Tải bản đầy đủ (.docx) (19 trang)

NHƯNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ CHI NSNN CHO GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (172.62 KB, 19 trang )

NHƯNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ CHI NSNN CHO
GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
1.1. GDĐH và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế xã hội.
1.1.1. Vài nét về giáo dục và giáo dục Đại học
Giáo dục (bao hàm cả GDĐH) có liên quan trực tiếp và gián tiếp đến sự phát
triển của con người và phát triển nền kinh tế. Việc nhận thức về mặt lý luận và thực
tiễn mỗi quan hệ này là cần thiết làm cơ sở cho những lựa chọn đường lối, chính
sách nhằm phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.
Giáo dục được coi là một hiện tượng phổ biến cho mọi giai đoạn phát triển
và tồn tại vĩnh hằng cùng với xã hội loài người. Đã có rất nhiều quan điểm khác
nhau khi trình bày khái niệm về giáo dục, vì vậy có thể đưa ra một số khái niệm
chung nhất về giáo dục như sau:
- Nhà giáo dục Savin - đã định nghĩa rằng “Theo nghĩa rộng, khái
niệm giáo dục là tất cả các quá trình chuẩn bị cho thế hệ đang lớn lên bước
vào cuộc sống, bao gồm cả quá trình dạy học và đào tạo”. Theo khái niệm
này thì giáo dục được hiểu bao gồm cả giáo dục và đào tạo. Tuy nhiên nó lại
chỉ đề cập đến một mặt là: “Quá trình chuẩn bị cho thế hệ đang lớn lên”.
Trên thực tế thì giáo dục bao gồm các hoạt động nhằm nâng cao kiến thức và
kỹ năng của con người trong suốt cuộc đời chứ không phải chỉ trong thời trẻ
như khái niệm nêu trên của Savin. Có thể nói khái niệm này không đủ để
hiểu hết về giáo dục, hay nói một cách cụ thể hơn là để phân tích tính kinh tế
của giáo dục.
- Trong khi đó Gilis – một nhà giáo dục khác lại đưa ra một khái
niệm theo nghĩa rộng, giáo dục là tất cả các hoạt động học tập của con
người, hay nói một cách hẹp hơn đó là quá trình có ở trong những nơi được
chuyên môn hoá gọi là trường học”. GD là một dạng quan trọng nhất của sự
phát triển tiềm năng con người theo những khía cạnh khác nhau. Giáo dục
với khái niệm rộng gần giống với nghĩa nghiên cứu. Theo Gillis cho rằng có
3 loại nghiên cứu chính – tức là có 3 loại giáo dục:
“Giáo dục chính quy” là tất cả các quá trình giáo dục được thực hiện tại nhà
trường và thường gồm những người học còn trẻ chưa phải lao động để kiếm sống.


“ Giáo dục không chính quy” có thể được coi là những quá trình có tổ chức
được tiến hành bên ngoài các trường học. Những người tham gia là những người
lớn, các chương trình thường ngắn gọn và tập trung trong diện hẹp hơn so với giáo
dục chính quy.
“Giáo dục không chính thức” là quá trình học tập, nghiên cứu được tiến hành
bên ngoài của bất kỳ một cơ cấu tổ chức nào hay một chương trình có tổ chức nào.
Người học tự nghiên cứu ở nhà, trong khi làm việc và trong quá trình giáo tiếp với
xã hội.
Luật giáo dục Việt Nam quy định:
Phương thức giáo dục bao gồm giáo dục chính quy và giáo dục không chính
quy. Giáo dục không chính quy là giáo dục giúp mọi người vừa làm vừa học, học
liên tục, suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ
học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm và
thích nghi đời sống xã hội.
Tuy nhiên, trong thực tế sự phân biệt này chỉ là tương đối, thuận tiện cho
việc tổ chức và quản lý trên cơ sở đa dạng hóa, xã hội hoá giáo dục. Sự phân biệt
này không có nghĩa là coi trọng hình thức giáo dục chính quy hơn giáo dục không
chính quy, mà cần có sự bình đẳng trong mục tiêu chung của giáo dục.
Hệ thống giáo dục quốc dân nước ta bao gồm:
- Giáo dục mầm non.
- Giáo dục phổ thông.
- Giáo dục nghề nghiệp.
- GDĐH và sau đại học.
Như vậy GD ĐH là một bộ phận sau cùng trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Quan niệm về GDĐH được tổ chức văn hoá, giáo dục, xã hội Liên hợp quốc
(UNESCO) đề xuất từ năm 1986 và được nhiều nước thừa nhận với tên gọi là “GD
bậc 3”. Nhưng từ sau hội nghị quốc tế về GD ĐH ở Pari (pháp) năm 1998 có quan
niệm mới: GD ĐH ở thế kỷ 21 là học tập suốt đời và bao gồm tất cả các loại hình
học tập, đào tạo hay đào tạo cho người có trình độ bậc trung học được cung cấp bởi
các viện đại học hay tổ chức giáo dục đã được cấp có thẩm quyền công nhận là cơ

sở GD ĐH.
Quan niệm mới về GD ĐH có ý nghĩa quan trọng làm cơ sở cho sự phát
triển mạnh các phương thức đào tạo phi truyền thống (đào tạo từ xa, đào tạo đại
học mở) đồng thời đa dạng hoá và linh hoạt trong hoạt động GD ĐH.
Ở nước ta, Luật giáo dục đã quy định: GD ĐH đào tạo trình độ cao đẳng và
trình độ đại học.
Thứ nhất, Đào tạo trình độ Cao đẳng được thực hiện trong ba năm đối với
người có bằng tốt nghiệp phổ thông trung học hoặc tốt nghiệp trung học chuyên
nghiệp.
Thứ hai, Đào tạo trình độ đại học được thực hiện từ 4 – 6 năm học tuỳ theo
từng ngành nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông
hoặc bằng tốt nghiệp THCN, từ 1 – 2 năm đối với người có bằng tốt nghiệp cao
đẳng cùng chuyên ngành.
Theo đó, cơ sở GD ĐH bao gồm:
- Trường CĐ đào tạo trình độ cao đẳng.
- Trường ĐH đào tạo trình độ CĐ, ĐH và đào tạo trình độ Thạc
sỹ, Tiến sỹ khi được Thủ Tướng Chính Phủ giao.
1.1.2. Vai trò của giáo dục Đại học đối với sự phát triển kinh tế xã hội của
đất nước
Từ trước đến nay Đảng và Nhà nước ta đặc biệ quan tâm đến công tác giáo
dục-đào tạo và coi đó là một trong những quyết sách hàng đầu để xây dựng và phát
triển đất nước. Điều đó xuất phát từ vai trò to lớn và tầm quan trọng của giáo dục
đào tạo nói chung cũng như giáo dục đại học nói riêng.
Bốn yếu tố cơ bản để tạo nên sự phát triển của một quốc gia là: tài nguyên
thiên nhiên,khoa học cộng nghệ,vốn và lao động. Việt Nam là một nước có tài
nguyên thiên nhiên phong phú, nguồn lao động dồi dào, tuy nhiên yếu tố khoa học
công nghệ chưa phát triển, nguồn vốn đầu tư lại hạn chế. Mặt khác tuy nguồn lao
động của chúng ta dồi dào nhưng lại chủ yếu là lao động thủ công trong khi đó vẫn
thiếu lao động có trình độ cao. Đứng trước thực trạng như vậy, muốn phát triển đất
nước thì việc phát huy nhân tố con người là rất qua trọng, có thể coi là chiến lược

hàng đầu. Để thúc đẩy sự phát triển nhân tố con người thì lĩnh vực giáo dục-đào
tạo đóng vai trò quan trọng hàng đầu. Tác động của hệ thống giáo dục đào tạo bao
trùm lên tất cả các mặt của đời sỗng xã hội: chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội…Là
một bộ phận của hệ thống giáo dục-đào tạo, đào tạo đại học cũng mang đầy đủ vai
trò của GD-ĐT nói chung. Vai trò đó được nhìn nhận trên các khía cạnh sau:
 Vai trò của ĐTĐH đối với phát triển kinh tế:
GDĐH được coi như là động lực hàng đầu của sự phát triển kinh tế bởi sản
phẩm của GDĐH là những con người có năng lực tư duy hoạt động ở trình độ cao,
năng động và sáng tạo. Vì thế sản phẩm của GDĐH chính là nguồn lao động có
trình độ cao_là 1 trong 4 nhân tố quan trọng hàng đầu thúc đẩy sự phát triển kinh tế
của một quốc gia. Hơn nưa trong thời đại kinh tế tri thức với hàm lượng chất xám
đòi hỏi ngày càng cao thì vai trò này của GDĐH càng được khẳng định và nâng
cao hơn nữa.
Ngược lại, sự phát triển của kinh tế sẽ tạo ra cơ sở vật chất ngày càng dồi
dào cho xã hội, từ đó tạo điều kiện cho sự phát triển của các lĩnh vực khác. Giáo
dục cũng không thể phát triển nếu không có sự đầu tư tài lực, vật lực của nền kinh
tế. Vì vậy giữa giáo dục nói chung và GDĐH nói riêng với sự phát triển kinh tế có
mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
 Vai trò của đào tạo đại học đối với chính trị:
Nhìn lại tiến trình phát triển của xã hội loài người, chúng ta có thể thấy
rằng: từ khi xã hội có giai cấp, có nhà nước thì giáo dục đào tạo luôn là công cụ
quan trọng của Nhà Nước. Giai cấp cầm quyền luôn nắm lấy giáo dục, chi phối
giáo dục theo hướng củng cố quyền lực và bảo vệ lợi ích của mình.
Đào tạo đại học phục vụ chính trị, nhưng đào tạo đại học tồn tại tương đối
độc lập với chính trị. Giáo dục đào tạo là hiện tượng phổ biến và tương đối vĩnh
hằng. Giai cấp thống trị muốn biến giáo dục thành công cụ để củng cố địa vị của
mình nhưng xét về bản chất, giáo dục thực sự gắn với những xu hướng chính trị
tiến bộ, có xu hướng chống lại những xu hướng phản tiến bộ. Nền giáo dục của
chúng ta hiện nay là nền giáo dục được ra đời và phát triển nhờ một thể chế chính
trị cách mạng tiến bộ. Mục tiêu CNXH và độc lập dân tộc được quán triệt một cách

sâu sẳc trong toàn bộ hệ thống giáo dục Việt Nam.
 Vai trò của GDĐH đối với văn hoá :
Xét về góc độ lịch sử, văn hoá chỉ được hình thành thông qua một quá trình
sáng tạo lâu dài, xây dựng và truyền từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang
thế hệ khác. Trong quá trình này không thể thiếu vai trò của giáo dục đào tạo nói
chung và GDĐH nói riêng. Có thể nói rằng trong văn hoá có giáo dục, trong giáo
dục có văn hoá. Văn hoá theo nghĩa rộng của khái niệm bao hàm toàn bộ các giá trị
vật chất tinh thần mà loài người sáng tạo ra được giữ gìn, bảo vệ và lưu truyền từ
thế hệ này sang thế hệ khác. Như vậy văn hoá trong quá trình vận động, phát triển
của mình bao giờ cũng được xem xét ở cả khía cạnh sáng tạo và truyền lại. Chức
năng của GDĐH chính là việc truyền lại những giá trị văn hoá. Giá trị tinh thần do
con người sáng tạo ra được tập hợp lại hệ thống hoá, khái quát trở thành những tri
thức trong giáo trình bài giảng của nhà trường. Như vậy chính văn hoá đã mang
đến cho GDĐH những nội dung thiết yếu, cần thiết. Còn đào tạo đại học cũng
không phải là một quá trình thụ động mà là một quá trình sáng tạo. Sự sáng tạo
trong quá trình giáo dục làm phong phú thêm những giá trị văn hoá vốn có, làm
náy sinh những giá trị văn hoá mới. Điều quan trọng hơn nữa là GDĐH tạo ra
những con người có khả năng sáng tạo ra giá trị vật chất và tinh thần trong tương
lai. Như vậy nhờ có GDĐH mà giá trị tinh thần, giá trị vật chất được chuyển giao
và phát triển giữa các thế hệ.
 Vai trò của GDĐH đối với công nghệ :
Chức năng đặc thù của khoa học là sản sinh ra kiến thức mới còn chức năng
của giáo dục đào tạo là truyền bá kiến thức khoa học, giảng dạy và giáo dục một
cách có hệ thống cho nhứng người có năng lực học tập và vận dụng những kiến
thức khoa học vào thực tế. Trong điều kiện thực tế hiện nay của cuộc cách mạng
khoa học kỹ thuật, GDĐH chẳng những đào tạo cán bộ cho khoa học mà còn sản
sinh ra kiến thức khoa học thông qua hệ thống nghiên cứu ở các trường đại học.
Ngựơc lại, các cơ quan khoa học cũng tham gia ngày càng nhiều hơn vào việc đào
tạo cán bộ có trình độ cao, tham gia giảng dạy, xây dựng chương trình giáo khoa,
có ảnh hưởng trực tiếp đến việc cải thiện, phát triển giáo dục nói chung và GDĐH

nói riêng. Trong điều kiện hiện nay xu thế của khoa học và giáo dục kết hợp với
nhau tạo thành cái gọi là “Công nghệ kiến thức ”. Thông qua giáo dục đào tạo để
vũ trang kiến thức khoa học cho người lao động, hệ thống giáo dục quốc dân đã
làm cho khoa hoc trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.
Ở nước ta hiện nay, công cuộc CNH-HĐH đang được đẩy mạng, chúng ta
đang chú trọng đến việc đào tạo phát triển nguồn nhân lực và nhất là nhân lực có
kỹ thuật cao. Vì vậy trong chiến lược phát triển giáo dục đào tạo, không thể không
chú trọng đến việc thiết kế hệ thống đào tạo đại học chất lượng cao đáp ứng được
nhu cầu về nguồn nhân lực của mọi lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân.
Nhìn một cách tổng quát giáo dục đào tạo là chìa khóa mở đường cho sự
nghiệp CNH-HĐH. Nhận thức đựoc tầm quan trọng này của giáo dục đào tạo,
Nghị quyết TW IV khoá 7 đã đề ra “Cùng với khoa học công nghệ, giáo dục đào
tạo là quốc sách hàng đầu”; Nghị quyết TW II-Hội nghị TW khoá 8 của Đảng
Cộng Sản Việt Nam: “Mục tiêu cao nhât của giáo dục là hình thành được những
nhân cách xã hội công nghiệp,thể hiện như một nội sinh cần thiết để phục vụ CNH-
HĐH”. Hay trong Nghị quyết Đại hội VIII khẳng định : “Giáo dục đào tạo cùng
với khoa học cộng nghệ phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu,phải coi đầu tư
cho giáo dục là một trong những hướng chính của đầu tư phát triển,tạo điều kiện
cho giáo dục đi trước và phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế xã hội ”.
1.2. Sự cần thiết của chi NSNN đối với sự phát triển của sự nghiệp đào tạo
Đại học
1.2.1. Khái niệm, nội dung chi NSNN cho giáo dục Đại học
NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ
quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm
bảo thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà Nước ( Điều 1 luật NSNN )
Thu NSNN là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một
phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quĩ NSNN nhằm thoả mãn các nhu cầu
của Nhà nuớc.
Thu NSNN gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; từ các hoạt động kinh tế
của Nhà nước; thu từ bán, khoán cho thuê tài nguyên; thu từ viện trợ của các tổ

chức và cá nhân và các khoản thu khác theo luật định…

×