Tải bản đầy đủ (.docx) (33 trang)

Lý thuyết cơ bản về phân tích doanh thu và chi phí của doanh nghiệp bảo hiểm

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (222.18 KB, 33 trang )

Lý thuyết cơ bản về phân tích doanh thu và chi phí
của doanh nghiệp bảo hiểm
1. Khái quát chung về doanh nghiệp bảo hiểm
1.1. Khái niệm và phân loại doanh nghiệp bảo hiểm
a. Khái niệm doanh nghiệp bảo hiểm
Doanh nghiệp là những tổ chức kinh tế độc lập cơ bản của nền kinh tế, có
tư cách pháp nhân, hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trường vì mục đích
tối đa hóa lợi nhuận và sự phát triển của xã hội. “Doanh nghiệp bảo hiểm là
doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của luật kinh
doanh bảo hiểm và các quy định khác của pháp luật có liên quan đến kinh doanh
bảo hiểm”.
Doanh nghiệp bảo hiểm là một loại doanh nghiệp dịch vụ, hoạt động của
nó cũng nhằm mục đích sinh lời. Điểm khác nhau cơ bản giữa doanh nghiệp bảo
hiểm với các doanh nghiệp khác là ở chỗ: Doanh nghiệp bảo hiểm là doanh
nghiệp chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm; nó có trách nhiệm trả tiền
bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi
xảy ra sự kiện bảo hiểm nếu người mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm cho doanh
nghiệp. Như vậy, muốn phân biệt phải dựa vào đặc điểm hoạt động kinh doanh
của DNBH.
b. Phân loại doanh nghiệp bảo hiểm
Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế đa dạng, phong phú các hoạt động
kinh tế - xã hội. Trong nền kinh tế đó có nhiều thành phần kinh tế tham gia. Vì
vậy, các tổ chức kinh tế cũng phù hợp với thành phần kinh tế đó. Cụ thể trong
thị trường bảo hiểm thường bao gồm các hình thức tổ chức như sau:
b.1. Doanh nghiệp bảo hiểm Nhà Nước
Doanh nghiệp bảo hiểm Nhà Nước là doanh nghiệp do Nhà Nước thành
lập, đầu tư vốn và quản lý với tư cách là người chủ sở hữu. Doanh nghiệp bảo
hiểm Nhà Nước là một pháp nhân kinh tế hoạt động theo pháp luật và bình đẳng
trước pháp luật.
b.2. Công ty cổ phần bảo hiểm
Công ty cổ phần bảo hiểm là loại doanh nghiệp do các cổ đông tham gia


đóng góp vốn thông qua hình thức phát hành cổ phiếu trái phiếu và có trách
nhiệm hữu hạn. Đây là doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, cùng chia lợi nhuận,
cùng chịu lỗ tương ứng với số vốn góp.
b.3. Công ty bảo hiểm tư nhân
Công ty bảo hiểm tư nhân là công ty bảo hiểm do cá nhân làm chủ và tự
chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của công ty trước pháp luật. Công ty
được thành lập theo luật công ty.
b.4. Tổ chức bảo hiểm tương hỗ
Tổ chức bảo hiểm tương hỗ là tổ chức có tư cách pháp nhân được thành
lập để kinh doanh bảo hiểm nhằm tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành
viên. Thành viên tổ chức tương hỗ vừa là bên mua bảo hiểm. Về mặt pháp lý,
họ vừa là hội viên, vừa là những người được bảo hiểm.
b.5. Doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh
Doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh được thành lập trên cơ sở góp vốn của
các doanh nghiệp (trong nước và nước ngoài). Vị trí các bên trong doanh nghiệp
phụ thuộc vào mức vốn góp. Các thành viên trong doanh nghiệp hưởng lợi
nhuận cũng như chịu thua lỗ tương ứng mức vốn góp.
b.6. Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn nước ngoài
Đây là doanh nghiệp do nước ngoài đầu tư vốn, hoạt động tại nước sở tại,
theo pháp luật của nước sở tại, đồng thời chịu sự chỉ đạo của công ty mẹ ở chính
quốc.
b.7. Tổ chức Lloyd’s
Lúc đầu Lloyd’s là một tổ chức bảo hiểm tương hỗ của các nhà bảo hiểm
hàng hải London, được thành lập năm 1720. Theo thời gian, Lloyd’s càng phát
triển và trở nên nổi tiếng nhờ bảo hiểm những rủi ro đặc biệt.
Trong thị trường bảo hiểm còn có các doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.
Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm bao gồm nhiều doanh nghiệp thuộc các thành
phần kinh tế như:
- Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm Nhà Nước
- Công ty cổ phần môi giới bảo hiểm

- Công ty trách nhiệm hữu hạn môi giới bảo hiểm
- Công ty hợp doanh môi giới bảo hiểm
- Doanh nghiệp tư nhân môi giới bảo hiểm
- Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm liên doanh
- Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài
Các tổ chức như đại lý bảo hiểm, văn phòng đại diện của doanh nghiệp
bảo hiểm là các tổ chức phụ thuộc, không đủ tư cách để gọi là doanh nghiệp bảo
hiểm.
1.2. Nội dung và đặc điểm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo
hiểm
1.2.1. Nội dung hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm
a. Kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh tái bảo hiểm
Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của DNBH nhằm mục đích sinh lời. Ở
đây DNBH chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm trên cơ sở người mua bảo
hiểm đóng phí bảo hiểm cho người bảo hiểm (DNBH), DNBH bồi thường (hoặc
trả tiền bảo hiểm) cho những tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm cho người thụ
hưởng.
Cũng giống như bất kỳ một hoạt động kinh doanh nào, ngoài việc đáp
ứng cho các nhu cầu an toàn của con người thì lợi nhuận là mục tiêu của hoạt
động kinh doanh bảo hiểm. Bởi vậy, có một số nguyên tắc phải tuân thủ khi tiến
hành hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
 Nguyên tắc 1: “Số đông bù số ít”. Đây là nguyên tắc xuyên
suốt, không thể thiếu được trong bất kỳ nghiệp vụ bảo hiểm thương mại nào.
Theo đó hậu quả của rủi ro xảy ra đối với một hoặc một số ít người sẽ được bù
đắp bằng số tiền huy động được từ rất nhiều người có khả năng cùng gặp phải
rủi ro như vậy.
 Nguyên tắc 2: “Rủi ro có thể được bảo hiểm”. Mặc dù công ty
BH cung cấp các dịch vụ bảo hiểm cho những cá nhân và tổ chức có nhu cầu
nhưng không phải trong mọi trường hợp công ty BH đều chấp nhận các yêu cầu
bảo hiểm. Theo nguyên tắc này, rủi ro có thể được bảo hiểm phải là những rủi

ro bất ngờ, không lường trước được, nhằm tránh cho công ty BH phải bồi
thường cho những tổn thất thấy trước mà với nhiều trường hợp như vậy chắc
chắn sẽ dẫn tới phá sản. Đồng thời nó cũng giúp các công ty BH có thể tính
được các mức phí chính xác, lập nên được một quỹ BH đầy đủ để đảm bảo cho
công tác bồi thường. Không chỉ đảm bảo quyền lợi cho các công ty BH mà ngay
chính những người tham gia bảo hiểm cũng thấy công bằng hơn khi nguyên tắc
này được áp dụng.
 Nguyên tắc 3: “ Phân tán rủi ro”. Mặc dù quỹ BH là một quỹ
tài chính lớn, được lập ra bởi sự đóng góp của nhiều người theo nguyên tắc số
đông và như vậy với tư cách là người huy động và quản lý quỹ, các công ty BH
có khả năng thực hiện nhiệm vụ chi trả bảo hiểm. Nhưng trên thực tế, không
phải lúc nào công ty BH cũng luôn đảm bảo được khả năng này. Điều này có
thể thấy rất rõ với những quỹ BH huy động được còn chưa nhiều trong khi đó
giá trị bảo hiểm lại rất lớn hoặc với những trường hợp có rủi ro liên tiếp xảy ra
gây tổn thất lớn.
Một kinh nghiệm trong hoạt động của các DNBH là không nhận những
rủi ro quá lớn, vượt quá khả năng tài chính của công ty. Tuy nhiên để tránh
được điều tối kỵ là phải từ chối bảo hiểm đông thời vẫn đảm bảo được hoạt
động kinh doanh, các DNBH áp dụng nguyên tắc phân tán rủi ro. Có hai
phương thức phân tán rủi ro được sử dụng: Đồng bảo hiểm và Tái bảo hiểm.
Đồng bảo hiểm là nhiều nhà bảo hiểm cùng nhận bảo đảm cho một rủi ro lớn.
Còn kinh doanh tái bảo hiểm là hoạt động của DNBH chuyển một phần (hoặc
toàn bộ) rủi ro đã chấp nhận cho DNBH khác, ngược lại, nhận bảo hiểm một
phần hoặc toàn bộ rủi ro mà doanh nghiệp khác đã chấp nhận. Thông qua hoạt
động chuyển tái và nhận tái, DNBH vừa ổn định kinh doanh vừa thu lợi nhuận,
vừa phát triển mối quan hệ kinh tế với các nước.
 Nguyên tắc 4: “Trung thực tuyệt đối”. Theo nguyên tắc này đòi
hỏi DNBH phải có trách nhiệm cân nhắc các điều kiện, điều khoản để soạn thảo
hợp đồng để đảm bảo quyền lợi cho cả hai bên, từ đó góp phần tăng thêm tính
hữu hình của sản phẩm bảo hiểm – một sản phẩm dịch vụ. Chất lượng sản

phẩm bảo hiểm có đảm bảo hay không, giá cả có hợp lý hay không, quyền lợi
của người được bảo hiểm có đảm bảo đầy đủ công bằng hay không… đều chủ
yếu dựa vào sự trung thực của phía DNBH.
Ngược lại, nguyên tắc này cũng đặt ra yêu cầu đối với người tham gia bảo
hiểm, là phải trung thực trong việc khai báo rủi ro khi tham gia bảo hiểm, để
giúp DNBH xác định mức phí phù hợp với rủi ro mà họ đảm nhận. Thêm vào
đó các hành vi gian lận nhằm trục lợi bảo hiểm khi thông báo, khai báo các thiệt
hại để đòi bồi thường sẽ được sử lý theo pháp luật
 Nguyên tắc 5: “Quyền lợi có thể được bảo hiểm”. Nguyên tắc
này yêu cầu người tham gia BH phải có lợi ích tài chính bị tổn thất nếu đối
tượng được bảo hiểm gặp rủi ro. Nói cách khác, người tham gia BH phải có một
số quan hệ với đối tượng được BH và được pháp luật công nhận. Mối quan hệ
có thể biểu hiện qua quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền tài
sản, quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo
hiểm. Nguyên tắc này nhằm loại bỏ khả năng BH cho tài sản của người khác
hoặc cố tình gây thiệt hại hoặc tổn thất để thu lợi từ một đơn bảo hiểm.
Ngoài các nguyên tắc cơ bản trên, trong mỗi một loại hình bảo hiểm sẽ có
thêm các nguyên tắc khác phù hợp với đặc điểm của từng loại: nguyên tắc bồi
thường, nguyên tắc khoán...
b. Đề phòng, hạn chế rủi ro, tổn thất
DNBH không chỉ có trách nhiệm bồi thường tổn thất thuộc phạm vi bảo
hiểm do rủi ro tai nạn bất ngờ gây ra nhằm giúp người được BH ổn định kinh tế,
khôi phục sản suất và đời sống, mà còn tiến hành các biện pháp đề phòng rủi ro
và tổn thất trước khi tai nạn xảy ra.
Thông qua phân tích nguyên nhân của những rủi ro tai nạn bất ngờ,
DNBH rút ra được những biện pháp cần thiết để cùng khách hàng thực hiện
nhằm đề phòng tổn thất xảy ra.
c. Giám định tổn thất
Giám định tổn thất là nhiệm vụ, là một khâu quan trọng trong chu trình
hoạt động kinh doanh BH. Sau khi nhận được thông báo của người được bảo

hiểm về tai nạn rủi ro xảy ra, giấy yêu cầu giám định và các giấy tờ khác liên
quan, DNBH phải cử giám định viên đến hiện trường cùng các thành viên liên
quan để xác định tính chất, nguyên nhân mức độ thiệt hại… Điều quan trọng
của công tác giám định là xác định nguyên nhân rủi ro có thuộc phạm vi bảo
hiểm hay không? Tổn thất thực tế là bao nhiêu để làm căn cứ bồi thường.
d. Đại lý giám định tổn thất, xét giải quyết bồi thường, yêu cầu người thứ
ba bồi hoàn…
DNBH không chỉ phải giám định tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm của
mình mà còn có thể làm đại lý giám định tổn thất cho doanh nghiệp khác.
Căn cứ biên bản giám định, đối chiếu với hợp đồng BH, doanh nghiệp
xem xét giải quyết bồi thường theo các nguyên tắc quy định. Giải quyết bồi
thường phải nhanh chóng, kịp thời, đúng thủ tục nhằm giúp người bị hại nhanh
chóng khắc phục được hậu quả của rủi ro tai nạn bất ngờ. Nếu có sự tranh chấp
giữa người bảo hiểm và người được bảo hiểm về số tiền bảo hiểm, việc giải
quyết sẽ được chuyển cho các cơ quan có thẩm quyền theo luật định.
e. Quản lý quỹ và đầu tư vốn
Mục đích kinh doanh bảo hiểm hay tái bảo hiểm là lợi nhuận. Do đó quản
lý quỹ bảo hiểm và đầu tư vốn (tức nguồn quỹ bảo hiểm thu được do người
tham gia đóng phí) là hết sức quan trọng. Quản lý quỹ tức quản lý thu chi đúng
chế độ. Thu phải thu đúng, thu đủ, triệt để khai thác các nguồn thu, chi đúng chế
độ kịp thời, tiết kiệm nhất là chi bồi thường, chi quản lý… Nguồn quỹ thu được
chưa chi đến phải đem đầu tư sinh lời. Là hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp
bảo hiểm tìm thị trường đầu tư vừa sinh lời cao, vừa đảm bảo không mất vốn.
Trên đây là năm nội dung hoạt động quan trọng, chủ yếu của DNBH.
Ngoài ra doanh nghiệp có thể tham gia vào các hoạt động khác mà pháp luật
cho phép.
Thông thường, các DNBH hoặc kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, hoặc kinh
doanh bảo hiểm phi nhân thọ chứ không cùng một lúc kinh doanh cả hai loại
hình bảo hiểm. Bởi vì, hai loại hình bảo hiểm đó có đặc trưng khác nhau, cần
tập trung trí tuệ chuyên sâu để đạt hiệu quả cao. Luật kinh doanh bảo hiểm Việt

Nam cũng không cho phép một doanh nghiệp kinh doanh cả hai loại hình bảo
hiểm.
1.2.2. Đặc điểm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm
Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của DNBH vì mục đích lợi nhuận. Vì
vậy mọi hoạt động đều mang đặc trưng kinh doanh, lấy lợi nhuận làm mục tiêu
phấn đấu. Chiến lược kinh doanh của DNBH đều đặt mục tiêu lợi nhuận lên
hàng đầu. Để đạt mục tiêu đó hoạt động kinh doanh bảo hiểm phải tính đến
những đặc điểm sau:
a) Đối tượng kinh doanh đa dạng
Bảo hiểm thương mại có đối tượng bảo hiểm là tài sản, trách nhiệm dân
sự và con người.
Mỗi đối tượng BH bao gồm rất nhiều nghiệp vụ cụ thể. Mỗi nghiệp vụ là
một hoạt động kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp bán sản phẩm bảo hiểm
ra thị trường và thu về phí bảo hiểm (giá bảo hiểm). Phí đó được tính toán trên
cơ sở khoa học đảm bảo thu bù chi, làm nghĩa vụ đối với Nhà nước và có lãi
cho doanh nghiệp. Với đối tượng bảo hiểm đa dạng như vậy, quy luật số lớn
trong kinh doanh bảo hiểm càng phát huy tác dụng; do đó mục đích lợi nhuận sẽ
đạt được.
b) Hoạt động kinh doanh bảo hiểm có vốn pháp định lớn
Ngoài nguồn vốn của DNBH bao gồm vốn điều lệ, phí bảo hiểm thu
được, lãi đầu tư,… Trong đó, vốn điều lệ phải đảm bảo như mức vốn pháp định
do pháp luật quy định. Vốn pháp định lớn là do đặc thù của kinh doanh bảo
hiểm – kinh doanh rủi ro. Để nhằm bảo vệ quyền lợi cho người tham gia bảo
hiểm khi DNBH làm ăn không hiệu quả, không có đủ tiền để trả cho khách
hàng, Nhà Nước sẽ lấy từ vốn điều lệ của doanh nghiệp để giải quyết cho họ.
c) Hoạt động kinh doanh bảo hiểm luôn luôn phải có dự phòng nghiệp vụ
bảo hiểm.
Do kinh doanh bảo hiểm có sự tích lũy rủi ro nên tất cả các khoản tiền
được trích ra từ phí bảo hiểm phục vụ cho mục đích bồi thường hay chi trả bảo
hiểm thực hiện các cam kết trong hợp đồng bảo hiểm chính là các quỹ dự phòng

nghiệp vụ. Dự phòng nghiệp vụ là khoản dự trữ liên quan đến từng nghiệp vụ
bảo hiểm, được trích lập và hạch toán vào chi phí kinh doanh nhằm mục đích
thanh toán các trách nhiệm đã được xác định trước và phát sinh từ hợp đồng bảo
hiểm đã được ký kết. Việc thành lập các quỹ dự phòng nghiệp vụ không chỉ là
yêu cầu có tính chất kỹ thuật bảo hiểm, mà còn là sự bắt buộc mang tính pháp lý
đối với DNBH. Sự bắt buộc này góp phần bảo vệ quyền lợi của người tham gia
bảo hiểm, nâng cao ý thức trách nhiệm của DNBH, đồng thời tạo điều kiện để
tập trung nguồn vốn để đầu tư.
d) Hoạt động kinh doanh bảo hiểm luôn luôn gắn kết với hoạt động đầu tư.
Hoạt động đầu tư có vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh bảo
hiểm, nó góp phần phát triển quỹ tài chính, tạo điều kiện mở rộng quy mô
doanh nghiệp, tăng quỹ phúc lợi đồng thời tăng thu nhập cho người lao động và
góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.
Nguồn vốn đầu tư phát triển gồm có: vốn điều lệ, quỹ dự trữ bắt buộc và
tự nguyện, các khoản lãi của những năm trước chưa sử dụng, vốn nhàn rỗi từ dự
phòng nghiệp vụ bảo hiểm.
e) Các doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động kinh doanh phải tuân thủ quy
định của luật kinh doanh bảo hiểm, các quy định khác của pháp luật có liên
quan và các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia.
2. Doanh thu và chi phí của doanh nghiệp bảo hiểm
2.1. Doanh thu của doanh nghiệp bảo hiểm
2.1.1. Khái niệm
DNBH trong khuôn khổ những quy định pháp lý được phép thực hiện
nhiều hoạt động khác nhau: kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh tái bảo hiểm, đại
lý giám định xét giải quyết bồi thường, đầu tư vốn…
Như vậy, phạm vi hoạt động kinh doanh của DNBH không chỉ bó hẹp
trong khuôn khổ của hoạt động kinh doanh bảo hiểm mà nó có thể được xếp
thành ba loại:
- Hoạt động kinh doanh bảo hiểm
- Hoạt động đầu tư tài chính

- Hoạt động khác
Theo đó, doanh thu bảo hiểm của DNBH là: doanh thu từ hoạt động bán
sản phẩm bảo hiểm và cung cấp dịch vụ, tiền lãi từ hoạt động đầu tư và các
khoản thu nhập khác ngoài các hoạt động bán sản phẩm bảo hiểm và đầu tư.
2.1.2. Doanh thu hoạt động kinh doanh bảo hiểm
Đây là nguồn thu cơ bản và đóng vai trò quyết định đối với hoạt động của
DNBH. Doanh thu hoạt động kinh doanh bảo hiểm được tính bằng số tiền phải
thu sau khi đã trừ đi các khoản chi để giảm thu phát sinh trong kỳ từ các hoạt
động kinh doanh bảo hiểm. Doanh thu kinh doanh bảo hiểm bao gồm các khoản
thu sau đây:
 Tiền thu phí bảo hiểm gốc: là toàn bộ phí BH thu từ các hoạt động BH đã
ký kết trong kỳ.
 Tiền thu nhận tái bảo hiểm: là toàn bộ tiền phí nhận tái bảo hiểm thu từ
các hợp đồng tái bảo hiểm trong kỳ.
 Tiền thu nhượng tái bảo hiểm: là toàn bộ các khoản tiền thu về hoa hồng
nhượng tái bảo hiểm và khoản thu khác từ hoạt động tái bảo hiểm trong kỳ.
 Ngoài ra, khi doanh nghiệp đứng ra làm đại lý cho các DNBH khác trong
việc giám định tổn thất, xét giải quyết bồi thường, yêu cầu người thứ ba bồi
hoàn, xử lý hàng bồi thường 100%, số tiền phải thu từ các hoạt động này cũng
được tính vào doanh thu phát sinh trong kỳ của DNBH.
Cũng như các loại hình kinh doanh khác, DNBH có thể gặp phải trường
hợp hàng bán bị trả lại, hoặc DNBH áp dụng chính sách giảm giá hàng bán. Đây
được coi là các khoản chi làm giảm thu phát sinh trong kỳ, là các khoản thu phát
sinh trong kỳ nhưng phải trả lại, bao gồm:
 Hoàn phí bảo hiểm: khi hoạt động bảo hiểm bị giải ước, khách hàng có
thể được hoàn lại một phần phí bảo hiểm đã đóng với mức hoàn lại đã được quy
định trước trong hợp đồng.
 Giảm phí bảo hiểm đối với những khách hàng lớn, hoặc khách hàng ít
bị tổn thất nhằm cạnh tranh lôi kéo và giữ khách hàng.
Tương tự như vậy, đối với hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm cũng có

hoàn phí và giảm phí nhận tái bảo hiểm, hoàn và giảm hoa hồng nhượng tái bảo
hiểm.
Kinh doanh bảo hiểm phải dựa trên nguyên tắc số lớn và phân tán rủi
ro. Vì vậy để bảo vệ chính mình, các DNBH thực hiện tái bảo hiểm. Khi đó,
DNBH phải chuyển một phần phí bảo hiểm đã thu từ hoạt động bảo hiểm gốc
cho công ty nhận tái bảo hiểm gọi là phí nhượng tái bảo hiểm. Phí nhượng tái
bảo hiểm cũng được coi là một khoản chi làm giảm thu phát sinh trong kỳ
(không phải là chi phí).
2.1.3. Doanh thu hoạt động tài chính
DNBH không chỉ có nhiệm vụ quản lý thu chi quỹ tài chính bảo hiểm, mà
còn phải phát triển quỹ tài chính này. Do các DNBH luôn có trong tay một
lượng tiền nhàn rỗi tương đối lớn phải đem đầu tư cho nên nguồn thu từ hoạt
động tài chính là rất đáng kể. Đối với nhiều DNBH thì gần như toàn bộ chi phí
hoạt động và lợi nhuận là từ nguồn thu này. Các khoản thu từ hoạt động tài
chính bao gồm:
Thu từ lãi đầu tư chứng khoán, cho vay thế chấp, đầu tư bất động sản, góp
vốn liên doanh hoặc gửi tiết kiệm tại các tổ chức tín dụng.
 Thu lãi trên số tiền ký quỹ. Để đảm bảo quyền lợi người tham gia bảo
hiểm trong trường hợp công ty bảo hiểm bị phá sản Nhà Nước yêu cầu các
doanh nghiệp phải sử dụng một phần vốn điều lệ của mình để ký quỹ tại một
ngân hàng và DNBH được hưởng lãi trên số tiền ký quỹ đó.
 Hoàn nhập số dư dự phòng giảm giá chứng khoán. Do DNBH thường
đầu tư tiền nhàn rỗi vào chứng khoán với giá trị đầu tư lớn, để tránh sự mất giá
của chứng khoán dẫn đến giảm giá trị khoản đầu tư, ảnh hưởng đến khả năng
thanh toán bảo hiểm, các DNBH phải lập dự phòng giảm giá chứng khoán. Và
trong trường hợp không cần sử dụng đến hoặc sử dụng không hết thì sẽ được
hoàn nhập vào doanh thu.
 Cổ tức được chia, lãi được chia từ vốn góp liên doanh liên kết. Đây là
khoản thu nhập không chịu thuế thu nhập doanh nghiệp, nên khi nhận được các
khoản thu này DNBH không phải tính vào doanh thu hoạt động tài chính để tính

thuế thu nhập trong kỳ.
 Thu nhập khác là các khoản thu về cho thuê bất động sản, thuê văn
phòng, tiền gửi ngân hàng không kỳ hạn, chênh lệch ngoại tệ và các khoản thu
nhập khác.
2.1.4. Thu từ các hoạt động khác
Thu nhập khác trong DNBH là các khoản thu từ những hoạt động xảy ra
không thường xuyên ngoài các hoạt động kinh doanh bảo hiểm và hoạt động tài
chính, bao gồm: Thu về thanh lý tài sản cố định, nhượng bán tài sản cố định;
Thu về tiền phạt khách hàng do vi phạm hợp đồng; Tiền bảo hiểm được bồi
thường; Thu được các khoản nợ phải thu đã xóa sổ tính vào chi phí của kỳ
trước; Khoản nợ phải trả nay mất chủ được tính tăng thu nhập; Thu về các
khoản thuế được ghi giảm, được hoàn lại.
2.2. Chi phí của doanh nghiệp bảo hiểm
2.2.1. Khái niệm
Với đặc thù của kinh doanh bảo hiểm một ngành dịch vụ kinh doanh rủi
ro thì chi phí của DNBH được định nghĩa là toàn bộ số tiền doanh nghiệp phải
chi, phải trích trong kỳ (thường là một năm) bao gồm: chí phí hoạt động kinh
doanh bảo hiểm, chi phí hoạt động tài chính và chi phí cho các hoạt động khác.
2.2.2. Chi phí hoạt động kinh doanh bảo hiểm
Chi phí kinh doanh bảo hiểm là toàn bộ các khoản chi tiền, khoản trích
nảy sinh trong quy trình hoạt động kinh doanh các nghiệp vụ bảo hiểm và tái
bảo hiểm của DNBH trong kỳ. Chi phí hoạt động kinh doanh bảo hiểm là khoản
chi cơ bản của doanh nghiệp bảo hiểm, bao gồm:
a. Chi phí trực tiếp kinh doanh bảo hiểm
Chi phí trực tiếp kinh doanh bảo hiểm là các khoản chi bằng tiền và các
khoản trích để trực tiếp thực hiện sản xuất dịch vụ bảo hiểm, tái bảo hiểm trong
kỳ kinh doanh của DNBH.
Theo mục đích và công dụng của chi phí, chi phí trực tiếp kinh doanh bảo
hiểm bao gồm:
 Chi bồi thường: là khoản tiền mà DNBH trả trực tiếp theo cam kết

trên hợp đồng bảo hiểm cho khách hàng khi xảy ra rủi ro thuộc phạm vi trách
nhiệm của các hợp đồng bảo hiểm gốc và tái bảo hiểm. Đây là khoản chi phí
luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất và quan trọng nhất trong tổng chi. Chi bồi thường
bao gồm:
 Chi bồi thường bảo hiểm gốc: là những khoản tiền mà DNBH chi
trả trực tiếp cho người được bảo hiểm, người thụ hưởng bảo hiểm khi xảy ra
những sự kiện bảo hiểm thuộc phạm vi trách nhiệm của các hợp đồng bảo hiểm
gốc.
 Chi bồi thường nhận tái bảo hiểm: là khoản chi mà DNBH phải trả
cho công ty nhượng tái bảo hiểm theo hợp đồng tái bảo hiểm khi xảy ra tổn thất
rơi vào trách nhiệm nhận tái bảo hiểm.
 Chi hoa hồng: là khoản chi mà DNBH trả cho các trung gian bảo hiểm
hoặc công ty nhượng tái bảo hiểm khi nhận được các dịch vụ bảo hiểm, tái bảo
hiểm. Chi hoa hồng bao gồm:
 Chi hoa hồng bảo hiểm gốc: là khoản tiền DNBH trả cho các đại
lý, môi giới hoặc cộng tác viên khi các trung gian này mang lại các hợp đồng
bảo hiểm cho DNBH. Hoa hồng bảo hiểm gốc phụ thuộc vào tổng phí bảo hiểm
và tỷ lệ hoa hồng được ấn định bởi các quy định pháp luật hoặc của DNBH.
 Hoa hồng nhận tái bảo hiểm: là khoản tiền DNBH trả cho công ty
nhượng tái bảo hiểm khi công ty này chuyển nhượng dịch vụ cho doanh nghiệp.
Hoa hồng nhận tái bảo hiểm được xác định trên cơ sở phí nhận tái và tỷ lệ hoa
hồng được thỏa thuận giữa DNBH và công ty nhượng tái bảo hiểm.
Do hoạt động kinh doanh bảo hiểm có “sự đảo ngược chu kỳ kinh
doanh” nên trong cơ cấu chi phí của DNBH có một khoản chi đặc thù đó là chi
trích lập quỹ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm.
 Chi trích lập dự phòng nghiệp vụ: là khoản chi theo quy định của chế độ
pháp lý tài chính, DNBH phải trích vào cuối niên độ nhằm để đảm bảo thanh
toán cho người được bảo hiểm về những rủi ro và tổn thất trong tương lai. Mặc
dù tiền này vẫn nằm trong tay DNBH nhưng không thuộc về doanh nghiệp, đây
là khoản nợ DNBH sẽ phải trả trong tương lai.

Trong kinh doanh các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ, các khoản chi
dự phòng nghiệp vụ chủ yếu gồm: Dự phòng phí bảo hiểm, Dự phòng bồi
thường, Dự phòng dao động lớn. Còn trong các nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ
các khoản dự phòng kỹ thuật chủ yếu mà doanh nghiệp phải trích là: Dự phòng
toán học, Dự phòng phí bảo hiểm chưa được hưởng, Dự phòng đảm bảo cân
đối, Dự phòng cam kết chia lãi.
 Chi giám định tổn thất: là khoản tiền DNBH phải chi ra để thực hiện việc
giám định các tổn thất thuộc trách nhiệm bảo hiểm.
 Chi đánh giá rủi ro của đối tượng bảo hiểm bảo hiểm: là các khoản chi
cho công việc thu thập thông tin, điều tra, và thẩm định về đồi tượng bảo hiểm

×