Tải bản đầy đủ (.docx) (15 trang)

Một số vấn đề luận về vốn tín dụng NHNN&PTNT đối với phát triển kinh tế Hộ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (146.31 KB, 15 trang )

Một số vấn đề luận về vốn tín dụng NHNN&PTNT đối với phát triển kinh tế Hộ .
I) Lý luận cơ bản về kinh tế Hộ và các điều kiện phát triển kinh tế Hộ.
1)Khái niệm Hộ là gì?
Hộ là một trong các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh trong nông lâm, ngư nghiệp
và trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác, trong đó lấy sản xuất nông lâm, ngư nghiệp
là hoạt động chính. Hộ có lịch sử hình thành và phát triển từ rất lâu đời, hiện nay ở Việt
Nam Hộ vẫn là chủ thể kinh tế chủ yếu trong nông nghiệp, nông thôn.
Như vậy ta có thể trả lời được câu hỏi Hộ là gì?
Hộ là những Hộ mà các thành viên có tài sản chung để hoạt động kinh tế chung trong
quan hệ sử dụng đất, trong hoạt động sản xuất nông lâm, ngư nghiệp và trong một số
lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác do pháp luật quy định, là chủ thể trong các quan hệ
dân sự đó.
Hay chúng ta có thể hiểu theo cách khác:
Hộ là hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh trong nông lâm, ngư nghiệp và trong một
số lĩnh vực kinh doanh khác, bao gồm một nhóm người có cùng huyết tộc hoặc quan hệ
huyết tộc sống chung trong một mái nhà, có chung nguồn thu nhập, tiến hành các hoạt
động sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp với mục đích phục vụ cho các thành
viên trong Hộ.
2)Các điều kiện phát triển kinh tế Hộ.
-Vốn là điều kiện cần thiết và không thể thiếu được để thực hiện quá trình sản xuất kinh
doanh của Hộ trong lĩnh vực nông nghiệp và phi nông nghiệp ở nông thôn.
Ngoài ra các điều kiện để phát trỉên kinh tế Hộ có thể phân thành điều kiện chủ quan và
khách quan:
-các điều kiện khách quan: đây là những điều kiện vượt ra khỏi phạm vi giải quyết của
Hộ sản xuất và kinh doanh nông nghiệp và phi nông nghiệp ở nông thôn. Bao gồm
nhiều điều kiện trong đó cần lưu ý các điều kiện sau:
+Tiềm lực vật chất của Hộ
để Hộ hoạt động có hiệu quả, chủ động khai thác các tiềm năng, có vị thế trong quan hệ
trong quan hệ với các đối tượng…Hộ cần phải có tiềm lực và sức mạnh vật chất nhất
định, để đạt được những mục tiêu của Hộ cần phải sử dụng mọi biện pháp.
Tiềm lực vật chất là điều kiện cần thiết cho bất kỳ Hộ sản xuất nào hoạt động trong lĩnh


vực sản xuất kinh doanh. Nhưng đối với các Hộ sản xuất kinh doanh nông nghiệp sự
biểu hiện của nó càng trở nên đậm nét hơn, bởi vì mối quan hệ giữa các yếu tố trong
sản xuất ngoài sự chi phối của các quy luật kinh tế còn bị chi phối bởi các quy luật đặc
điểm sản xuất nông nghiệp, trong đó quy luật sinh học chi phối một cách mạnh mẽ, nhất
là các hoạt động sản xuất kinh doanh có đối tượng là những cây trồng vật nuôi có chu
kỳ sản xuất dài, yêu cầu đầu tư lớn, thu hồi vốn chậm.
+Hộ sản xuất kinh doanh cần phải có cơ chế quản lý phù hợp:
đây là điều kiện để Hộ sản xuất kinh doanh phát huy tính chủ động sang tạo khai thác
mọi tiềm năng, nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao. Trên thực tế lĩnh vực nông nghiệp
cũng chỉ với tiềm lực vật chất như cũ, vẫn các nhà quản trị đó, nhưng khi tiến hành các
chính sách vĩ mô có sự thay đổi theo hướng tạo sự năng động cho cơ sở, gắn lợi ích
người quản lý và người lao động với kết quả sản xuất thì hiệu quả sản xuất kinh doanh
của nganh của từng cơ sở sản xuất kinh doanh được nâng lên rõ rệt. có thể nói, cơ chế
là môi trường kinh tế pháp lý tạo những điều kiện thuận lợi như là những sợi dây vô
hình trói buộc các nhà quản trị tạo điều kiện pháp huy tinh năng động sang tạo trói buộc
họ trong các hoạt động quản trị kinh doanh.
-Các điều kiện chủ quan: đây là những điều kiện cơ sở sản xuất kinh doanh và chủ cơ
sở sản xuất kinh doanh có thể tạo ra được, bao gốm các điều kiện chủ yếu sau:
+Chủ sản xuất kinh doanh phải là những người có trình độ chuyên môn phù hợp, nhạy
bén với thị trường, quyết đoán và linh hoạt trong xử lý các tình huống.
+Cơ sở sản xuất kinh doanh phải xác định cơ cấu bộ máy quản lý phù hợp với điều kiện
và nhiệm vụ kinh doanh. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị phải đảm bảo các yêu cầu: tối
ưu linh hoạt, độ tin cậy lớn và tính kinh tế cao. Các chức năng quản trị trong cơ cấu bộ
máy quản trị phải được xác lập rõ rang, không chồng chéo, không hạn chế tính năng
động và tinh thần trách nhiệm của từng nhà quản trị trong bộ máy quản trị.
+Phải có đội ngũ cán bộ quản trị có đủ các tri thức cần thiết phục vụ cho kinh doanh và
phát triển kinh tế Hộ. những tri thức phục vụ cho phát triển kinh tế Hộ bao gồm những
kiến thức chung về kinh tế và quản lý kinh tế, những kiến thức về nghiệp vụ theo từng
chức năng và nghiệp vụ để phục vụ cho việc phát triển kinh tế của Hộ nói chung.
+Phải tạo lập được hệ thống thông tin xử lý thông tin một cách nhanh, nhạy và chính

xác. Để đảm bảo điều kiện này, cở sở sản xuất kinh doanh phải có tiềm lực kinh tế, các
đội ngũ cán bộ cán bộ quản lý có năng lực và nhiệt tình trong công việc. Nhà nước cần
có quy định về chế độ thống kê, kế toán thống nhất, cơ sở sản xuất kinh doanh cần tuân
thủ nghiêm ngặt các chế độ do nhà nước ban hành.
+Phải bí mật trong kinh doanh: trong cơ chế thị trường, bí mật trong doanh là điều kiện
quan trọng để đạt những mục đích kinh doanh của cơ sở. Bí mật trong kinh doanh bao
gồm bí mật trong ý đồ kinh doanh, trong giá cả, trong phương hướng thị trường và công
nghệ sản xuất. Về hiệu quả xã Hội, bí mật về công nghệ làm cho các thành tựu khoa
học và công nghệ chậm được phổ biến rộng, nhưng đối với cơ sở sản xuất kinh doanh,
đây là điều kiện để cơ sở sản xuất kinh doanh cạnh tranh với các cơ sở sản xuất kinh
doanh khác. Trên thực tế nhiều hãng cạnh tranh với nhau đã tìm mọi cách nắm được các
bí mật kinh doanh. Tình báo kinh tế đã trỏ thành lĩnh vực thu hút sức của, sức người
của mọi ngành, mọi cơ sở sản xuất kinh doanh của mọi nước. Tuy nhiên trong lĩnh vực
nông nghiệp tính chất cạnh tranh chưa thật khốc liệt. Ở Việt Nam tính bí mật trong kinh
doanh chủ yếu là bí mật về công nghệ sản xuất cũng đã được chú ý và có nơi tuân thủ
hết sức nghiêm ngặt. ví dụ, ở thái bình có bèo dâu làng la vân nổi tiếng, ở đó người ta
chỉ truyền nghề trong nội tộc trong làng. Phụ nữ dù là con cháu trong nhà nhưng nếu lấy
chồng ở địa phương khác cũng không được truyền nghề, vì giữ bí quyết nghề nghiệp.
II)Các vấn đề cơ bản về tín dụng của NHNN&PTNT cho phát triển kinh tế Hộ .
1)Khái niệm về tín dụng.
Tín dụng ngân hàng mang bản chất của quan hệ tín dụng. Đó là quan hệ vay mượn dựa
trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc, cả lãi sau một thời gian nhất định, là quan hệ chuyển
nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn, là quan hệ bình đẳng hai bên cùng có lợi, có nghĩa
là trong quan hệ tín dụng người cho vay chỉ chuyển nhượng quyền sử dụng cho người
đi vay, sau một thời gian nhất định theo thoả thuận người đi vay sẽ hoàn trả lại cho
người đi vay, sau một thời gian nhất định theo thoả thuận người đi vay sẽ hoàn trả lại
người cho vay một khoản tiền nhất định. Sự hoàn trả này không đơn thuần là bảo tồn về
mặt giá trị vốn tín dụng mà còn tăng thêm dưới hình thức lợi tức.
-Tín dụng ra đời, tồn tại và phát triển cùng với nền sản xuất hàng hoá, có thể nói tín
dụng ra đời làm cho quan hệ sản xuất hàng hoá phát triển mạnh phù hợp với thị trường,

hay có thể nói tín dụng là một nhân tố không thể thiếu để phát triển sản xuất hàng hoá.
-Những lượng tiền nhàn rỗi tạm thời được tập trung và đáp ứng nhu cầu vốn, kịp thời
phục vụ cho sản xuất và lưu thông, những lượng tiền nhàn rỗi có thể huy động trong
dân hay nhiều nguồn khác để cho sản xuất và lưu thông được diễn ra liên tục không bị
gián đoạn làm cho sản xuất và lưu thông phát triển làm cho xã Hội ngày càng phát triển
về mặt kinh tế.
-Cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá, tín dụng ngày càng phát triển cả về
nội dung và hình thức, nội dung của tín dụng rất đa dạng và hình thức thì ngày càng
nhiều, nội dung và hình thức tín dụng phát triển giúp phát triển nền kinh tế hàng hoá nói
riêng và nền kinh tế nói chung.
Vậy tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn giữa một bên là các ngân hàng, các tổ
chức tín dụng với bên kia là các doanh nghiệp và cá nhân khác là một nghiệp vụ tài sản
có của ngân hàng được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả có lãi.
2)Đặc điểm và vai trò của vốn tín dụng NHNN&PTNT đối với phát triển kinh tế Hộ.
2.1) Đặc điểm.
-Trong nền kinh tế hàng hoá, đặc điểm tuần hoàn vốn tiền tệ trong quá trình sản xuất
kinh doanh của các đơn vị là không hoàn toàn giống nhau.
-Do nhu cầu về vốn của các đơn vị tập thể, cá nhân khác nhau làm nảy sinh hiện tượng
chủ yếu phổ biến là trong cùng một thời gian có những đơn vị kinh tế phát sinh nhu cầu
về vốn tiền tệ cần được đáp ứng và bổ sung với khối lượng và thời gian nhất định.
-Để đầu tư vốn cho nông nghiệp, nông thôn mang lại hiệu quả kinh tế cao, cần phải
hiểu rõ những đặc điểm của đầu tư vốn. Đặc điểm của vốn đầu tư cho nông nghiệp
nông thôn trước hết biểu hiện ở đặc điểm hoạt động của vốn. Do đặc thù của sản xuất
nông nghiệp, vốn, sự huy động của vốn và sự hoạt động của vốn tín dụng cũng có đặc
điểm riêng:
+Nông nghiệp là ngành có nhiều đặc điểm mang tính đặc thù, trong đó tính nặng nhọc,
phức tạp của lao động, tính sinh lời thấp và tính rủi ro cao của sản xuất là những đặc
điểm có tính đặc trưng nhất. Với những đặc điểm này, nông nghiệp là ngành cần lượng
vốn đầu tư lớn, nhưng lượng vốn trong nội bộ ngành ít sức thu hút từ các ngành, lĩnh
vực khác của nền kinh tế quốc dân rất kém. Vì vậy nguồn vốn đầu tư qua ngân sách,

nguồn vốn tín dụng ưu đãi có ý nghĩa hết sức quan trọng.
+Nông nghiệp là ngành sản xuất sinh học, vì vậy ngoài những tư liệu lao động có nguồn
gốc kỹ thuật còn có những tư liệu lao động có nguồn gốc sinh học( cây trồng, vật
nuôi..)những tư liệu lao động này, một mặt thay đổi gia strị sử dụng thưo quy luật sinh
học, mặt khác chúng không thể có sự khôi phục từng bộ phận như máy móc. Hơn nữa
chu kỳ sản xuất của cây trồng, vật nuôi khá phức tạp. Tuỳ thuộc từng loại mà chu kỳ
sản xuất dài ngắn khác nhau( loại ngắn cũng phải 3 tháng, có loại thời gian kiến thiết cơ
bản dài tới 7 năm, chu kỳ kinh tế tới 40 năm như cây cao su) những yêu cầu về vốn theo
đặc điểm trên rất nghiêm ngặt. Vì vậy, chính sách đầu tư và cung cấp vốn phải tuân thủ
và phù hợp với từng loại cây trồng vật nuôi theo những đặc tính sinh học đó.
+Hoạt động sản xuất nông nghiệp, nông thôn lệ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên. Bởi
vì sự tác động của vốn vào quá trình sản xuất và hiệu quả kinh tế của nó không phải là
trực tiếp mà là gián tiếp thông qua đất, cây trồng, vật nuôi. Để đầu tư vốn có hiệu quả,
cơ cấu và lượng vốn phải phù hợp với yêu cầu của từng loại đất đai, từng đối tượng
sinh học.
Đặc biệt trong điều kiện hiện nay, môi trường sinh thái ngày càng xấu đi, điều kiện tự
nhiên ngày càng khắc nghiệt hơn làm cho tính rủi ro sản xuất ngày càng cao, tổn thất
ngày càng lớn và khó lường trước được. Trong bối cảnh đó vốn đầu tư cho nông nghiệp
cần một lượng rất lớn, nhiều khi đầu tư khó thu hồi (đầu tư cho phòng Hộ), khả năng
rủi ro của vốn rất cao.
+Ngoài ra tính thời vụ của sản xuất nông nghiệp một mặt làm cho sự tuần hoàn và luân
chuyển vốn chậm chạp, sự cần thiết phải dự trữ đáng kể trong thời gian tương đối dài
vốn lưu động( giống, thức ăn gia súc, phân bón….)làm cho vốn ứ đọng. Mặt khác đã
tạo ra sự cần thiết tập trung hóa cao hơn các phương tiện kỹ thuật cho một lao động
nông nghiệp(đặc biệt ở các nước kinh tế phát triển), vì vậy, yêu cầu vốn cho nông
nghiệp, nông thôn thường phải bổ sung một lượng lớn.
Đối với những nước có nền kinh tế kém phát triển, các Hộ nông dân chủ yếu sống bằng
nông nghiệp như Việt Nam, trong tình trạng thu nhập của từng Hộ và từng người còn
thấp khả năng tích luỹ trong nội bộ nông dân nhỏ, lực nội sinh không đủ giúp họ thoát
ra sự nghèo đói vì thế nông dân( kể cả những Hộ được coi là giàu) đang cần một lượng

vốn lớn để phát triển sản xuất.
Ở nước ta thời gian qua ngân sách nhà nước đã dành một số vốn đáng kể để đầu tư cơ
bản cho nông nghiệp( thuỷ lợi, khai hoang, xây dựng các vùng kinh tế mới, xây dựng
cơ sở quốc doanh, xây dựng các trạm trại kỹ thuật, các cơ sở chăn nuôi thú y…), nếu
tính theo giá 1990, vốn đầu tư cho nong nghiệp bình quân mỗi năm ở giai đoạn 1976-
1985 là 732 tỷ đồng, giai đoạn 1976-1980 là 704 tỷ đồng, giai đoạn 1981-1985 là 732 tỷ
đồng, giai đoạn1986-1990 là 673 tỷ đồng, tuy nhiên, nếu so với yêu cầu, với sự đóng
góp của nông nghiệp nông thôn cho nền kinh tế quốc dân thì mức đầu tư như trên là quá
thấp, trên thực tế những năm đó hàng năm nông nghiệp, nông thôn sáng tạo ra khoảng
50% thu nhập quốc dân, nhưng tỷ trọng vốn ngân sách đầu tư cho nông nghiệp, kể cả
thuỷ lợi năm cao nhất mới chiếm 21,2% ( thường ở mức 18%) trong khi đó, cơ sở vật
chất của nông nghiệp còn ở trong trình độ thấp, nhất là ở các vùng trung du và miền
núi(ở các vùng này, diện tích đất nông nghiệp được tưới tiêu nước chỉ đạt 26,3% trang
bị kỹ thuật đạt 27% yêu cầu).
Đầu tư vốn qua tín dụng cho nông nghiệp, nông dân cũng mới đáp ứng 50%-60% nhu
cầu, hiện nay, đại bộ phận nông dân thiếu vốn sản xuất và có nhu cầu vay vốn,nhưng
nguồn vốn cấp cho ngân hàng nông nghiệp cho vay chủ yếu thoả mãn với các điều kiện
của doanh nghiệp nông nghiệp của nhà nước, nhiều nông dân ( kể cả các trang trại)
chưa dám vay hoặc chưa được nguồn vốn nay, hiện nay có 2 ý kiến tría ngược nhau,
phía nông dân cho rằng thủ tục vay còn phiền hà, nông dân khó vay vốn ngân hàng,
phía ngân hàng cho rằng nông dân không tiếp cận và không có nhu cầu vay vốn. Nguồn
vốn ưu đãi chủ yếu phục vụ cho các Hộ nghèo, mức thu hút thấp và việc sử dụng vốn
rất kém hiệu quả, số vốn cho vay dài hạn và trung hạn dành cho nông nghiệp, nông thôn
ở mức thấp(5%-6% tổng vốn tín dụng cho nông nghiệp) và chủ yếu cho các hoạt động
phi sản xuất, thực thi các chính sách ưu đãi như cho vay tôn cao nền nhà ở đồng bằng
sông cửu long, xây dựng giao thông nông nghiệp, nông thôn…Đây là những vấn đề rất
bức xúc đòi hỏi chính sách đầu tư vốn phải xem xét một cách thấu đáo và giải quyết
một cách thoả đáng.
+Đa số Hộ vay vốn tín dụng với lượng vốn nhỏ, họ không giám vay khoản lượng vốn
lớn một phần là do phía ngân hàng nông nghiệp không dám cho các Hộ vay lượng vốn

lớn do lo sợ Hộ sẽ trả lãi và gốc chậm không đúng thời gian ảnh hưởng đến lượng vốn
của ngân hàng, một phần do tâm lý e ngại của người dân không dám vay lượng vốn lớn
họ chỉ dám vay lượng vốn nhỏ để sản xuất kinh doanh nhỏ ở nông thôn hay để đầu tư
vào sản xuất nông nghiệp nhưng với lượng vốn nhỏ, nhưng không phải Hộ nào cũng thế
có những Hộ sản xuất kinh doanh nhỏ muốn vay vốn lớn để mở rộng sản xuất kinh
doanh, chẳng hạn ở khu công nghiệp Minh Đức có Hộ làm nghề giấy tiền vay vốn ngân
hàng nghiệp với lượng vốn là 100-200 triệu để đầu tư mở rộng sản xuất .
+Vay vốn của ngân hàng nông nghiệp của các Hộ sử dụng vào nhiều mục đích, có Hộ
đầu tư để gieo trồng chăn nuôi, có Hộ đầu tư vào sản xuất kinh doanh nhỏ chẳng hạn
như: làm giấy tiền và hàng mã, hay làm đồ gỗ truyền thống,vay vốn ngân hàng không
nhất quyết là phải đầu tư vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp mà có thể đầu tư vào lĩnh
vực phi nông nghiệp vì vốn của ngân hàng nông nghiệp dùng để phát triển nông thôn
làm sao để nông thôn phát triển theo đúng định hướng của nhà nước, làm cho nông thôn
ngày càng phát triển thu hẹp khoảng cách giữa nông thôn và thành thị, góp phần nâng
cao dân trí hay thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam ngày càng tăng cao.
+Khả năng sử dụng vốn vay của các Hộ: có Hộ sử dụng vốn vay một cách linh động
thời gian thu hồi vốn ngắn lãi nhanh hoàn trả nợ ngân hàng thậm chí còn trước thời hạn,
tuy nhiên cũng có Hộ sử dụng vốn vay trì trệ, đa số những Hộ sử dụng vốn vay trì trệ
dơi vào các Hộ sản xuất nông nghiệp thuần tuý vì do đặc điểm sản xuất nông nghiệp
phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, mặt khác là do trình độ sản xuất của các Hộ đó
là thấp.
+Tính rủi ro của các Hộ sản xuất nông nghiệp thuần tuý là tương đối cao, thời gian thu
hồi vốn chậm, trong khi đó tính rủi ro của các Hộ sản xuất phi nông nghiệp là thấp hơn
vì họ không phù thuộc vào điều kiện tự nhiên nhiều mà họ chỉ phụ thuộc vào nhu cầu
thị trường vì thế họ sẽ sản xuất sao cho phù hợp với nhu cầu thị trường hay làm thế nào
để thu hồi vốn và có lãi một cách nhanh nhất,tóm lại tính rủi ro trong sản xuất nông
nghiệp là rất cao, tính rủi ro vốn trong sản xuất phi nông nghiệp là rất thấp.
2.2) Vai trò.
Như ta đã biết tín dụng ngân hàng là mối quan hệ giữa ngân hàng và các tổ chức tín
dụng khác với doanh nghiệp và cá nhân. Tín dụng ngân hàng giữ vai trò quan trọng

trong sự nghiệp phát triển kinh tế Hộ, từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển một cách
toàn diện.
-Tín dụng ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất đối với Hộ.
-Tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình tập trung sản xuất kinh tế Hộ.
-Tín dụng ngân hàng là công cụ hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp và các ngành nghề
khác ở nông thôn.
-Tín dụng ngân hàng góp phần đẩy mạnh quá trình đa dạng hoá kinh tế nông nghiệp-
nông thôn.
-Tín dụng ngân hàng hạn chế hiện tượng cho vay nặng lãi ở nông thôn, góp phần quan
trọng đặc biệt vào công cuộc xoá đói giảm nghèo của Đảng và nhà nước.
-Tín dụng ngân hàng kiểm soát bằng đồng tiền và thúc đẩy người nông dân thực hiện
hạch toán kinh tế.
-Tín dụng ngân hàng góp phần xoá đói giảm nghèo đối với Hộ nghèo ở nông thôn hiện
nay.
Vốn là điều kiện cần thiết và không thể thiếu được thực hiện quá trình sản xuất kinh
doanh của mọi ngành trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn vì vậy, việc đầu tư vốn cho
nông nghiệp nông thôn có vai trò hết sức quan trọng, điều đó được biểu hiện:
-Nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất quan trọng và cơ bản của nền
kinh tế quốc dân. Khác với các ngành sản xuất khác, nông nghiệp là ngành sản xuất
sinh học, phụ thuộc rất lớn vào điều kiện tự nhiên. Vì vậy, đây là ngành cần lượng vốn
lớn, nhưng lợi nhuận của ngành thấp, tính rủi ro cao. Trong điều kiện sản xuất hàng hoá
chi phối, những người sản xuất sẽ tập trung đầu tư vào những ngành, những lĩnh vực có
lợi nhuận cao, dẫn đến một số ngành đầu tư mang hiệu quả thấp sẽ không được chú ý
phát triển. Nông nghiệp nông thôn là ngành và lĩnh vực rơi vào tình trạng đó, do vậy,
nông nghiệp nông thôn phát triển nhanh hay chậm phụ thuộc rất lớn vào việc đầu tư của
nhà nước, trong đó có đầu tư vốn.
Đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn là yếu tố quyết định để phát huy tiềm năng về đất
đai, sức lao động và các nguồn lợi tự nhiên khác nhằm cải biến nông nghiệp, nông thôn
từng bước theo kịp với các ngành, các lĩnh vực khác trong phát triển kinh tế xã Hội.
-Ngoài những vấn đề trên, nông nghiệp, nông thôn còn là ngành, lĩnh vực chứa đựng

nhiều mối quan hệ kinh tế- xã Hội phức tạp. Đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn còn
giải quyết các vấn đề xã Hội nan giải (xóa đói giảm nghèo, bài trừ các hủ tục lạc
hậu…), thực hiện các chính sách xã Hội, một vấn đề hết sức quan tâm ở hầu hết các
nước và các tổ chức quốc tế.
Đối với nước ta, đầu tư cho nông nghiệp nông thôn có vai trò hết sức quan trọng ngoài
vấn đề nêu trên còn do:
-Nông nghiệp nông thôn nước ta có vị trí rất quan trọng. Trong nhiều năm chúng ta chỉ
chú ý đến nông nghiệp, lãng quên địa bàn nông thôn: Vì vậy kinh tế nông thôn nước ta
chủ yếu là thuần nông với cơ sở vật chất nghèo nàn, kết cấu hạ tầng thấp kém, sự cách
biệt giữa nông thôn và thành thị, giữa nông nghiệp với các ngành ngày càng lớn.
-Những năm trước đây, trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung khi chú ý đầu tư cho nông
nghiệp, chúng ta cũng có những sai lầm trong nội dung và phương thức đầu tư, vì vậy
hiệu quả của vốn đầu tư chưa cao. Những năm gần đây, nhờ có những thay đổi về nội
dung và phương thức đầu tư, nông nghiệp, nông thôn đã đạt được những kết quả đáng
khích lệ và những bước tiến đáng kể, tuy vậy, vẫn ở trình độ phát triển thấp, đời sống
nhân dân nông thôn còn thấp kém( nhất là ở vùng núi) sự cách biệt giữa thành thị và
nông thôn vẫn còn lớn và có xu hướng tăng.
Từ những vấn đề nêu trên, để thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn phát triển sản xuất hàng
hoá theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, từng bước xoá bỏ sự cách biệt với thành
thị và các ngành khác, vốn đóng vai trò hết sức quan trọng, nông thôn nước ta hiện nay
đang thiếu vốn để sản xuất, để mở rộng ngành nghề và dịch vụ, để xây dựng kết cấu hạ
tầng. Cần thiết phải đầu tư vốn cho nông nghiệp, nông thôn( một địa bàn rất quan trọng)
nhằm thực hiện thắng lợi chiến lược phát triển kinh tế- xã Hội của đất nước đến năm
2010 như nghị quyết đại Hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã vạch ra.
3)Chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả của vốn tín dụng NHNN&PTNT cho phát triển
kinh tế Hộ.
Để đánh giá hiệu quả của vốn tín dụng cho phát triển kinh tế Hộ ở đây chúng ta phải
đánh giá kết quả và hiệu quả của đất đai, lao động, tư liệu sản xuất, mặt khác kinh tế Hộ
ở đây bao gồm Hộ sản xuất trồng trọt, chăn nuôi và phi nông nghiệp vì vây ta phải đánh
giá tất cả các vấn đề nêu trên.

×