Tải bản đầy đủ (.docx) (28 trang)

KHÁI QUÁT VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (200.03 KB, 28 trang )

KHÁI QUÁT VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Hoạt động tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng thương mại
* Khái niệm chung về tín dụng
Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh
tế. Ngân hàng thực hiện các chính sách kinh tế, đặc biệt là chính sách tiền tệ, vì
vậy là một kênh quan trọng trong chính sách kinh tế của Chính phủ nhằm ổn định
kinh tế.
Ta có thể hiểu khái niệm về Ngân hàng qua nhiều khái niệm đã được đưa ra
dựa vào tính chất và mục đích hoạt động của nó trên thị trường tài chính. Nhưng về
khái quát, “Ngân hàng thương mại là một tổ chức tài chính trung gian mà hoạt
động thương xuyên và chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng với nghĩa vụ hoàn
trả và sử dụng số tiền thu được để cho vay và đầu tư và cung cấp các phương tiện
thanh toán”.
Thực hiện vai trò trung gian tài chính, Ngân hàng thực hiện các hoạt động cơ
bản như huy động vốn, hoạt động tín dụng và đầu tư, các hoạt động trung gian
khác. Trong đó, hoạt động tín dụng là hoạt động chiếm tỷ trọng lớn nhất của Ngân
hàng thương mại.
Tín dụng là một phạm trù kinh tế lâu đời, ra đời và tồn tại gắn liền với sự tồn
tại và phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hóa. Tín dụng ra đời là một yếu tố
khách quan của sự ra đời và phát triển của xã hội.
Mặc dù đã ra đời và phát triển từ khá lâu nhưng cho đến nay vẫn chưa thống
nhất về khái niện tín dụng. Thuật ngữ “tín dụng” xuất phát từ nguồn gốc của từ
Latinh “Credio” nghĩa là sự tin tưởng, tín nhiệm. Hiểu theo cách đơn giản, tín dụng
là sự vay mượn giữa hai bên (bên đi vay và bên cho vay).
Theo Kmarx, “tín dụng là quá trình chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị
từ người sở hữu đến người sử dụng sau một khoảng thời gian nhất định thu hồi một
lượng lớn hơn giá trị ban đầu”. Như vậy, tín dụng chính là các quan hệ phân phối
lợi ích kinh tế (hay là các quan hệ kinh tế), giữa người đi vay và người cho vay,
gắn liền với việc tạo lập và sử dụng vốn nhằm thỏa mãn nhu cầu vốn tạm thời cho
quá trình tái sản xuất xã hội dựa trên nguyên tắc có hoàn trả. Ngày nay, cùng với


sự phát triển và hiện đại hóa của nền kinh tế thị trường, các quan hệ và hình thức
tín dụng cũng phải phát triển phong phú và đa dạng hơn cho phù hợp với mối quan
hệ trong nền kinh tế. Trong đó, tín dụng Ngân hàng là hình thức chủ yếu nhất, đáp
ứng nhanh chóng kịp thời nhu cầu vốn của nền kinh tế xã hội.
Luật các Tổ chức tín dụng của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
được sửa đổi bổ sung năm 2004, quy định về hoạt đông tín dụng và cấp tín dụng
của TCTD như sau: “Hoạt động tín dụng là việc TCTD sử dụng nguồn vốn tự có,
nguồn vốn huy động để cấp tín dụng. Tổ chức tín dụng được cấp tín dụng cho tổ
chức, cá nhân dưới hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá
khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và hình thức khác theo quy định của Ngân hàng
Nhà nước.”
Ngân hàng thường cung cấp nhiều loại tín dụng cho nhiều đối tượng với nhiều
mục đích sử dụng khác nhau. Có nhiều cách phân loại tín dụng khác nhau căn cứ
theo yêu cầu và mục tiêu quản lý của ngân hàng. Tín dụng có thể được phân loại
theo thời gian, theo hình thức, theo tài sản đảm bảo, theo rủi ro…Tuy nhiên phân
chia tín dụng theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì thời gian
liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lợi của tín dụng cũng như khả năng
hoàn trả của khách hàng. Tín dụng phân loại theo thời hạn được chia thành tín
dụng ngắn hạn và tín dụng trung và dài hạn.
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của tín dụng trung và dài hạn
a. Khái niệm tín dụng trung và dài hạn
Trong nền kinh tế, nhu cầu nguồn vốn trung và dài hạn thường xuyên phát
sinh bởi các DN luôn phải tìm cách phát triển mở rộng sản xuất, đổi mới kỹ thuật
công nghệ, để từ đó tăng cường và củng cố sức cạnh tranh của mình trên thị
trường. Để làm được điều này, đòi hỏi ngân hàng phải có một lượng vốn lớn sử
dụng trong một thời gian dài. Nhu cầu này có thể được thảo mãn một phần từ
nguồn ngân sách nhà nước, từ nguồn vốn vay nước ngoài còn phần lớn được hình
thành từ các thể chế, công cụ tài chính trên thị trường tiền tệ. Tuy nhiên, thị trường
dịch vụ tài chính ở Việt Nam còn non trẻ nên chưa thể đáp ứng tốt nhu cầu vốn cho
các DN. Chính vì vậy, các DN thường tìm đến các NHTM cho DN vay với số vốn

lớn, thời gian dài bằng hình thức tín dụng trung và dài hạn.
Trong hoạt động kinh doanh của NHTM, tín dụng trung hạn được hiểu là loại
tín dụng có thời gian hoàn vốn từ 1 đến 5 năm, được sử dụng để thực hiện các dự
án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống. Tín dụng trung hạn
của Ngân hàng được cấp cho khách hàng để mở rộng cải tạo, khôi phục, hoàn thiện
và cải tiến quy trình công nghệ, quy trình sản xuất.
Tín dụng Ngân hàng dài hạn là loại tín dụng có thời gian hoàn vốn trên 5 năm,
được sử dụng để thực hiện các dự án đầu tư, phát triển và sản xuất kinh doanh.
Hình thức này thường được cấp cho khách hàng nhằm hỗ trợ việc xây dựng mới,
mở rộng nhà xưởng hoặc hoàn thiện quy trình công nghệ, quy trình sản xuất.
Đối với thời kỳ hội nhập hiện nay, nhu cầu vốn trung và dài hạn để đổi mới
công nghệ của các doanh nghiệp là rất lớn, trong khi các DN nước ta chủ yếu là
các DN vừa và nhỏ, chưa tích lũy đủ vốn tự có để đầu tư. Bên cạnh đó là sự suy
giảm của thị trường chứng khoán nên việc đầu tư trực tiếp của công chúng thông
qua hình thức mua trái phiếu, cổ phiếu do các DN phát hành tỏ ra không hiệu quả.
Cho nên trong thực tiễn, nhu cầu vốn trung và dài hạn của các DN nước ta chủ yếu
được đáp ứng bằng nguồn vốn tự có của mình và đa phần còn lại bằng tài trợ của
NHTM thông qua hình thức tín dụng trung và dài hạn.
b. Đặc điểm của tín dụng trung và dài hạn
• Thời hạn cho vay
Theo quy chế cho vay của Ngân hàng Nhà nước trong quy định số
1627/2001/QĐ-NHNN, thời hạn tín dụng được hiểu là “khoảng thời gian được tính
từ khi khách hàng bắt đầu nhận vốn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn
vay được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng và khách
hàng”.
Thời hạn tín dụng trung và dài hạn thường kéo dài trên một năm tùy
thuộc vào mục đích sử dụng vốn vay và thỏa thuận của Ngân hàng và khách hàng.
Thời hạn cho vay = Thời hạn thi công (ân hạn) + Thời gian trả nợ
Trong đó thời gian thi công là thời gian chuyển giao vốn tín dụng giữa Ngân
hàng và khách hàng. Thời gian trả nợ là thời gian khách hàng bắt đầu trả nợ cho

đến khi khách hàng trả hết nợ cho Ngân hàng.
• Giá trị của khoản vay
Các khoản tín dụng trung và dài hạn thường có vốn đầu tư lớn vượt quá khả
năng tài chính của khách hàng. Giá trị các khoản cho vay này tùy thuộc vào tính
chất, đặc điểm, quy mô của dự án, công trình sản xuất, kinh doanh, quá trình sử
dụng…Hình thức hoàn trả thường là trả định kỳ, trả góp hàng tháng, hàng quý,
hàng năm.
• Nguồn vốn cho vay trung và dài hạn
Như đã phân tích ở trên, đối tượng được tài trợ của tín dụng trung và dài hạn
thường là các loại tài sản cố định như: phương tiện vận tải, trang thiết bị, máy móc,
nhà xưởng…, công trình xây dựng như: nhà của, cầu đường…nên cần một lượng
vốn đầu tư lớn. Nguồn dùng để trả nợ của khách hàng là các quỹ khấu hao cơ bản
và lợi nhuận thu được từ dự án nên thời hạn trả nợ kéo dài, dẫn đến thời gian thu
hồi vốn chậm. Nhu cầu đầu tư vào mua sắm tài sản cố định, tài trợ dự án của DN là
rất lớn nhưng nguồn vốn trung và dài hạn của ngân hàng lại đắt và khan hiếm hơn
nguồn vốn ngắn hạn. Vì vậy, để đáp ứng được nhu cầu trên, Ngân hàng phải có
nguồn vốn tương đối dồi dào, ổn định. Nó được huy động từ nhiều nguồn như:
- Nguồn vốn vay trong nước thông qua phát hành trái phiếu
- Vốn vay Ngân hàng nước ngoài
- Một phần vốn tự có của Ngân hàng
- Vốn tài trợ ủy thác của Nhà nước và các tổ chức quốc tế
- Nguồn vốn huy động có kỳ hạn ổn định từ 1 năm trở lên
- Nguồn vốn ngắn hạn được phép sử dụng để cho vay trung và dài hạn
theo tỷ lệ được phép. Trong quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn
trong hoạt động của các tổ chức tín dụng (ban hàng kèm theo quyết
định 457/2005/QĐ-NHNN), các tổ chức tín dụng có thể dùng tối đa
40% nguồn vốn ngăn hạn để cho vay trung và dài hạn.
• Nguyên tắc của tín dụng trung và dài hạn
Hoạt động tín dụng trung và dài hạn cần tuân theo những nguyên tắc sau:
- Tín dụng trung và dài hạn phải bám sát phương hướng mục tiêu kế hoạch của

nhà nước và có hiệu quả. Trong đó:
+ Hiệu quả kinh tế cần và có thể được tính toán qua các chỉ tiêu: Khối lượng
sản phẩm, dịch vụ được tạo ra, lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận tính trên vốn đầu tư,
thời gian hoàn vốn (thời gian thu hồi vốn đầu tư)
+ Hiệu quả về mặt xã hội: Tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động,
thu hút được nhiều lao động đang dư thừa. Khi hoàn thành và đã đi vào hoạt động,
công trình phải có tác động dây truyền đến sự phát triển, đến các ngành sản xuất,
liên quan đến sự phát triển đi lên của nền kinh tế. Bảo vệ môi trường. Đóng góp
quan trọng cho nguồn thu ngân sách, nguồn thu ngoại tệ nhờ xuất khẩu sản phẩm.
- Sử dụng vốn vay đúng mục đích
- Hoàn trả nợ gốc và lãi vay đúng hạn
- Tránh rủi ro và bảo đảm khả năng thanh toán
- Vốn vay phải được giải ngân theo tiến độ thi công của công trình
• Điều kiện cho vay
Khách hàng có nhu cầu vay vốn cần có đầy đủ năng lực pháp luật hình sự,
năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật
quy định
Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp, có khả năng đảm bảo khả năng trả nợ
trong thời gian cam kết. Có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ
khả thi và có hiệu quả, hoặc có dự án đầu tư (phương án) phục vụ đời sống khả thi
và phù hợp với quy định của pháp luật
Khách hàng cần thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định
của Chính phủ và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước.
• Đối tượng của tín dụng trung và dài hạn
Đối tượng cho vay trung và dài hạn là các công trình, hạng mục hay dự án đầu
tư có thể tính toán được hiệu quả kinh tế trực tiếp, nhanh chóng phát huy tác dụng,
thu hồi vốn nhanh, cụ thể bao gồm: Giá trị máy móc thiết bị, công nghệ chuyển
giao, Sáng chế phát minh, Chi phí nhân công vật tư, Trị giá thuê bán chuyển
nhượng đất, chi phí mua bảo hiểm cho các dự án thuộc dự án đầu tư, các chi phí
khác phát sinh.

Các đối tượng cho vay trên được ưu tiên theo thứ tự nhất định trên cơ sở mục
tiêu phát triển kinh tế xã hôi. Có thể là ưu tiên theo lĩnh vực kinh tế, ưu tiên theo
yêu cầu mở rộng và phát triển thị trường, ưu tiên theo tính chất đầu tư, ưu tiên theo
khả năng thu hút lực lượng lao động.
• Rủi ro của hoạt động tín dụng trung và dài hạn
Rủi ro từ hoạt động tín dụng trung và dài hạn là rất lớn vì lượng vốn đầu tư
lớn và thời gian thu hồi vốn chậm. Trong thời gian đầu tư có thể xảy ra nhiều
những biến động về môi trường kinh tế, pháp luật, chiến tranh, thiên tai…ngân
hàng khó có thể kiểm soát và dự tính được hết những tổn thất có thể xảy ra. Hơn
nữa, nếu rủi ro tín dụng trung và dài hạn xảy ra sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ đối
với hoạt động của Ngân hàng.
• Lãi suất tín dụng trung và dài hạn
Lãi suất tín dụng trung và dài hạn thường cao hơn lãi suất tín dụng ngắn hạn
do đặc điểm của tín dụng trung và dài hạn là rủi ro lớn. Ngân hàng quy định lãi
suất cao để bù đắp các cho phí để quản lý tín dụng trung và dài hạn và tương ứng
với khả năng xảy ra rủi ro cao mà Ngân hàng phải gánh chịu. Lãi suất tín dụng
trung và dài hạn có thể là lãi suất cố định trong suốt thời hạn tín dụng hoặc có thể
là lãi suất thả nổi tùy theo vào thỏa thuận của Ngân hàng và khách hàng.
• Lợi nhuận của các khoản tín dụng trung và dài hạn
Các khoản tín dụng trung và dài hạn mang lại lợi nhuận lớn cho khách hàng
vì các khoản cho vay này thường có số vốn lớn, cho vay với mức lãi suất cao tương
ứng với mức rủi ro của Ngân hàng.
1.1.2 Phân loại tín dụng trung và dài hạn
Có nhiều cách để phân loại tín dụng trung và dài hạn tại các Ngân hàng
thương mại như: phân loại theo đồng tiền vay vốn, phân loại theo tài sản đảm bảo,
phân loại theo phương thức vay vốn...Đặc biệt, theo phương thức vay vốn, tín dụng
trung và dài hạn có thể phân thành: cho vay theo dự án đầu tư, tín dụng tuần hoàn
và tín dụng thuê mua
1.1.2.1 Cho vay theo dự án đầu tư:
Cho vay theo dự án đầu tư là việc tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn để

thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án
đầu tư phục vụ đời sống. Các dự án được Ngân hàng xem xét dựa trên tiêu chí tính
hiệu quả và tính khả thi của nó. Các dự án này thường là cho vay xây dựng cơ bản
và đầu tư mua sắm tài sản cố định do đó thường diễn ra trong một thời gian dài.
Các Ngân hàng cần tiến hành phân tích, thẩm định, xem xét kỹ những rủi ro có thể
xảy ra. Cho vay theo dự án có thể được tiến hành theo hình thức:
• Cho vay hợp vốn:
Cho vay hợp vốn (hay còn gọi là hình thức đồng tài trợ) là hình thức cho vay
trong đó một nhóm các tổ chức tài chính cùng liên kết lại để tập hợp vốn cho một
khách hàng vay và có một tổ chức tín dụng làm đầu mối, phối hợp các bên tài trợ
khác để thực hiện. Từ đó nâng cao năng lực và hiệu quả trong hoạt động sản xuất,
kinh doanh của các doanh nghiệp và của các tổ chức tín dụng. Các bên tham gia
vào hoạt động này thường là các ngân hàng thương mại, các công ty bảo hiểm, các
ngân hàng đầu tư và các quỹ, tổ chức tài chính khác.
Hình thức cho vay này thường được áp dụng trong các trường hợp: nhu cầu
vay vốn hoặc bảo lãnh của chủ đầu tư để thực hiện dự án vượt quá giới hạn tối đa
cho phép cho vay, hoặc nhu cầu vay vốn của dự án vượt quá khả năng đáp ứng của
một tổ chức tín dụng. Đây cũng có thể là do nhu cầu phân tán rủi ro trong kinh
doanh của các tổ chức tín dụng. Từ đó, cho vay hợp vốn cho phép ngân hàng hạn
chế rủi ro và tạo cơ hôi cho Ngân hàng sử dụng tốt nguồn vốn đầu tư vào các dự án
hiệu quả và lâu dài.
Hoạt động cho vay hợp vốn tại Việt Nam hiện nay tuân theo Quyết định của
Thông đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc sửa đổi bổ sung Quy chế đồng
tài trợ của các tổ chức tín dụng ban hàng kèm theo Quyết định số
286/2002/QĐNHNN ngày 3/4/2002 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
• Cho vay trực tiếp theo dự án
Đây là hình thức phổ biến trong hoạt động tài trợ trung và dài hạn của các
NHTM. Một NHTM sẽ đứng ra đảm nhiệm toàn bộ các hoạt động xem xét, xét
duyệt, thẩm định hồ sơ vay vốn. Sau khi đã phân tích kỹ đến tính hiệu quả của dự
án đầu tư, Ngân hàng ký hợp đồng tín dụng, mở tài khoản cho vay và giản ngân

cho khách hàng. Tiền cho vay sẽ được phát ra theo hướng:
- Trả thẳng vào tài khoản cho người cung cấp (người thụ hưởng): Đối
với dự án đầu tư máy móc thiết bị, việc cấp tín dụng căn cứ vào hợp
đồng cung cấp thiết bị, hợp đồng nhập khẩu, các hóa đơn, vận đơn,
bảng kê chi phí…phù hợp với phần dự toán; hoặc đối với khối lượng
xây lắp hoàn thành thì dựa theo biên bản nghiệm thu khối lượng xây
lắp hoàn thành.
- Chuyển vào tài khoản tiền gửi của bên vay để chi trả các chi phí theo
phương thức tự làm căn cứ vào bảng kê chi phí.
Đây là hình thức cho vay mà một Ngân hàng sẽ phải đảm nhận mọi rủi ro của
hoạt động tín dụng. Do đó cần quán xuyến hết các công việc liên quan đến việc
thực thi dự án để đảm bảo chất lượng của khoản tín dụng.
1.1.2.2 Tín dụng thuê mua (leasing credit)
Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung và dài hạn mà trong đó công ty
cho thuê mua tài sản của người đi thuê, cho người đi thuê sử dụng trong một
khoảng thời gian nhất định kèm theo quyền lựa chọn của người đi thuê khi ký kết
hợp đồng là được mua tài sản cho thuê theo mức giá được ấn định, tiếp tục thuê
hoặc sẽ trả lại tài sản cho bên thuê.
Cho thuê tài chính về bản chất là một hình thức cấp tín dụng mà mục đích của
người cho thuê cũng giống người cho vay: thu tiền vốn đầu tư, còn mục đích của
người đi thuê cũng giống người đi vay là sử dụng vốn. Nhưng cho thuê tài chính
vẫn có những đặc trưng riêng biêt:
- Hình thức cấp tín dụng của bên cho thuê là bằng tài sản người đi thuê
chỉ có quyền sử dụng tài sản
- Thời hạn thuê mua là rất dài, thường chiếm khoảng ¾ thời gian hữu
dụng của tài sản
- Bên cho thuê dễ dàng kiểm tra việc sử dụng tài sản và đánh giá hiệu
quả sử dụng tài sản thuê.
Từ những đặc trưng trên, tín dụng thuê mua thể hiện được nhiều ưu điểm
trong tình hình kinh tế mới Một là, bên cho thuê được tài trợ 100% nhu cầu đầu tư.

Nếu so sánh với hình thức cho vay theo từng dự án thì chủ đầu tư cũng phải có một
số vốn nhất định thì tín dụng thuê mua rõ ràng là có lợi thế hơn. Hai là, hình thức
này phù hợp với những DN vừa và nhỏ, giá cả cho thuê được tính trước và ghi vào
hợp đồng, người thuê sẽ trả dần hoặc lựa chọn một phương thức trả thích hợp với
quá trình sử dụng. Cuối cùng, người thuê là người chủ động hoàn toàn trong việc
lựa chọn phương tiện hay tài sản để thuê. Tất cả những chi phí liên quan đến việc
bảo quản, bảo trì tài sản thông thường do người thuê chịu, bên cho thuê không phải
bỏ ra để chi trả cho những công việc đó.
Như vậy, tín dụng thuê mua là một hình thức rất có ý nghĩa đối với nền kinh
tế với chủ yếu là các DN vừa và nhỏ như nước ta hiện nay.
1.1.2 Quy trình tín dụng trung và dài hạn
Quy trình tín dụng được soạn thảo với mục đích giúp cho quá trình cho vay
diễn ra thống nhất, khoa học, hạn chế, phòng ngừa rủi ro và nâng cao chất lượng
tín dụng, góp phần đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu vay vốn của khách hàng.
Quy trình này cũng xác định người thực hiện công việc và trách nhiệm của các cán
bộ có liên quan trong quá trình cho vay.
Quy trình tín dụng bắt đầu từ khi cán bộ tín dụng bắt đầu tiếp nhận hồ sơ
khách hàng và kết thúc khi kế toán viên tất toán – thanh lí hợp đồng tín dụng, được
thực hiện theo các bước sau:
Bước 1: Tiếp nhận, hướng dẫn khách hàng về điều kiện tín dụng và hồ sơ
vay vốn, kiểm tra hồ sơ và mục đích vay vốn
Đối với khách hàng quan hệ tín dụng lần đầu, cán bộ tín dụng hướng dẫn
khách hàng đăng ký những thông tin về khách hàng, các điều kiện vay vốn và tư
vấn việc thiết lập hồ sơ. Đối với khách hàng đã có quan hệ tín dụng cán bộ tín
dụng tiến hành kiểm tra hồ sơ vay, bộ hồ sơ vay, hướng dẫn khách hàng hoàn thiện
hồ sơ vay. Hồ sơ vay trung và dài hạn cần bao gồm: Giấy đề nghị vay vốn trung và
dài hạn; Tài liệu pháp lí về tổ chức kinh tế, các tài liệu chứng minh vốn điều lệ,
vốn đầu tư ban đầu; Dự án đầu tư và các tài liệu liên quan đến dự án đầu tư (luận
chứng kinh tế ký thuật); Tài liệu liên quan đến tình hình tài chính của bên vay
trong hai năm gần nhất và các quý của năm xin vay; Giấy tờ pháp lí liên quan đến

tài sản đảm bảo...
Cán bộ tín dụng làm đầu mối tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra tính đầy đủ, hợp pháp,
hợp lệ của hồ sơ khoản vay, hồ sơ pháp lý, hồ sơ đảm bảo tiền vay. Kiểm tra xem
mục đích vay vốn của phương án dự kiến đầu tưcó phù hợp với đăng ký kinh
doanh, kiểm tra tính hợp pháp của mục đích vay vốn...
Bước 2: Thẩm định dự án và khả năng trả nợ
Cán bộ tín dụng và cán bộ thẩm định chịu trách nhiệm tiến hành thu thập, xử
lý thông tin, thẩm định đánh giá khả năng của khách hàng trong hiện tại và tương
lai. Nội dung chủ yếu là đánh giá các thông tin liên quan đến khách hàng bao gồm:
năng lực sử dụng vốn vay, uy tín, khả năng tạo ra lợi nhuận và nguồn ngân quỹ,
quyền sở hữu tài sản và các điều kiện kinh tế khác có liên quan đến người vay.
Có thể nói đây là khâu quan trọng nhất, quyết định chủ yếu đến chất lượng
của khoản vay. Cán bộ tín dụng có thể thực hiện thông qua nhiều phương pháp
khác nhau như phỏng vấn trực tiếp, tham quan nhà xưởng của khách hàng; Mua
hoặc tìm kiếm các thông tin qua các trung gian hoặc thông qua các thông tin có
được từ các báo cáo của người vay. Từ đó, thực hiện việc thẩm định năng lực pháp
lý và năng lực kinh doanh của khách hàng, đánh giá đúng khả năng sinh lời và rủi
ro tiềm tàng mà ngân hàng cần đảm nhận.
Bước 3: Phê duyệt khoản vay và ký hợp đồng tín dụng
Sau khi ngiên cứu, thẩm định các điều kiện vay vốn, cán bộ tín dụng lập báo
cáo kiêm tờ trình cho vay theo mẫu kèm hồ sơ vay vốn trình cấp trên phê duyệt.
Căn cứ vào bộ hồ sơ cho vay, căn cứ ý kiến đề xuất của cán bộ thẩm định/tái
thẩm định, khoản vay sẽ được ban lãnh đạo Ngân hàng phê duyệt đồng ý cho vay,
cho vay có điều kiện hay không cho vay đối với những khoản vay vượt quyền phán

×