Tải bản đầy đủ (.docx) (37 trang)

TỔNG QUAN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (222.29 KB, 37 trang )

TỔNG QUAN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ
ÁN ĐẦU TƯ TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.Tổng quan về hoạt động tín dụng trung và dài hạn
1.1.1.Khái niệm tín dụng trung và dài hạn
• Tín dụng trung hạn:
Có thời hạn vay vốn từ 1-5 năm. Tín dụng này được cho vay đầu tư theo
chiều sâu hoặc mở rộng sản xuất các doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất
kinh doanh.
• Tín dụng dài hạn:
Có thời hạn vay vốn trên 5 năm. Tín dụng này được sử dụng để cấp vốn
xây dựng cơ bản như đầu tư xây dựng xí nghiệp mới, các công trình hạ tầng cơ
sở, cải tiến và mở rộng sản xuất có qui mô lớn.
1.1.2.Hình thức tín dụng trung dài hạn
• Cho vay bằng cách mua các trái phiếu
Các Ngân hàng mua các trái phiếu trung và dài hạn doanh nghiệp nhằm
tài trợ cho quá trình hình thành tài sản cố định . Kì hạn và khả năng chuyền đổi
của trái phiếu, lãi suất trái phiếu, tình hình tài chính doanh nghiệp, các kế hoạch
tương lai… đều được Ngân hàng tính khi mua trái phiếu.
• Cho vay theo dự án
Hoạt động tín dụng theo dự án đầu tư: đây là hình thức tín dụng trung dài
hạn chủ yếu của các Ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay. Khi khách hàng
có kế hoạch mua sắm, xây dựng tài sản cố định nhằm thực hiện dự án nhất định,
có thể xin vay Ngân hàng. Một trong những yêu cầu của Ngân hàng là người
vay phải xây dựng dự án, thể hiện mục đích, kế hoạch đầu tư cũng như quá trình
thực hiện dự án. Thẩm định dự án đầu tư là điều kiện để Ngân hàng quyết định
phần vốn cho vay và xác định khả năng hoàn trả của doanh nghiệp.
• Cho thuê tài chính:
Là hoạt động tín dụng trung dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài sản
giữa bên cho thuê là tổ chức tín dụng với khách hàng thuê. Khi hết thời hạn thuê,
khách hàng có thể thuê tiếp hoặc mua lại theo các thoả thuận trong hợp đồng thuê.
Trong thời hạn thuê các bên không được đơn phương huỷ bỏ hợp đồng. Cho thuê


giống một khoản vay thông thường ở chỗ Ngân hàng phải xuất tiền với kì vọng thu
về cả gốc lẫn lãi sau thời hạn nhất định, khách hàng phải trả gốc và lãi dưới hình
thức tiền thuê hàng kì.Tuy nhiên cho thuê có nhiều điểm khác biệt so với cho vay
như tài sản cho thuê vẫn thuộc sở hữu của ngân hàng, Ngân hàng có quyền thu hồi
nếu thấy người thuê không thực hiện đúng hợp đồng, đồng thời Ngân hàng cũng
phải cung cấp đúng loại tài sản cần cho khách hàng và phải bảo đảm về chất lượng
của tài sản đó.
• Bảo lãnh trung dài hạn mua thiết bị trả chậm:
Là cam kết của Ngân hàng về việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho chủ
đầu tư, đứng trả nhập thiết bị máy móc, thiết bị với thời hạn ít nhất là một năm
trong trường hợp khách hàng không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ với nhà xuất
khẩu. Hình thức này được áp dụng khi chủ đầu tư không đủ khả năng trả nợ
ngay một lần. Họ ký hợp đồng với bên xuất khẩu xin trả nợ dần theo giá trị của
thiết bị hàng năm dưới sự bảo lãnh của Ngân hàng. Hình thức này rất có lợi cho
chủ đầu tư vì họ không phải bỏ ra một khoản tiền lớn để mua máy móc thiết bị
mà khoản tiền nay sẽ được trả dần theo một chuỗi niên kim khi các máy móc
này sinh lời. Tuy nhiên, nếu chủ đầu tư không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ
cho nhà xuất khẩu thì Ngân hàng bảo lãnh phải đứng ra trả nợ thay cho chủ đầu
tư, lúc này Ngân hàng trở thành chủ nợ chính của nhà đầu tư.
1.2.Hoạt động thẩm định dự án đầu tư
1.2.1.Dự án đầu tư
1.2.1.1.Khái niệm
Dự án đầu tư là một tập hợp những đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn
để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định, nhằm đạt được
sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng của sản
phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian xác định (chỉ bao gồm hoạt động đầu
tư trực tiếp).
1.2.1.2. Phân loại dự án đầu tư
• Theo nguồn vốn
- Dự án đầu tư có vốn huy động trong nước:

Vốn trong nước là vốn hình thành từ nguồn tích luỹ nội bộ của nền kinh
tế quốc dân, bao gồm: Vốn Ngân sách nhà nước, vốn tín dụng đầu tư phát triển
của nhà nước, vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh, vốn đầu tư phát triển của
doanh nghiệp nhà nước, và các nguồn vốn khác.
- Dự án đầu tư có vốn huy động từ nước ngoài:
Vốn nước ngoài là vốn hình thành không bằng nguồn tích luỹ nội bộ của
nền kinh tế quốc dân, bao gồm: Vốn thuộc các khoản vay nước ngoài của Chính
phủ và các nguồn viện trợ quốc tế dành cho đầu tư phát triển, vốn đầu tư trực
tiếp của nước ngoài, vốn đầu tư của cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế và cơ
quan nước ngoài khác đầu tư xây dựng trên đất Việt Nam, vốn vay nước ngoài
do Nhà nước bảo lãnh đối với doanh nghiệp.
• Theo tính chất dự án
- Dự án đầu tư mới:
Là họat động đầu tư xây dựng cơ bản, nhằm hình thành các công trình
mới. Thực chất trong đầu tư mới, cùng với việc hình thành các công trình mới,
đòi hỏi có bộ máy quản lý mới.
- Dự án đầu tư chiều sâu:
Là họat động đầu tư xây dựng cơ bản, nhằm cải tạo, mở rộng, nâng cấp,
hiện đại hoá, đồng bộ hoá dây chuyền sản xuất, dịch vụ; trên cơ sở các công
trình đã có sẵn. Thực chất trong đầu tư chiều sâu, tiến hành việc cải tạo mở rộng
và nâng cấp các công trình đã có sẵn, với bộ máy quản lý đã hình thành từ trước
khi đầu tư.
- Dự án đầu tư mở rộng :
Là dự án nhằm tăng cường năng lực sản xuất – dịch vụ hiện có nhằm tiết
kiệm và tận dụng có hiệu quả công suất thiết kế của năng lực sản xuất đã có.
1.2.1.3. Chu trình một dự án đầu tư
Chu trình dự án đầu tư là các thời kỳ và các giai đoạn mà một dự án cần
phải trải qua, nó bắt đầu từ thời điểm có ý định đầu tư, cho đến thời điểm kết
thúc dự án.
• Giai đoạn 1 : Chuẩn bị dự án đầu tư

Trong giai đoạn này người ta phải tiến hành các công việc cụ thể như:
- Nghiên cứu cơ hội đầu tư ( hình thành ý tưởng đầu tư, bản giới thiệu cơ hội
đầu tư, tìm đối tác đầu tư)
- Nghiên cứu tiền khả thi ( dự kiến quy mô vốn, thị trường, kỹ thuật, công
nghệ, môi trường, tài chính, quản lý, nhân lực...)
- Nghiên cứu khả thi ( hồ sơ thẩm định, hồ sơ phê duyệt)
• Giai đoạn 2: Thực hiện dự án đầu tư
Trong giai đoạn này người ta phải tiến hành các công việc cụ thể như:
- Xây dựng công trình dự án ( chuẩn bị xây dựng, thiết kế chi tiết, xây lắp,
nghiệm thu đưa vào hoạt động)
- Dự án hoạt động ( chương trình sản xuất, công suất sử dụng, giá trị còn lại
vào năm cuối của dự án)
• Giai đoạn 3: Kết thúc dự án
- Đánh giá dự án sau khi thực hiện (thành công, thất bại, nguyên nhân)
- Thanh lý tài sản.
1.2.2. Thẩm định dự án đầu tư
1.2.2.1. Khái niệm
Thẩm định dự án đầu tư là qúa trình phân tích, rà soát, kiểm tra đánh giá
một cách toàn diện, khách quan , khoa học các khía cạnh của một dự án đầu tư
để khẳng định tính hiệu quả cũng như tính khả thi của dự án trước khi quyết
định đầu tư.
1.2.2.2. Qui trình , nội dung thẩm định dự án đầu tư
• Thẩm định sơ bộ
- Khi tiếp nhận hồ sơ, cán bộ tín dụng phải kiểm tra tính hợp pháp và tính đầy
đủ của hồ sơ dự án để có thể yêu cầu chủ đầu tư bổ sung, hoàn tất kịp thời.
- Sau đó cán bộ tìm hiểu uy tín người lập dự án, nếu là đơn vị thiết kế thì cần
tìm hiểu kinh nghiệm của họ trong việc luận chứng kinh tế của các dự án cùng
loại, còn đối với các doanh nghiệp sản suất thì phải xem họ có phải là những
nhà sản suất có uy tín và thành công trên thị trường hay không ?
- Tiếp theo cán bộ tín dụng sẽ tiến hành tiến hành tiếp xúc với chủ dự án và

các đơn vị giúp việc của họ để tìm ra động lực thúc đẩy doanh nghiệp đề xuất
dự án.
- Cuối cùng, cán bộ sẽ xem xét hiện trường và hiện trạng của doanh nghiệp, từ
đó đối chiếu và kiểm tra số liệu tình hình tài chính, tình hình sản suất kinh
doanh ghi trong hồ sơ dự án để có những điều chỉnh kịp thời.
• Thẩm định chính thức
Thẩm định yếu tố liên quan đến chủ đầu tư
 Năng lực pháp lý
- Tư cách pháp nhân của khách hàng vay : DNNN, Công ty TNHH, Công ty
Cổ phần, Công ty liên doanh, công ty 100% vốn nước ngoài, HTX…
- Năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi nhân sự của cá nhân vay vốn,
chủ DNTN, tổ hợp tác.
- Quyết định thành lập, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh ( theo luật
Doanh nghiệp)
- Điều lệ của doanh nghiệp
- Quyết định bổ nhiệm giám đốc, kế toán trưởng…
- Hợp đồng liên doanh, biên bản HĐQT phân công lao động, nghị quyết
HĐQT…
- Giấy phép kinh doanh, giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề , giấy phép kinh
doanh XNK, mã số hải quan..
- Loại hình hạch toán : hạch toán độc lập hay phụ thuộc
- Năng lực tài chính
Để đánh giá một cách cơ bản tình hình tài chính cuả doanh nghiệp, có thể sử
dụng thông tin kế toán trong nội bộ doanh nghiệp là nguồn thông tin quan trọng
nhất được hình thành thông qua việc xử lý các báo cáo kế toán và các chỉ tiêu quan
trọng sau:
 Khả năng thanh toán
◊ Khả năng thanh toán hiện hành.
Khả năng thanh toán hiện hành =
Tài sản lưu động

Nợ ngắn hạn
Tỷ số về khả năng thanh toán hiện hành là thước đo khả năng thanh toán
ngắn hạn của doanh nghiệp, nó cho biết mức độ các khoản nợ của các chủ nợ
ngắn hạn được trang trải bằng các tài sản có thể chuyển thành tiền trong một
giai đoạn tương đương với thời hạn của các khoản nợ đó
◊ Khả năng thanh toán nhanh.
Khả năng thanh toán nhanh =
Tài sản lưu động - Hàng hoá tồn kho
Nợ ngắn hạn
Tỷ số về khả năng thanh toán nhanh cho biết khả năng hoàn trả các
khoản nợ ngắn hạn không phụ thuộc vào việc bán tài sản dự trữ (tồn kho).
 Khả năng cân đối vốn
◊ Hệ số nợ.
Hệ số nợ =
Tổng số nợ
Tổng tài sản có
Hệ số nợ là tỷ số giữa tổng số nợ trên tổng tài sản của doanh nghiệp.
Tỷ số này được sử dụng để xác định nghĩa vụ của chủ doanh nghiệp đối
với các chủ nợ trong việc góp vốn. Hệ số này càng nhỏ càng tốt, nó phản ánh
khả năng trả nợ khi doanh nghiệp có nguy cơ phá sản.
◊ Tỷ số về khả năng thanh toán lãi vay.
Khả năng thanh toán lãi vay =
EBIT
Chi phí trả lãi
Tỷ số này cho biết mức độ lợi nhuận đảm bảo khả năng trả lãi hàng năm
như thế nào. Việc không trả được các khoản nợ này sẽ thể hiện khả năng doanh
nghiệp có nguy cơ bị phá sản.
 Khả năng hoạt động
◊ Kỳ thu tiền bình quân.
Kỳ thu tiền bình quân =

Các khoản phải thu
Doanh thu bình quân một ngày
Kỳ thu tiền bình quân là số ngày bình quân mà Doanh nghiệp phải thu
hồi khoản phải thu ngắn hạn. Số ngày trong kỳ thu tiền bình quân thấp, chứng tỏ
doanh nghiệp không bị ứ đọng vốn trong khâu thanh toán.
◊ Tỷ số vòng quay hàng tồn kho.
Tỷ số vòng quay hàng tồn
kho doanh thu thuần
=
Doanh thu thuần
Giá trị dự trữ bình quân
Tỷ số này đo lường mức doanh số bán liên quan đến mức độ tồn kho của
các loại hàng hoá thành phẩm, nguyên vật liệu. Nếu tỷ số này có giá trị thấp
chứng tỏ rằng các loại hàng hoá tồn kho quá cao so với doanh số bán.
◊ Hiệu suất sử dụng tài sản cố định.
Hiệu suất sử dụng tài
sản cố định
=
Doanh thu thuần
Tài sản cố định
Tỷ số này cho biết một đồng tài sản cố định tạo ra được bao nhiêu đồng
doanh thu trong một năm. Tỷ số này cao phản ánh tình hình hoạt động tốt của
doanh nghiệp đã tạo ra mức doanh thu thuần cao so với tài sản cố định.
Mặt khác, tỷ số này còn phản ánh khả năng sử dụng hữu hiệu tài sản các
loại.
◊ Tỷ số hiệu quả sử dụng toàn bộ tài sản.
Hiệu suất sử dụng
toàn bộ tài sản
=
Doanh thu thuần

Tổng tài sản có
Tỷ số này cho thấy hiệu quả sử dụng toàn bộ các loại tài sản của doanh
nghiệp, hoặc thể hiện một đồng vốn đầu tư vào doanh nghiệp đã đem lại bao
nhiêu đồng doanh thu.
 Khả năng sinh lãi
◊ Tỷ số doanh lợi tiêu thụ sản phẩm
Doanh lợi tiêu thụ
sản phẩm
=
Thu nhập sau thuế
Doanh thu thuần
Tỷ số này phản ánh cứ một đồng doanh thu thuần thì có bao nhiêu phần
trăm lợi nhuận. Có thể sử dụng nó để so sánh với tỷ số của các năm trước hay so
sánh với các doanh nghiệp khác.
◊ Tỷ số doanh lợi tài sản
Doanh lợi tài sản =
Thu nhập sau thuế
Tổng tài sản
Chỉ tiêu lợi nhuận trên tổng vốn đầu tư đo lường khả năng sinh lợi của
một đồng vốn đầu tư vào doanh nghiệp.
◊ Tỷ số doanh lợi vốn chủ sở hữu.
Doanh lợi vốn chủ sở
hữu
=
Lợi nhuận thuần
Vốn chủ sở hữu
Tỷ số này đo lường mức lợi nhuận trên mức đầu tư của các chủ sở hữu.
- Các khoản nợ phải trả của chủ đầu tư
Ngân hàng phải tiến hành xem xét, đánh giá các khoản nợ của khách hàng
bao gồm : nợ ngắn, trung, dài hạn, các khoản nợ đến hạn trong năm. Cán bộ tín

dụng phải tìm hiểu, quan tâm tới các khoản nợ quá hạn và nguyên nhân, các chủ
nợ của khách hàng có thể là nợ cũ, nợ Ngân hàng khác…. Vị trí cùa Ngân hàng
trong số các chủ nợ luôn được cán bộ tín dụng xem xét cẩn thận vì nếu Ngân
hàng là chủ nợ quan trọng nhất, thì Ngân hàng sẽ dễ dàng thu được nợ hơn là ở
các vị trí khác.
Thẩm định các yếu tố liên quan đến dự án đầu tư
- Thẩm định phương diện thị trường
◊ Cần phân tích đánh giá về nhu cầu sản phẩm của dự án đầu tư
- Nhu cầu thị trường thời điểm hiện tại ở thị trường trong nước và thị trường
nước ngoài
- Đối tượng , phương thức tiêu thụ sản phẩm : Bán buôn, bán lẻ, đại lý.
- Phân đoạn thị trường để đánh giá đối tượng tiêu thụ
- Tổng sản phẩm sản xuất trong nước tính cho công suất thực tế mà các nhà
máy đang làm. Tổng lượng xuất khẩu, nhập khẩu, lượng tồn kho hàng năm.
- Xác định nhu cầu của thị trường trong tương lai khi dự án đi vào hoạt động.
Xác định số lượng hoặc giá trị sản phẩm đã tiêu dùng trong những năm gần đây
để tìm ra quy luật biến động, dự kiến nhu cầu trong tương lai bằng cách dựa vào
tốc độ tăng trưởng bình quân.
◊ Đánh giá về cung của sản phẩm.
Nguồn cung trong thời điểm hiện tại
- Nguôn cung trong nước : Công suất, sản lượng của các nhà máy hiện có, khả
năng tự cung cấp trong dân cư
- Nguồn nhập khẩu : Nhập khẩu chính ngạch và tiểu ngạch
Nguồn cung trong tương lai
- Nguồn cung trong nước : Các nhà máy hiện có đang và sẽ được đầu tư mới,
dự kiến khả năng tự cung tự cấp trong dân cư
- Nguồn nhập khẩu : ước tính mức nhập khẩu dựa trên tốc độ tăng trưởng bình
quân hàng năm
◊ Tình hình cạnh tranh trên thị trường
- Suất đầu tư tổng thể, suất đầu tư thiết bị, công nghệ của dự án. So sánh với

các dự án đã vận hành, so sánh với mức bình quân ngành. Xúc tiến thương mại
khác : Quảng cáo, khuyến mãi sản phẩm , dịch vụ hậu mãi.
- Thị phần của sản phẩm, dịch vụ .
- Thế mạnh của sản phẩm, dịch vụ so với các sản phẩm, dịch vụ khác cùng
loại trên thị trường. Nghiên cứu khả năng tiêu thụ sản phẩm cùng loại trong thời
gian qua nhằm đánh giá khả năng tiêu thụ sản phẩm dự án cũng như các nhân tố
tác động, trên cơ sở quyết định quy mô đầu tư, lựa chọn thiết bị, công suất thích
hợp. Nghiên cứu về số lượng , qui mô của các đối thủ cạnh tranh , khả năng
cạnh tranh trong tương lai.
- Biện pháp tăng cường sức mạnh cạnh tranh (chất lượng sản phẩm, giá bán,
phương thức bán hàng, lựa chọn thị trường chủ yếu).
- Chính sách nhập khẩu, xuất khẩu (với sản phẩm hướng ngoại) đối với sản
phẩm của dự án. Các chính sách hạn chế, khuyến khích ưu đãi đối với phát triển
của ngành.
- Đánh giá khối lượng sản phẩm sự kiến tiêu thụ được, vòng đời sản phẩm :
sản phẩm ra đời mới đưa vào lưu thông, phát triển doanh thu bán hàng cao, bão
hòa, sản phẩm suy thoái.
- Thẩm định phương diện kỹ thuật, nhân lực, hạ tầng
◊ Quy mô dự án
- Đặc tính của sản phẩm : quy cách, phẩm chất, mẫu mã
- Công suất , sản lượng dự kiến năm.
- Khả năng cân đối vốn giữa công suất và tiêu thụ
◊ Công nghệ và trang thiết bị
- Mô tả công nghệ lựa chọn theo đặc trưng kinh tế kỹ thuật cơ bản , mức độ
tiên tiến của công nghệ, sự phù hợp của công nghệ với thị trường mục tiêu. Các
mặt hạn chế của công nghệ đã chọn. Sơ đồ quy trình công nghệ.
- So sánh với một công nghệ thiết bị khác về các chỉ tiêu, quy cách, chất lượng
sản phẩm, giá thành sản phẩm, năng suất…
- Lý do lựa chọn công nghệ
- Số lượng , công suất , quy cách , chủng loại , danh mục máy móc thiết bị, sự

đồng bộ của dây chuyền sản xuất.
- Kiểm tra tính phù hợp của công nghệ đối với dự án đầu tư. Liệu công nghệ
đó có phù hợp với điều kiện nước ta hay không, tính toán khả năng phát triển
của tương lai , tỷ lệ phụ tùng thay thế và điều kiện vận hành bảo dưỡng
- Giá cả, phương thức thanh toán : ảnh hưởng đến mức đầu tư, chi phí, rủi ro
lãi suất, rủi ro tỷ giá…
- Phương thức chuyển giao công nghệ : cung cấp tài liệu, số liệu kĩ thuật, cung
cấp bản vẽ thiết kế công nghệ, cá tài liệu hướng dẫn vận hành, bảo dưỡng….
◊ Nguyên nhiên vật liệu và các yếu tố đầu vào khác
- Mô tả về nguồn nguyên liệu, điều kiện khai thác, điều kiện, điều khoản mua
nguyên vật liệu.
- Đánh giá khả năng cung cấp nguyên vật liệu cho dự án đầu tư .
Cần xác định nguồn cung các nguyên liệu chính , nguyên liệu phụ ở trong
nước và nước ngoài.
Phương án vận chuyển và chi phí vận chuyển, đảm bảo cho nguyên nhiên
vật liệu được cung cấp hợp lý, kịp thời.
◊ Các điều kiện về nhân lực, cơ sở hạ tầng, môi trường.
- Bộ máy tổ chức quản lý của doanh nghiệp đối với dự án : Biên chế lao
động , Ban lãnh đạo, các phòng ban nghiệp vụ, các xưởng sản xuất. Phân biệt
hai trường hợp : dự án mở rộng; dự án đầu tư mới.
- Đánh giá nguồn cung cấp nhân lực : Tuyển dụng, đào tạo, đào tạo chuyển
giao công nghệ.
- Chế độ làm việc.
- Điều Kiện giao thông : Các tuyến đường vận tải, các phương tiện giao
thông.
- Hệ thống thông tin liên lạc, nguồn cung cấp điện nước, hệ thống thoát nước,
giải quyết phế thải, vệ sinh môi trường, các điều kiện khác về môi trường..
◊ Địa điểm và kế hoạch triển khai dự án
- Mô tả địa điểm : khu vực hành chính, môi trường xã hội, dân cư, các dịch vụ
công cộng.

- Lý do chọn địa điểm tổ chức dự án : tóm tắt về sự phù hợp với các điều kiện
trên
- Quy mô, giải pháp, kiến trúc
- Khả năng thi công của chủ đầu tư
- Tiến độ thi công, tiến độ thực hiện dự án.
- Thẩm định phương diện tổ chức và quản lý
◊ Hình thức kinh doanh : DNNN, DNTN, cty TNHH, Cty CP, Cty Liên
doanh, cty 100% vốn nước ngoài đối với dự án đầu tư mới.
◊ Quy mô doanh nghiệp lớn, vừa, nhỏ đối với dự án đầu tư mới.
◊ Mô hình tổ chức sản xuất, tổ chức quản lý của doanh nghiệp và dự án.
◊ Cơ chế điều hành nhân sự
- Thẩm định phương diện tài chính dự án đầu tư
Thẩm định tài chính dự án đầu tư là một khâu rất quan trọng trong quá
trình thẩm định dự án đầu tư. Nó ảnh hưởng rất nhiều tới doanh nghiệp cũng
như quyết định cho vay của Ngân hàng. Những nghiên cứu cụ thể hơn về vấn đề
này sẽ được trình bày trong phần tiếp theo.
- Thẩm định về khả năng trả nợ cho Ngân hàng.
Xuất phát từ quan điểm của tín dụng là bên vay vốn phải hoàn trả Ngân
hàng đầy đủ gốc và lãi vay để NHTM. Trong quá trình thẩm định DAĐT,
NHTM đặt biệt quan tâm đến khả năng hoàn trả của chủ đầu tư khi đến kỳ hạn
trả nợ. Khả năng trả nợ của chủ đầu tư phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Dự án
xin vay là DAĐT mới hay DAĐT chiều sâu, nguồn trả nợ chủ yếu trông đợi vào
khả năng sản xuất kinh doanh của dự án hay có những nguồn bổ sung nào khác.
Hiện nay, các NHTM đang xác định mức trả nợ từng lần theo công thức:
Tổng số nợ gốc phải trả
Số kỳ trả nợ dự kiến =
Số gốc trả mỗi kỳ
Tổng số nợ gốc phải trả
Số kỳ trả nợ dự kiến =
Lợi nhuận ròng + KHCB tài sản + Các nguồn khác

dành trả nợ CĐ từ vốn vay
Từ công thức trên, nếu sau khi đã dự kiến số kỳ trả nợ và biết tổng số nợ
gốc phải trả mỗi kỳ, NHTM có thể so sánh cân đối các nguồn thu từ dự án như
lợi nhuận vòng, khấu hao cơ bản cho TSCĐ và các nguồn khác xem khả năng
trả nợ có đảm bảo không.
- Thẩm định hiệu quả về mặt kinh tế - xã hội.
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của Nhà
nước, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh trong đó có hoạt động đầu tư nhất
thiết phải đước xem xét về mặt hiệu quả kinh tế – xã hội. Trong thực tế đánh giá
hiệu quả kinh tế – xã hội là một vấn đề hết sức rộng lớn và phức tạp. Nhưng có
thể thẩm định về phương diện này theo một số khía cạnh như : hiệu quả giá trị
gia tăng; khả năng tạo thêm việc làm và thu nhập cho người lao động; mức đóng
góp cho Ngân sách; góp phần phát triển các ngành khác; phát triển khu nguyên
vật liệu; góp phần phát triển kinh tế địa phương; tăng cường kết cấu hạ tầng
từng địa phương; phát triển các dịch vụ thương mại, du lịch địa phương.
1.3. Thẩm định tài chính dự án đầu tư
1.3.1. Khái niệm
Thẩm định tài chính dự án đầu tư là việc xem xét, đánh giá các bảng dự
trù tài chính, trên cơ sở đó xác định các lợi ích và chi phí tài chính của dự án, so
sánh các dòng tiền này trên cơ sở đảm bảo nguyên tắc giá trị thời gian của tiền
với chi phí và vốn đầu tư ban đầu để đưa ra kết luận về hiệu quả tài chính của
dự án và mức độ rủi ro của dự án. Thẩm định tài chính dự án đầu tư là giai đoạn
kiểm tra , rà soát , đánh giá lại toàn bộ các nôi dụng liên quan đến khía cạnh tài
chính của dự án để xác định hiệu quả tài chính của dự án được xem xét.
1.3.2. Sự cần thiết phải thẩm định tài chính dự án đầu tư
Một dự án đầu tư dù được tiến hành soạn thảo kỹ lưỡng đến đâu cũng
mang tính chủ quan của người soạn thảo. Vì vậy để đảm bảo tính khách quan
của dự án, cần thiết phải thẩm định. Người soạn thảo thường đứng trên góc độ
hẹp để nhìn nhận các vấn đề của dự án. Các nhà thẩm định thường có cách nhìn
rộng hơn trong việc đánh giá dự án. Thẩm định tài chính nhằm đánh giá khả

năng sinh lời để nhằm đáp ứng các nghĩa vụ tài chính của dự án, thông qua việc
tổng hợp các biến số tài chính kĩ thuật đã được tính toán trong phần thẩm đinh
trước để đưa ra những số liệu đầu vào cho việc tính toán hiệu quả kinh tế xã hội.
Thẩm định tài chính dự án có thể coi là nội dung quan trọng nhất trong quá
trình thẩm định dự án đầu tư.
• Đối với doanh nghiệp
Việc đầu tư vào dự án là một phương thức kinh doanh thu lợi nhuận,
nhưng hoạt động này cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Thông thường, các dự án có
thời hạn dài, vốn đầu tư lớn. Vì vậy, việc thẩm định tài chính cho dự án đầu tư
của doanh nghiệp là rất cần thiết. Mục tiêu cuối cùng của việc thẩm định tài
chính là trả lời câu hỏi: dự án có hiệu quả tài không? Dự án có hiệu quả thì
doanh nghiệp mới đảm bảo được khả năng thu hồi vốn, trả lãi vay, thực hiện
được mục tiêu lợi nhuận và an toàn. Thẩm định tài chính dự án giúp cho chủ
đầu tư lựa chọn được phương án đầu tư tốt nhất.
• Đối với Ngân hàng
Hoạt động cho vay có thể coi là hoạt động quan trọng nhất của Ngân
hàng thương mại. Thành công của một Ngân hàng tuỳ thuộc chủ yếu vào việc
thực hiện hoạt động tín dụng, xuất phát từ chính sách cho vay của Ngân hàng.
Trong các hoạt động cho vay của Ngân hàng thì cho vay theo dự án được Ngân
hàng đặc biệt quan tâm vì nó đòi hỏi vốn lớn, thời hạn kéo dài và rủi ro cao
nhưng lợi nhuận cao. Có rất nhiều các rủi ro khác nhau trong khi cho vay nói
chung và cho vay theo dự án nói riêng, xuất phát từ nhiều yếu tố và có thể dẫn
đến việc khách hàng không trả được nợ khi đến hạn. Do đó để có quyết định
chấp nhận cho vay, Ngân hàng cần phải đặc biệt xem trọng công tác phân tích
tín dụng nói chung và công tác thẩm định tài chính dự án nói riêng.
Nói đến dự án đầu tư là nói đến một số lượng vốn lớn và thời gian dài,
do vậy quyết định đầu tư sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến sự thuận lợi và phát triển
của Ngân hàng. Tuy nhiên không phải bất cứ dự án nào cần vốn thì Ngân hàng

×