong thế kỷ 21, nhiệt độ thế giới có thể tăng thêm 5 độ C, tương đương với sự thay đổi nhiệt độ từ
thời kỳ băng hà, thời kỳ phần lớn châu Âu và Bắc Mỹ còn nằm dưới lớp băng dầy 1km. Trong khi đó,
ngưỡng biến đổi khí hậu nguy hiệm là tăng thêm 2 độ C. Nếu vượt qua ngưỡng 2 độ này, kết quả phát
triển con người sẽ bị đẩy lùi trên quy mô lớn, các thảm họa sinh thái không thể đảo ngược sẽ xảy ra.
Các chuyên gia nhấn mạnh, người nghèo phải hứng chịu những tác động đầu tiên và hủy hoại mạnh
nhất. Đại bộ phận lượng khí nhà kính do các nước giàu và người dân ở các nước này thải ra, nhưng các
nước nghèo và người dân của họ lại là người phải trả giá đắt nhất cho biến đổi khí hậu.
Thiên tai tập trung chủ yếu ở các nước nghèo. Trong 4 năm 2000 - 2004, trung bình thế giới có 326


thiên tai mỗi năm với khoảng 262 triệu người bị ảnh hưởng, trong đó hơn 98% ở các nước đang phát
triển. Mức chênh lệch rủi ro giữa các nước phát triển và đang phát triển là 79 lần.
Nguy cơ ảnh hưởng khí hậu gắn liền với bão, lụt thường thấy ở các cộng đồng nông thôn tại các vùng
châu thổ sông Hằng, sông Cửu Long, sông Nin, và các khu nhà ổ chuột trong các đô thị ở các nước
đang phát triển. Nếu không giải quyết, 40% dân số thế giới có một tương lai vô vọng.
Việt Nam và "bóng đen" biến đổi khí hậu
Các chuyên gia Việt Nam và quốc tế cùng thảo
luận về Việt Nam trong tình hình biến đổi khí hậu
toàn cầu. Ảnh: H.G.
"Bóng ma biến đổi khí hậu" đã và đang được nhận diện ở Việt Nam, ban đầu bởi những người "trong
ngành", lãnh đạo cấp cao, và đang mở rộng ra cộng đồng.
Trên thực tế, sinh kế của hàng chục triệu người Việt Nam đang bị đe dọa với những ảnh hưởng của
biến đổi khí hậu. Vấn đề này và những hệ quả của nó đang khiến cho cuộc sống người nghèo và những
người cận nghèo Việt Nam ở vùng núi, vùng biển, vùng đồng bằng bị đe dọa.
Triều cường là một trong những hệ quả của biến đổi khí hậu, đang tác động không nhỏ đến sinh kế
người Việt ở ĐBSCL.
Lượng mưa thất thường và luôn biến đổi. Nhiệt độ tăng cao hơn, tình hình thời tiến khốc liệt hơn. Tần
suất và cường độ của những đợt bão lũ, triều cường tăng đột biến. Các dịch bệnh xuất hiện và lan
tràn... Tình trạng thiếu hụt nước tăng cao. Diện tích rừng ngập mặn cũng bị tác động. Phân bố rừng
nguyên sinh, thứ sinh có thể dịch chuyển. Nguy cơ tuyệt chủng các loài động thực vật gia tăng. Nguy
cơ cháy rừng, phát tán dịch bệnh ngày càng hiển hiện. Nguồn thủy, hải sản bị phân tán.
Riêng việc nước biển dâng cao có thể khiến 22 triệu người Việt Nam mất nhà. Một phần lớn diện tích
của đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long có thể bị ngập lụt do nước biển dâng, các chuyên gia cảnh
báo.
Theo tính toán, năm 2070 các loại cây trồng Việt Nam có thể sẽ lên tới độ cao 550 mét và hướng lên
phía bắc 100 - 200 km so với hiện tại. Các loài cây á nhiệt đới suy giảm... Sản xuất nông, lâm, ngư
nghiệp sẽ buộc phải điều chỉnh.
Bóng đen biến đổi khí hậu đang trùm lên toàn Việt Nam. Nếu không điều chỉnh, đất nước sẽ ngày càng
ngập sâu vào "món nợ sinh thái" không bền vững mà các thế hệ mai sau sẽ là người phải trả.
Nhận diện và thích ứng

Tuy nhiên, dù là quốc gia tham gia Công ước quốc tế về vấn đề này rất sớm, là nước đã sớm ký Nghị
định thư Kyoto, nhưng tại Việt Nam, biến đổi khí hậu lần đầu tiên được đăng đàn Quốc hội cách đây
chưa lâu. Và nội dung biến đổi khí hậu vẫn còn mờ nhạt, chìm đi trong muôn ngàn vấn đề quốc kế dân
sinh khác.
Trong lần gần đây, cũng chỉ duy nhất một vị đại biểu nêu vấn đề này trong chất vấn chính phủ.
Cùng với những dấu hiệu ngày càng rõ ràng của thảm họa, nhận thức về biến đổi khí hậu đang đạt được
sự đồng thuận trong xã hội. Ông Nguyễn Khắc Hiếu, Vụ phó Vụ hợp tác quốc tế, Bộ TN-MT khẳng
định "biến đổi khí hậu là một thực tế đã, đang và sẽ xảy ra".
Trước thực tế đó, "Việt Nam cần phải có một chiến lược dài hơn, trong một tầm nhìn dài hạn", "cần
một quyết tâm lớn".
Phó Giám đốc Quốc gia UNDP tại Việt Nam, ông Christopher Bahuet khuyến nghị, Việt Nam cần giải
quyết ở cả ba cấp độ: cộng đồng, chính sách và năng lực thể chế, trong đó quan trọng nhất là xây dựng
năng lực thể chế.
Ở cấp độ cộng đồng, trong ngắn hạn, cần có các hỗ trợ khẩn cấp thông qua hỗ trợ thiên tai; về lâu dài,
cần nâng cao năng lực thích ứng ở các vùng bị ảnh hưởng, ví dụ như xây dựng nhà cửa thích hợp ở
đồng bằng sông Cửu Long.
Ở cấp độ chính sách, cần xây dựng chiến lược ở cấp quốc gia cũng như địa phương. Các yếu tố thay
đổi khí hậu cần được lồng ghép với chính sách phát triển kinh tế - xã hội.
Theo Michael Parisons, đại diện tổ chức hoạt động môi trường, Chính phủ cần tìm các biện pháp thích
nghi cho người nghèo và những người cận nghèo, những người chịu tác động nhiều nhất. Nhờ đó,
Chính phủ sẽ giúp cho người dân vừa thích ứng với điều kiện biến đổi, vừa bảo vệ tài sản cho họ, đảm
bảo cho sinh kế
Chống biến đổi khí hậu bằng tiết kiệm năng lượng
05.08.2009 15:18
Nhiều biện pháp cấp bách đang được thực hiện như tiết kiệm điện
năng, tiết giảm mức tiêu hao nhiên liệu nhằm giảm lượng khí CO2
phát thải. Nhiệt độ trung bình trên trái đất đã tăng 0,74 độ C trong
thế kỷ 20 và đang tiến đến ngưỡng biến đổi khí hậu nguy hiểm.
Nhiều biện pháp cấp bách đang được thực hiện như tiết kiệm điện năng, tiết giảm mức tiêu
hao nhiên liệu… nhằm giảm lượng khí CO2 phát thải.

Ngày 25/10/2007, Chương trình Môi trường của Liên Hiệp Quốc (UNEP) đưa ra báo cáo dày
570 trang với tiêu đề “Viễn cảnh môi trường toàn cầu – The Global Environment Outlook
GEO-4) trình bày tình trạng môi trường của hành tinh.
Theo báo cáo trên, khí hậu trái đất đang thay đổi nhanh hơn bất kỳ giai đoạn nào trước đây.
Nhiệt độ trung bình trên trái đất đã tăng 0,74 độ C trong thế kỷ 20 và được dự báo sẽ tăng
thêm 1,8 đến 4 độ C, hoặc cao hơn cho đến năm 2100.
Tiết kiệm năng lượng là cách phòng chống biến đổi khí hậu hiệu quả.
Trong khi đó, ngưỡng biến đổi khí hậu nguy hiểm là tăng thêm 2 độ C. Nếu vượt ngưỡng
nhiệt độ này, những thành tựu phát triển của loài người sẽ bị hủy hoại, các thảm hoạ sinh
thái không thể đảo ngược sẽ xảy ra. Do đó, vấn đề đã trở nên cấp bách hơn bao giờ hết…
Tiết kiệm điện
Sử dụng năng lượng trong khu vực dân cư có tác động quan trọng đến việc tiết giảm lượng
dầu tiêu thụ và lượng phát thải carbon. Các thiết bị điện là một nguồn quan trọng có thể góp
phần giảm nhu cầu tiêu thụ xăng dầu và phát thải carbon.
Theo tính toán, nếu tất cả các thiết bị điện sử dụng ở các nước thuộc OECD (Tổ chức Hợp tác
phát triển kinh tế, gồm 30 quốc gia có nền kinh tế phát triển) vào năm 2005 đạt tiêu chuẩn
tốt nhất về hiệu suất thì có thể giảm lượng phát thải tới năm 2010, tương đương với việc
giảm 100 triệu xe lưu thông trên đường. Con số này bằng tất cả xe ở Canada, Pháp và Đức
gộp lại.
Riêng khoản chiếu sáng trên thế giới cũng chiếm khoảng 10 phần trăm nhu cầu điện toàn
cầu và tương ứng phát thải 1,9 tỷ tấn CO2 mỗi năm, bằng 7 phần trăm tổng lượng phát thải
CO2.
Theo tính toán, chỉ cần thay thế nguồn chiếu sáng bằng sợi đốt volfram bằng đèn compact
thì có thể giảm tổng năng lượng cho chiếu sáng tới 38 phần trăm vì ở loại đèn sợi đốt, 95
phần trăm điện năng tiêu thụ dưới dạng toả nhiệt, chỉ dưới 5 phần trăm là để phát sáng.
Hiện nay, nhiều dự án và chương trình nghiên cứu đang tập trung vào việc chuyển nguồn
chiếu sáng sang thế hệ đèn LED với mức tiêu thụ điện năng rất thấp: một bóng đèn vài watts
sáng hơn bóng đèn vài chục watts hiện nay.
Giảm hao xăng và đánh thuế phát thải carbon
Phương tiện giao thông cá nhân là đối tượng tiêu thụ dầu mỏ lớn nhất thế giới, đồng thời

cũng là nguồn phát thải CO2 gia tăng nhanh nhất.
Thống kê cho thấy, năm 2004 hoạt động giao thông thải ra 6,3 tỉ tấn CO2 và hằng năm tăng
lên với tốc độ trung bình 1,8 phần trăm/năm. Tăng hiệu suất sử dụng xăng dầu đối với các
phương tiện giao thông vận tải sẽ góp phần quan trọng trong việc tiết kiệm năng lượng và
giảm phát thải carbon.
Từ năm 2002, Nhật Bản sản xuất xe có hiệu suất nhiên liệu rất cao, 45 dặm mỗi gallon xăng
(tức khoảng 19km mỗi lít), các nước thuộc EU có hiệu suất 37dặm mỗi gallon (15,5 km mỗi
lít), Úc và Trung Quốc 29 dặm mỗi gallon (12 km mỗi lít), trong khi đó, Mỹ chỉ đạt hiệu suất
nhiên liệu 20 dặm mỗi gallon (8,5 km mỗi lít).
Bằng những cải tiến trên, người ta hy vọng sẽ giảm mức tiêu thụ dầu mỏ ở Mỹ đến 3,5 triệu
thùng mỗi ngày, song song đó giảm lượng CO2 phát thải, tương đương tổng lượng phát thải
carbon của Pháp mỗi năm.
Một giải pháp giảm phát thải carbon đang được khuyến khích là sản xuất và sử dụng xe
hybrid (lai ghép), có thể vừa sử dụng xăng, dầu diesel, vừa sử dụng điện ac-quy hoặc pin
nhiên liệu hydrogen.
Thống kê cho thấy, sử dụng xe hybrid không chỉ tiết giảm đáng kể lượng tiêu thụ xăng dầu
mà còn giảm đáng kể lượng phát thải carbon: lượng nhiên liệu xăng dầu tiêu thụ giảm xuống
từ 1/2 đến 1/4, đồng thời lượng khí CO2 phát thải cũng giảm khoảng 1,5 lần so với trước.
Việc đánh thuế phát thải carbon, được nhiều quốc gia đồng thuận, dự kiến từ 10 đến 20 USD
mỗi tấn CO2 vào năm 2010 sẽ được tăng dần lên mỗi năm thêm 5 đến 10 USD mỗi tấn CO2
cho đến khi đạt được 100 USD mỗi tấn CO2 sẽ tạo ra một sự thay đổi căn bản trong cơ cấu
khuyến khích đầu tư vào các nguồn năng lượng mới ở nhiều nước.

×