Tải bản đầy đủ (.docx) (24 trang)

GIẢI PHÁP MỞ RỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO Ở NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI VIỆT NAM

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (180.22 KB, 24 trang )

GIẢI PHÁP MỞ RỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO Ở NGÂN
HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI VIỆT NAM
3.1. CHIẾN LƯỢC XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO CỦA NHCSXH VIỆT NAM TRONG THỜI
GIAN TỚI
Theo chuẩn nghèo của Chương trình xóa đói giảm nghèo quốc gia áp dụng cho
giai đoạn 2000-2005, đầu năm 2000, Việt nam có khoảng 2,8 triệu hộ nghèo, chiếm
17,2% tổng số hộ trong cả nước (cả nước có khoảng 16,3 triệu hộ). Trong giai đoạn
tới (2006-2010), Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Bộ LĐ, TB&XH xây dựng chuẩn
nghèo theo hướng tiếp cận dần với chuẩn nghèo quốc tế thì dự kiến hộ thuộc diện đói
nghèo giai đoạn này chiếm khoảng 30% tổng số hộ (khoảng 4,9 triệu hộ). Hơn nữa,
theo tính toán, những người vẫn nghèo tới năm 2010 ở Việt Nam chính là bộ phận “rất
khó thoát nghèo”, khoảng 37% người nghèo sẽ là dân tộc thiểu số, trong khi các dân
tộc thiểu số chỉ chiếm có 13% dân số, đồng thời, rất nhiều trong số hộ nghèo sẽ là
những hộ di cư ra thành thị.
Bảng 4: DỰ TÍNH TÌNH TRẠNG NGHÈO ĐÓI CỦA VIỆT NAM TỚI NĂM 2010
Chỉ tiêu 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Tỷ lệ hộ nghèo theo
tiêu chuẩn quốc tế (%)
Tỷ lệ hộ nghèo theo
tiêu chuẩn quốc gia (%)
Số hộ nghèo theo tiêu
chuẩn quốc gia
(triệu hộ)
30
17
2,7
30
17
2,7
29
25


4
27
23
3,7
25
24
3,4
22
19
3,1
19
16
2,6
Nguồn: Dự báo của NHCSXH.
Với những yêu cầu của thực tế đặt ra trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, dưới
sự chỉ đạo của các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương, đặc biệt với tâm
huyết và lòng nhiệt tình của những cán bộ làm công tác xóa đói giảm nghèo,
NHCSXH đã nỗ lực phấn đấu, từng bước vượt khó khăn, phấn đấu hoàn thành chương
trình và mục tiêu kế hoạch năm 2003. Trong thời gian tới, NHCSXH tiếp tục phát huy
vai trò của nguồn vốn chính sách xã hội là chiếc cầu để đưa người nghèo chuyển từ
kinh tế tự cung, tự cấp đi sang sản xuất hàng hoá theo kinh tế thị trường.
Vốn hiện đang là vấn đề quan trọng nhất của ngân hàng. NHCSXH đã tính toán
nhu cầu vốn của hộ nghèo trong giai đoạn tới (2005-2010) trong điều kiện số hộ
nghèo và nhu cầu vay có sự gia tăng so với hiện tại. Theo tính toán của ngân hàng, so
với dư nợ bình quân hiện nay là 2,9 triệu đồng/hộ, mức cho vay tối đa thông thường là
7-10 triệu đồng/hộ thì mức cho vay tối đa dự kiến trong thời gian tới ở mức 15-20
triệu đồng/hộ và dư nợ bình quân là 7 triệu đồng/hộ. Đồng thời, ngân hàng cũng tính
toán dựa trên mục đích sử dụng vốn của hộ nghèo không chỉ cho hoạt động sản xuất
kinh doanh mà sẽ cho vay tăng lên đối với các nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của hộ như:
thuốc chữa bệnh, nước sinh hoạt, sửa nhà, tiền học cho con cái…

Trước tình hình đó, ngân hàng cần mở rộng các hình thức huy động vốn trong
xã hội và tranh thủ các nguồn vốn từ nước ngoài. NHCSXH hình thành và phát triển
các công cụ để huy động được các nguồn lực trong toàn dân, đảm bảo sự nghiệp xóa
đói giảm nghèo trở thành sự nghiệp của toàn xã hội. Tiến tới từng bước thực hiện bản
chất vốn có của một trung gian tài chính là “đi vay để cho vay” với phương châm
trước mắt coi trọng các nguồn vốn có lãi suất thấp và coi trọng công tác thu nợ - thu
lãi, nâng cao dần vòng quay vốn để ngày càng nhiều hộ nghèo được tiếp cận với vốn
của ngân hàng. Triệt để khai thác mọi nguồn vốn trong dân cư nhằm tiến dần đến sự
độc lập tương đối trong hoạt động của ngân hàng. Qua đó, đảm bảo sự bền vững và ổn
định trong hoạt động của ngân hàng, để vốn của ngân hàng đến với hộ nghèo càng
nhiều và càng lâu dài càng tốt. Đồng thời, nâng cao vị thế của ngân hàng trong hệ
thống tài chính của đất nước và trong con mắt của các tổ chức nước ngoài. NHCSXH
tiến tới là tổ chức tín dụng đầu tiên bền vững thật sự, cung cấp tín dụng cho người
nghèo một cách hiệu quả.
Về dư nợ cho vay hộ nghèo, ngân hàng tính toán trên cơ sở dự tính về nhu cầu
vốn của hộ nghèo tới năm 2010: dư nợ cho vay bình quân là từ 4-7 triệu đồng/hộ, tổng
dư nợ cho vay hộ nghèo đạt 9.500 tỷ đồng đến 18.000 tỷ đồng. Căn cứ vào nhu cầu
của hộ nghèo để cho vay vốn nhằm đảm bảo nguyên tắc vốn đến tay người cần vốn,
đạt hiệu quả kinh tế, chính trị và xã hội. Để làm được điều này, trong thời gian tới,
NHCSXH cấp cơ sở sẽ phối hợp chặt chẽ với các tổ chức liên quan tại địa phương để
tiến hành thu thập thông tin, đánh giá và phân tích khách hàng, trên cơ sở đó, tổng hợp
và xây dựng kế hoạch cho vay và huy động vốn. Thực tế cho thấy, việc thiếu thông tin
về khách hàng nhiều khi được xem như là một nguyên nhân vì sao hộ nghèo không
dám vay vốn ngân hàng và vì sao họ được coi là những khách hàng vay bấp bênh
nhất. Mặt khác, ngân hàng kiên quyết không để bất kỳ người nào, tổ chức nào xâm
tiêu tiền vốn của ngân hàng. Đối với các trường hợp có khả năng trả nợ nhưng cố tình
chây ỳ, NHCSXH kết hợp với cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương có các biện pháp
thích hợp, kể cả biện pháp cưỡng chế để thu hồi nợ. Đảm bảo nguồn vốn xóa đói giảm
nghèo được bảo toàn và phát triển.
Tổ chức triển khai tốt hơn các hoạt động tuyên truyền, quảng bá về NHCSXH

qua các phương tiện thông tin đại chúng nhằm tạo dựng lòng tin với nhân dân về một
địa chỉ tin cậy, một mô hình trung gian tài chính đúng đắn, bạn đồng hành của người
nghèo trên con đường xóa đói giảm nghèo. Qua đó, từng bước cải thiện tình hình huy
động vốn của ngân hàng trên thị trường.
Ban lãnh đạo NHCSXH đang xây dựng chiến lược hoạt động của ngân hàng
theo hai giai đoạn. Hiện ngân hàng đang ở giai đoạn một với đặc trưng là chủ yếu dựa
vào nguồn vốn ưu đãi, lãi suất thấp để cho vay với lãi suất ưu đãi đến các đối tượng
chính sách. Giai đoạn hai là giai đoạn mà NHCSXH đã cơ bản hoàn thành được
nhiệm vụ cho vay xóa đói giảm nghèo và cần thiết phải tự đứng vững trên đôi chân
của mình, từng bước khẳng định vị thế của ngân hàng trên thị trường tài chính. Theo
đó, vốn để cho vay của ngân hàng là từ các nguồn tự huy động trên thị trường từ các
tổ chức kinh tế và cộng đồng dân cư theo cơ chế lãi suất thị trường kết hợp với nguồn
hỗ trợ từ Nhà nước và địa phương. Về các đối tượng cho vay, ngoài những đối tượng
chính sách, ngân hàng còn tiếp tục cho vay các hộ đã thoát nghèo tiến tới làm giàu. Cơ
chế lãi suất trên cơ sở tính đủ các chi phí cần thiết. Để có thể cạnh tranh với các
NHTM khác, NHCSXH tiếp tục duy trì và mở rộng một số chính sách ưu đãi như:
(i) ưu đãi về điều kiện vay vốn thông qua tăng mức cho vay tối đa không phải thế
chấp tài sản (ii) tư vấn miễn phí đối với khách hàng đến vay vốn (iii) đơn giản hoá
thủ tục vay vốn…Kết hợp chặt chẽ với các tổ chức ở địa phương để hỗ trợ hộ
nghèo sử dụng vốn vay hiệu quả, tránh thất thoát và lãng phí vốn.
3.2. GIẢI PHÁP MỞ RỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO Ở NHCSXH VIỆT
NAM
Thứ nhất, đa dạng hóa các nguồn vốn của ngân hàng:
Việc huy động vốn đối với một trung gian tài chính bình thường đã là không
dễ, đối với NHCSXH còn khó hơn nhiều. Nhưng khi mà nhu cầu về vốn cho vay các
đối tượng chính sách đang ngày càng tăng thì có một kế hoạch huy động vốn phù hợp,
đầy đủ và kịp thời là không thể thiếu của ngân hàng.
Trong giai đoạn đầu mới đi vào hoạt động, khi mà ngân hàng vẫn đang thực
hiện cho vay theo lãi suất ưu đãi thấp hơn lãi suất huy động vốn hiện nay của các
NHTM thì việc huy động vốn theo lãi suất thị trường là không đơn giản. Do vậy, trong

thời gian tới, ngân hàng cần tiếp tục tập trung huy động các nguồn vốn có lãi suất
thấp. Các nguồn vốn ngân hàng có được từ cho, tặng, tiền gửi tự nguyện không phải
trả lãi hoặc lãi suất thấp. Xóa đói giảm nghèo là sự nghiệp có tính chất xã hội hóa, là
nhiệm vụ thường xuyên của các cấp chính quyền, đoàn thể, các cơ quan, tổ chức và cá
nhân. NHCSXH nên phát động các phong trào, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ
biến để tranh thủ các khoản vốn tạm thời nhàn rỗi chưa sử dụng, vốn quyên góp, ủng
hộ, tiền gửi không lấy lãi của các cơ quan, tổ chức và cá nhân. Các khoản tiết kiệm
trong cộng đồng người nghèo cũng cần được ngân hàng quan tâm hơn. Nguồn này tuy
không lớn nhưng là vốn ổn định và có chi phí thấp (theo tính toán của NHCSXH lãi
suất nguồn này vào khoảng 0,26%/tháng). Để huy động được nguồn này, ngân hàng
quy định bắt buộc đối với tất cả các thành viên trong Tổ tiết kiệm và vay vốn phải
thực hiện đóng góp tiết kiệm ban đầu và tiết kiệm định kỳ hàng tháng, khoản tiền này
được hưởng lãi suất không kỳ hạn (0,15%/tháng). Cuối cùng, NHCSXH đẩy mạnh
huy động vốn từ các tổ chức nước ngoài như vốn ODA (lãi suất từ 0,06%-
0,17%/tháng, thời gian sử dụng dài, có thời gian ân hạn), vốn cấp theo các dự án…
Về lâu dài, các nguồn vốn theo lãi suất thị trường sẽ quyết định khả năng bền
vững của ngân hàng. Để huy động được các nguồn vốn này thì NHCSXH phải chấp
nhận cạnh tranh với các NHTM khác để chiếm lĩnh thị phần, tức là các vấn đề về lãi
suất huy động, phương thức huy động, năng lực, uy tín của ngân hàng sẽ là yếu tố
quyết định. Ít ai có tiền nhàn rỗi lại chịu gửi vào NHCSXH trong khi lãi suất của các
tổ chức khác cao hơn rất nhiều. Tuy vậy, thực tế cũng cho thấy rằng, lãi suất chỉ là
một trong hàng loạt yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu về các dịch vụ tiết kiệm. Các yếu
tố khác bao gồm: sự an toàn, tính thuận tiện, bảo hiểm tiền gửi, quyền lợi của người
gửi tiền được xác định rõ ràng... cũng quan trọng không kém trong việc thu hút tiền
tiết kiệm của khách hàng. Song, NHCSXH dường như vẫn chưa quan tâm đúng mức
đến những khía cạnh này, công cụ huy động không đa dạng, thiếu độ tin cậy đối với
khách hàng, thiếu khả năng tiếp cận, hoạt động quảng cáo nghèo nàn và thiếu tinh
thần trách nhiệm là những yếu tố hạn chế khả năng huy động tiết kiệm của ngân hàng.
Khi ngân hàng tiếp xúc với khách hàng chỉ là những người đi vay thì họ thường bỏ qua thông tin hữu ích
về hành vi tiết kiệm của những khách hàng này. Những thông tin đó có thể giúp đánh giá độ tin cậy đối với khách

hàng tốt hơn. Hơn nữa, người đi vay sẽ có nhiều khả năng trả nợ đúng hạn hơn và người cho vay phải có trách
nhiệm cao hơn đối với việc thu hồi vốn cho vay khi họ biết rằng vốn có được là từ những người hàng xóm láng
giềng chứ không phải từ Chính phủ hay các nguồn tài trợ giàu có.
Hình thức huy động vốn thông qua mở tài khoản tiền gửi thanh toán cũng nên
được ngân hàng xém xét. Tiền gửi thanh toán của khách hàng là nguồn vốn rẻ nhất đối
với ngân hàng. Đặc biệt đối với các hộ làm kinh tế ở vùng sâu, xa, những nơi cách xa
với thị trường tiêu thụ hàng hoá thì việc sử dụng các dịch vụ thanh toán qua ngân
hàng sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí và thời gian của họ. Tuy nhiên, để thực hiện
được thì đòi hỏi ngân hàng phải có Trung tâm thanh toán, tham gia vào hệ thống thanh
toán liên ngân hàng, áp dụng các công nghệ mới và hiện đại, tạo được niềm tin trong
khách hàng về sự an toàn, bí mật và thuận tiện của hệ thống thanh toán đó.
NHCSXH nên thiết kế và áp dụng hình thức tài khoản tiền gửi không kỳ hạn
với nhiều mức lãi suất khác nhau tuỳ thuộc vào số dư trên tài khoản của khách
hàng. Điều quan trọng đối với khách hàng là lãi suất phải dương và tiền của họ
không bị giảm giá trị vì lạm phát. Việc ngân hàng không giới hạn mức số dư tối
thiểu sẽ thu hút được nhiều khách hàng vì trên thực tế khách hàng chỉ đến gửi tiền
tại ngân hàng khi họ có một số tiền tương đối, thường là lớn và họ vốn không có
thói quen hoặc cảm thấy ngại khi gửi tiết kiệm những món tiền nhỏ vì nhiều ngân
hàng cũng miễn cưỡng khi tiếp nhận số tiền nhỏ. Sản phẩm này sẽ kết hợp được
nhiều điểm lợi như: khả năng rút tiền dễ dàng (không kỳ hạn), mức lãi suất tăng
dần (khuyến khích tiết kiệm), có tính hấp dẫn cao đối với người nghèo (không quy
định số dư tối thiểu) và các đối tượng khách hàng khác. Đồng thời, các sản phẩm
tiền gửi khác biệt nhau về lãi suất và kỳ hạn sẽ khuyến khích khách hàng tìm kiếm
sự cân bằng hợp lý giữa lợi nhuận của các khoản tiền gửi với sự ưa thích về tính
thanh khoản.
Nhu cầu vốn trung và dài hạn của NHCSXH là rất lớn, trong khi đó ngân hàng
được phép phát hành trái phiếu ra thị trường. Do vậy, ngân hàng nên sớm có kế hoạch
triển khai việc phát hành trái phiếu trung và dài hạn có sự bảo lãnh của Chính phủ.
Thiết nghĩ, nếu NHCSXH phát hành trái phiếu ra thị trường nhằm mục tiêu huy động
vốn cho sự nghiệp xóa đói giảm nghèo, đồng thời trái phiếu đó lại được sự bảo lãnh

của Chính phủ thì chắc chắn sẽ được đông đảo dân chúng hưởng ứng tham gia. Một
nguồn vốn mà NHCSXH đang bỏ qua là vay vốn từ Bảo hiểm xã hội. Theo tính toán,
ngân hàng có thể vay khoảng 1.000 tỷ đồng từ BHXH trong thời gian khoảng 60
tháng.
Các hình thức khuyến khích người gửi tiền như phát hành xổ số, trao giải
thưởng, tặng quà... đã tỏ ra rất thành công trong việc khuyến khích tăng tiết kiệm tại
các nước đang phát triển, nên các hình thức này cũng cần được NHCSXH nghiên cứu,
xem xét. Ví dụ trường hợp của Ngân hàng nhân dân Inđonexia sau khi khảo sát đã
thấy rằng người gửi tiết kiệm thích có cơ hội nhận được quà khi họ mở tài khoản tiết
kiệm nên ngân hàng đã thực hiện trao các phần thưởng may rủi cho mỗi một sản phẩm
tiết kiệm của họ. Các hình thức sổ xố cần được thiết kế theo hướng khuyến khích tiền
gửi không kỳ hạn cũng như tiền gửi trung và dài hạn. Các nỗ lực huy động tiết kiệm
cần được hỗ trợ bởi quá trình quảng cáo, trong đó nhấn mạnh đến: khả năng tiếp cận
dễ dàng, đơn giản, tính an toàn của khoản tiền gửi (ở nhiều nước khách hàng thỉnh
thoảng được tới xem két sắt nơi tiền của họ được giữ), dễ rút tiền khi cần thiết…Bộ
mặt của ngân hàng thông qua việc trang trí ở Hội sở, các chi nhánh và cách thức đón
tiếp khách hàng của nhân viên ngân hàng cũng có tác động quan trọng đến việc đánh
giá của khách hàng về tiềm lực của ngân hàng. Hiện nay, khi mà NHCSXH chỉ mới
thành lập đến các phòng giao dịch ở cấp huyện thì có thể áp dụng hình thức ngân hàng
lưu động thông qua việc cử nhân viên ngân hàng định kỳ đến tận các thôn, bản để giới
thiệu sản phẩm và thu tiền tiết kiệm…NHCSXH có thể tham khảo áp dụng hình thức
khoán mức tiền tiết kiệm huy động được từng thời kỳ đối với mỗi cán bộ ngân hàng
tại các chi nhánh như đã được áp dụng đối với hệ thống NHNo. Qua đó sẽ kích thích
tính năng động, tự chủ của các chi nhánh, cán bộ. Nếu chi nhánh huy động được đủ
vốn với chi phí thấp thì sẽ được trích một phần vào thu nhập của chi nhánh.
Cuối cùng, ngân hàng nên quan tâm đến hình thức truyền miệng vì đây là hình
thức quảng cáo đơn giản mà hiệu quả nhất. Để đảm bảo tính xác thực trong việc
truyền miệng, dịch vụ huy động tiết kiệm phải đúng hạn, chu đáo và trung thực. Tiền
của các hộ nghèo là tiền họ kiếm được từ mồ hôi và nước mắt, nếu ngân hàng mất uy
tín một lần thì việc lôi kéo hộ đó đến với ngân hàng lần sau sẽ không dễ dàng.

Thứ hai, từng bước xoá bỏ chính sách cho vay theo lãi suất ưu đãi
Lãi suất là giá cả quan trọng nhất của nền kinh tế, là tín hiệu định hướng cho
các quyết định đầu tư.
Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về lãi suất cho vay ưu đãi đối với hộ
nghèo, tựu chung lại có hai quan điểm:
Thứ nhất, cho vay theo lãi suất ưu đãi đặc biệt, thấp hơn lãi suất huy động trên
thị trường. Quan điểm này cho rằng, hộ nghèo và các đối tượng chính sách nói chung
là có khó khăn về tài chính, đang ở những vùng, những lĩnh vực kinh tế cần được ưu
tiên đầu tư nên phải sử dụng công cụ lãi suất để kích thích đầu tư, giảm bớt khó khăn
về tài chính. Do dó cho vay với lãi suất càng thấp càng tốt.
Thứ hai, cho vay theo lãi suất thị trường để giúp người vay quen dần với sân
chơi bình đẳng trong nền kinh tế thị trường, kinh tế hàng hoá, mặt khác giúp giảm nhẹ
gánh nặng cho NSNN và đảm bảo tính bền vững cho các tổ chức tín dụng cho vay,
phù hợp với xu hướng hội nhập khu vực và hội nhập quốc tế.
Hai quan điểm trên đều có những mặt tích cực và mặt đúng của nó, vấn đề là
vận dụng trong điều kiện nào cho phù hợp. Quan điểm thứ nhất là quan điểm truyền
thống, lãi suất được coi là phù hợp với các khoản cho vay đối với hộ nông dân nghèo
là chúng cần được giữ ở mức thấp để thúc đẩy sự phát triển nông nghiệp và hỗ trợ
người nghèo ở nông thôn. Tuy nhiên, một điều trở nên rõ ràng trong những năm đầu
thập kỷ 70 là những món vay với lãi suất thấp đã gặp khó khăn ở hầu hết các nước
đang phát triển. Những khó khăn này không phải do những vấn đề điển hình của riêng
từng nước mà do chính sách lãi suất thấp, các khoản tín dụng rẻ tỏ ra không làm tăng
sản lượng nông nghiệp hoặc khuyến khích việc áp dụng các công nghệ nông nghiệp
mới và thường không đến được tay các hộ nông dân nghèo, làm cho tình trạng nghèo
đói ngày càng trở nên trầm trọng. Hơn nữa, lãi suất thấp thường đánh giá thấp khả
năng tự chủ tài chính của người cho vay và ngăn cản việc huy động tiết kiệm tự
nguyện của các tổ chức tài chính do lãi suất huy động tiết kiệm thấp dẫn đến khả năng
làm triệt tiêu nhiều nguồn tiết kiệm gây thiếu hụt vốn cho vay dẫn đến không đủ
nguồn lực cung cấp cho người nghèo. Do vậy, chính sách cho vay ưu đãi luôn đi kèm
với chính sách hạn chế tín dụng. Nếu các món ưu đãi không được phân bổ cho các

ngành, lĩnh vực ưu tiên và không có sự kiểm soát chặt chẽ sẽ gây ra lãng phí trong sử
dụng các nguồn lực. Cho vay với lãi suất ưu đãi tạo nên lượng cầu quá tải và có thể
dẫn đến hình thức phân chia khẩu phần thông qua quan hệ cá nhân giữa khách hàng và
cán bộ tín dụng. Cuối cùng, lãi suất cho vay ưu đãi quá mức cần thiết và vượt quá khả
năng của NSNN thì gánh nặng tài chính sẽ đè lên vai Nhà nước. Ngược lại, nếu cho
vay theo lãi suất thị trường thì trong thời kỳ đầu, hộ nghèo sẽ gặp nhiều khó khăn về
tài chính vì trong sân chơi của nền kinh tế thị trường, họ là người yếu thế hơn cả, do
vậy vấn đề kích thích đầu tư cho vùng nghèo, lĩnh vực cần ưu tiên sẽ không thực hiện
được.
Do vậy, đối với hộ nghèo, trong thời kỳ đầu cần phải được vay vốn theo lãi suất
ưu đãi nhưng ưu đãi ở mức độ nào thì cần phải tính toán cho hợp lý và trong tương lai
cần phải hướng họ theo lãi suất thị trường. Tuy nhiên, trước hết, vị trí của lãi suất ưu
đãi trong công thức trên cần phải được điều chỉnh lại như sau:
Lãi sất huy động vốn trên thị trường < lãi suất cho vay ưu đãi < lãi suất cho vay trên
thị trường.
Theo tính toán, lãi suất ưu đãi hiện nay chủ yếu ở mức 0,5%/tháng, nếu điều
chỉnh lên mức 0,6%/tháng, cao hơn lãi suất huy động vốn hiện nay của các NHTM,
thì với mức tăng 0,1%/tháng này và với mức dư nợ năm 2003 là khoảng 12.000 tỷ
đồng thì trong một năm, NHCSXH tăng thu được 144 tỷ đồng, NSNN sẽ giảm được

×